LOGO VNBET
18. PHÁP PHỤC - Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG
Y và bát là hai vật thiết yếu của người xuất gia, tượng trưng cho đời sống thiểu dục tri túc. Bài viết này nhằm mục đích giới thiệu về nguồn gốc, ý nghĩa và công dụng của pháp y, hầu giúp những ai muốn tìm hiểu pháp phục của những người  mang sứ mệnh  " hoằng pháp thị bản hoài, lợi sinh vi gia vụ" có một cái nhìn khái quát.
1. Nguyên nhân đức Phật chế 3 pháp y:
Lúc bấy giờ vào mùa đông, đức Phật từ thành Tỳ-xá-ly tuần tự du hành đến tháp Bát-già-la, rồi dừng chân tại đây. Khi đêm đến, đức Phật mặc một chiếc áo, ngủ nơi chỗ trống, tới lúc gần sáng canh hai thì Ngài cảm thấy lạnh, bèn mặc thêm một cái nữa. Thế rồi, vào lúc nửa đêm, đức Phật lại thấy lạnh, liền mặc thêm một cái nữa, thì cảm thấy dễ chịu. Do đó, Ngài suy nghĩ: " Để ngăn ngừa sự lạnh lẽo bức bách, trong tương lai các Tỳ-kheo, chỉ nên sử dụng 3 y là vừa". Rồi Phật tập hợp các Tỳ-kheo, chế định: "Kể từ nay trở đi các Tỳ-kheo chỉ sắm đủ 3 y, không nên sắm dư. Nếu y bị hư rách thì vá lại mà mặc"(54)
 _______________________
(54) Ngũ phần luật, Đại Chánh tạng, tập 22,tr. 136a.

* Trang 179 *
device

2. Nguyên nhân đức Phật chế pháp y có điều tướng:
Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng 1250 vị đại Tỳ -kheo du hành đến phương Nam. Từ trên núi nhìn xuống, thấy các thửa ruộng nước có bờ đắp xung quanh trông rất đẹp mắt, đức Phật nghĩ: "Các Tỳ-kheo của ta nên may y như những đám ruộng này". Đoạn, Phật hỏi Tôn giả A Nan:
- Ông có thấy các thửa ruộng này không?
- Bạch Thế Tôn, con đã thấy.
- Các Tỳ khoe nên mặc y như vậy, ông có thể thực hiện được không?
- Bạch Thế Tôn, con có thể làm được.
Thế rồi, A Nan tự may y, đồng thời bảo các Tỳ-kheo khác cũng may y theo hình thức có nhiều điều bức. Mỗi điều bức gồm một đoạn dài, một đoạn ngắn, hoặc hai đoạn dài, một đoạn ngắn, hoặc ba đoạn dài,  một đoạn ngắn. Lá điều bên trái thì gấp xếp về phía bên trái,lá điều bên phải thì gấp xếp về phía bên phải, lá điều chính giữa thì phủ đều qua hai bên. Thầy may xong, đem mặc, trông rất thích hợp. Đức Phật thấy thế, bảo với các Tỳ-kheo: "Ông A Nan có đại trí tuệ, chỉ nghe Ta nói sơ qua mà may y đúng như pháp. Đây gọi là y cắt rọc, không giống bất cứ loại y nào của các ngoại đạo. Những kẻ oan gia, đạo tặc sẽ không lấy loại y này làm gì. Từ nay, Ta cho phép các Tỳ-kheo cắt rọc vải may thành ba y theo hình thức như thế" (55).
3. Nguồn gốc của pháp y:
Kinh Bi Hoa nói: "Trong lúc còn tu hành,đức Như Lai (Thích Ca) đã phát nguyện trước đức Phật Bảo Tạng: Nếu
 ______________________
(55) Ngũ phần luật, Đại Chánh tạng, tập 22,tr. 138a.

* Trang 180 *
device

tôi thành Phật thì ca-sa của tôi sẽ có 5 công đức sau đây:
1- Những ai đã vào trong giáo pháp của tôi mà còn vướng phải tà kiến, nhưng 4 chúng vẫn một lòng tôn kính, thì chung cục người đó cũng được thọ ký vào Tam thừa.
2- Nếu hàng Trời, rồng, người, quỷ tôn kính một phần nhỏ ca-sa của người này thì sẽ không thối chuyển quả vị Tam thừa.
3- Nếu quỷ thần hay người nào được một miếng ca-sa, dù chỉ bằng 4 tấc, thì sẽ được ăn uống sung túc.
4- Nếu bị chúng sinh oán ghét mà nghĩ đến ca-sa thì lập tức năng lực của ca-sa sẽ làm cho họ sinh tâm bi mẫn.
5- Nếu ở giữa trận chiến mà cầm một miếng ca-sa nhỏ với tâm kính trọng thì sẽ chiến thắng quân thù.
Nếu ca-sa của tôi không có được 5 năng lực ấy, tức là tôi đã lừa dối chư Phật trong 10 phương".
4. Ý nghĩa của pháp y:
Trong chương Y bát danh nghĩa nói rằng, y của Sa môn có 3 cái tiên (thấp kém):
1- Đao tiện: Vì dùng dao cắt rọc thành từng miếng nhỏ để may ghép lại.
2- Sắc tiện: Vì không thuộc màu sắc chính.
3- Thể tiện: Vì đây là loại vải hay y phục mà người đời đã vứt bỏ. Sở dĩ phải cắt thành miếng ra may là để cho bọn trộm cướp khỏi lấy; phải nhuộm cho hoại sắc (mất màu sắc chính) là để cho khác với ngoại đạo; nhặt y người ta bỏ đem về dùng là để đỡ mất thì giờ và tốn hao sức lực.
Điều tướng của pháp y dùng số lẻ chứ không dùng số chẵn. Vì mục đích của Sa môn là nuôi lớn đức nhân từ,

* Trang 181 *
device

giống như Dịch lý dùng số dương (tức số lẻ?) tượng trưng cho sự sinh hóa của muôn vật.
Pháp y có điều bức dài ngắn, là bắt chước các bờ ruộng, tùy theo mực nước cao thấp mà đắp bờ khác nhau.
Do đó, pháp y được gọi là phước điền y, là nhằm nói lên ý nghĩa: Thửa ruộng ở thế gian chứa nước làm cho lúa sinh trưởng tốt tươi, để nuôi dưỡng sắc thân thọ mạng. Còn thửa ruộng pháp y chứa nước 4 lợi ích, làm tăng thêm ba thiện căn, để nuôi lớn pháp thân tuệ mạng. Vì thế, nghiêm trì giới luật là bản chất của Thích tử, đầu cạo, y nhuộm là biểu tượng của thiền gia.
Phật dạy: "Tỳ-kheo đi đâu cũng phải đem theo 3 y và bát như chịm đi đâu cũng mang theo đôi cánh. Thế nên, phải giữ 3 y như giữ da thịt, giữ bát như giữ đôi mắt; phải tôn kính 3 y, xem đó như ngôi tháo thờ Phật".
Bởi lẽ, tiêu xí của Phật có 2 thứ là pháp phục (y hoại sắc) và bát "(ứng khí). Pháp phục sở dĩ không có cổ là nhằm tiêu biểu cho phục sức giải thoát. bát sở dĩ không có đế là để biểu thị cho sự tế độ khôn lường. Ai thọ trì hai vật này thì trên đồng với chư Phật, dưới tế độ quần sinh, khiến cho người nào trông thấy đều biết đó là hình ảnh của bậc xuất thế. (56)
Luật Tát-bà-đa nói: "Vì muốn biểu thị diệu pháp chưa từng có nên chế ra ba y. Vả lại, 96 phái ngoại đạo đều không có hình thức của ba y này, cho nên chế ra như thế để khác với ngoại đạo".
 _____________________
(56) Y bát danh nghĩa chương, Sa môn Thích Doãn Kham thuật, Tục Tạng kinh, tập 105, tr.474.

* Trang 182 *
device

Chương Phục nghi nói: "Nói tóm lại, ba y không gì khác hơn là "Thuyền bè đưa qua khỏi biển khổ, thềm thang bắt sang bờ sinh tử". (Tiệt khổ hải chị chu hàng, di sinh nhai chi thê đăng).
Kinh Giới đàn nói: "Ba y nhằm đoạn trừ ba độc:
1- Ngũ điều hạ y dùng để đoanh trừ cái thân tham luyến.
2- Thất điều trung y dùng để đoạn trừ cái miệng giận dữ.
3- Đại y thượng y dùng để đoạn trừ cái tâm si mê" (57).
Ngoài ra, mặc loại pháp y này còn được bốn sự lợi ích sau đây:
1- Tư thân vi đạo: Hỗ trợ cho cái thân (nhờ ẩm thực) để dễ tu hành.
2- Dưỡng thân trung trùng: Để các tế bào trong cơ thể được yên ổn.
3- Sinh thí giả phúc: Tạo phước lành cho người bố thí.
4- Phá ngạ ngoại đạo: Phá bỏ cái lối nhịn đói (cực đoan) của ngoại đạo. (58)
5. Tên gọi của pháp y:
Tên gọi chung của pháp y là "Civara", được phiên âm là Chi-phược-la, hay còn gọi là ca-sa (Kasaya), tức chỉ cho loại y phục hoại sắc (phá hủy màu sắc chính); nhưng tên gọi phổ biến nhất là Phấn tảo (Pamsu-kula), nghĩa là y phục rách hay vải vụn mà người ta đem vứt nơi đống rác rồi Tỳ-kheo đi nhặt về giặt sạch, may thành y để mặc.
 ______________________
(57) Sa-môn Nguyên Chiếu soạn, Phật Chế tỳ-kheo lục vật đồ, Tục tạng kinh, tập 105, tr.485.
(58) Phật Quang Đại từ điển, tr.1694b.

* Trang 183 *
device

Tất nhiên, đó là tính chất của y phát xuất từ lúc ban đầu, nhưng dần dần về sau, Phật cho phép Tỳ-kheo được nhận y phục do thí chủ cúng dường, hoặc họ cúng dường tiền rồi Tỳ kheo nhờ Phật tử thân tín đi may sắm giúp, như luật Ngũ phần đã đề cập.
Thế nhưng căn cứ theo đồ hình 6 vật dụng của Ty-kheo do Phật chế định thì pháp y của Tỳ-kheo gồm có 10 tên gọi sau:
1. Ca-sa (Kasaya): Loại y phục hoại sắc, không thuộc màu sắc chính. Không may y với sắc chính là để khác với y phục của thế tục, khiến cho lòng tham không sinh khởi.
2. Đạo phục: Y phục của người tu hành.
3. Xuất thế phục: Y phục xuất ly thế tục.
4. Pháp y: Y phục đúng chánh pháp.
5. Ly trần phục: Y phục xa lìa lục trần.
6. Tiêu sấu phục: Mặc loại y phục này có công đức làm tiêu tan phiền não.
7. Liên hoa phục: Lìa nhiễm trước, được thanh tinh như hoa sen.
8. Gian sắc phục: Dùng màu sắc trung gian không chính để tránh 5 sắc chính.
9. Từ bi phục: Y phục của người hành đạo từ bi.
10. Phước điền y: Y phục mang ý nghĩa như đám ruộng chứa phước đức.(59)
 __________________
(59) Sa-môn Nguyên Chiếu soạn, Phật Chế tỳ-kheo lục vật đồ, Tục tạng kinh, tập 105, tr.487.

* Trang 184 *
device

Đồng thời trong luật Ngũ phần có đoạn Tôn giả Ưu-ba-li (Upali) hỏi Phật về những loại y phục mà Tỳ-kheo cần dùng thì Phật dạy: "Này Ưu-ba-li, ngoài ba pháp y chính còn có những loại vải vóc khác mà Tỳ-kheo cần sử dụng như sau:
1- Áo lót;
2- Tấm ra đắp;
3- Khăn tắm mưa;
4- Áo che ghẻ;
5- Mùng ngăn mũi;
6- Thảm trải chỗ đi kinh hành;
7- Tấm vải dùng ngăn rệp;
8- Tấm chùi chân;
9- Tấm đệm để ngồi;
10- Vải dùng bó đầu gối;
11- Vải dùng bó bàn chân;
12- Khăn trùm đầu.
Ngoài ra còn có các loại khăn lau mình, lau tay, lau mặt, và đãy đựng kim chỉ, đựng bát, đựng giày dép, túi lọc nước. Đó là những loại liên quan đến vải vóc mà Tỳ-kheo cần dùng". (60)
6- Màu sắc, kích thước và chất liệu của pháp y:
a) Màu sắc:
Trong giới Ba-dật-đề thứ 60 của Tỳ-kheo thuộc luật Tứ phần, Phật quy định: Khi Tỳ -kheo có y mới thì phải
 _______________________
(60) Ngũ phần luật, Đại Chánh tạng, tập 22, tr.138a

* Trang 185 *
device

dùng ba màu xanh, đen và mộc lan (nước vỏ cây mộc lan) nhuộm cho hoại sắc, hoặc dùng một trong ba màu ấy nhuộm rồi mới mặc.
Màu xanh, tức là màu đồng xanh hay màu lam. Màu đen, tức là màu đen bùn hay màu đà đậm. Và màu mộc lan, tức là màu đỏ nhiều đen ít hay màu vàng sậm. Mặc các màu này là để tránh 5 màu chính như luật Ngũ phần đã trình bày. Một hôm, có một Tỳ-kheo đến bạch với Đức Phật: "Xin Thế Tôn cho phép chúng con mặc y thuần màu xanh, vàng, đỏ, trắng hoặc đen". Phật liền dạy? "Y màu thuần đen là y của sản phụ mặc. Nếu ai mặc y màu thuần đen thì phạm tội Thâu-lan-giá, còn mặc bốn màu kia thì phạm tội Đột-cát-la (61)
b) Kích thước:
Về kích thước của y, trong giới Ba-dật-đề thứ 90 thuộc luật Tứ phần, đức Phật dạy: "Nếu Tỳ-kheo may y thì phải may bằng cỡ y của Phật. Nếu may quá cỡ ấy thì phậm tội Ba-dạ-đề. Ở đây, cỡ y của Phật là dài bằng 9 gang tay của Ngài, rộng bằng 6 gang tay. Đó là cỡ y của Phật". Nhưng ở một chỗ khác thì quy định cụ thể về kích thước của ba y, đó là:
Y An-đà-hội dài 4 khuỷu tay, rộng 2 khuỷu tay (dài 7 thước 2, rộng 3 thước 6);
Y Uất-đa-la-tăng và y Tăng-già-lê dài 5 khuỷu tay, rộng 3 khuỷu tay (dài 9 thước, rộng 5 thước 4). (62)
  _______________________
(61) Ngũ phần luật, Đại Chính tạng, tập 22, tr.138b.
 (62) Phật chế Tỳ-kheo lục vật đồ, Sa môn Nguyên Chiếu soạn, Tục tạng kinh, tập 105, tr.489.

* Trang 186 *
device

Thước được nói ở đây tức là loại thước ngày xưa của Trung Quốc
c) Chất liệu:
Khi Phật an trú tại thành Vương Xá thì được Kỳ Vức (Jivaka) cung thỉnh Ngài cùng chư Tăng về nhà thọ trai, rồi ông cúng dường cho đức Thế Tôn một chiếc y quý giá nhất trong tất cả mọi chiếc y. Đồng thời Kỳ Vức cũng xin Phật cho phép các Tỳ-kheo được nhận y do thí chủ cúng dường, và Phật đã chấp thuận. Tuy nhiên, Ngài nhấn mạnh rằng những ai ít muốn, biết đủ, mặc y phấn tảo vẫn đáng được khen ngợi hơn. Ngoài ra, y phấn tảo được kể đến bao gồm 10 loại sau đây:
1-Loại y phục cũ khi nhà vua lên ngôi thay y phục mới, đem vất bỏ;
2- Loại y phục tại bãi tha ma;
3- Loại y phục người ta dùng phủ trên ngôi mộ;
4- Loại y phục tại nơi đường hẻm;
5- Loại y phục khi cô dâu về nhà chồng bỏ lại;
6- Tấm vải trải giường trong đêm tân hôn (hiển tiết tháo y);
7- Loại y phục mà người đàn bà sau khi sinh con, đem vứt;
8- Loại y phục do bò nhá;
9- Loại y phục do chuột cắn;
10- Loại y phục bị cháy sém. (63)
Đó là nói về xuất xứ của y vào lúc Phật mới bắt đầu thành lập Tăng đoàn. Nhưng về sau, pháp y của Tăng chúng chủ yếu là do thí chủ phát tâm cúng dường bằng
 _______________________
(63) Ngũ phần luật, Đại Chính tạng, tập 22, tr.143

* Trang 187 *
device

những sản phẩm thông thường mà họ có sẵn. Nói chung, những sản phẩm ấy miễn là không quá xa hoa hay quá thô kệch, phù hợp với nếp sống thanh bần lạc đạo của người tu sĩ, và không bị người đời đàm tiếu là được.
Tuy nhiên, về chất liệu làm y, luật Ngũ phần kể lại một trường hợp như sau: Có những Tỳ-kheo muốn dùng y bằng tóc, bằng da nai, da dê, lông chim, lông ngựa, lông đuôi bò, hoặc bằng cỏ, vỏ cây, lá cây v.v..., đến thưa với Phật, bị Phật khiển trách: "Các ông là những kẻ ngu si, muốn làm theo nề nếp của ngoại đạo. Tất cả những thứ mà ngoại đạo dùng đều không được sử dụng. Nếu ai sử dụng thì phạm tội Thâu-lan-giá. (64)
Tất nhiên, ngày nay khác xưa rất nhiều, mọi quy định đều có thể uyển chuyển áp dụng, miễn làm sao sống đúng nguyên tắc "tam thường bất túc" và thuận tiện cho đời sống giải thoát là tốt.
7- Phân tích về 3 pháp y:
Như chúng ta đã biết, Phật quy định Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni được sử dụng 3 y là: An-đà-hội, Uất-đa-la-tăng và Tăng-già-lê.
a) An-đà-hội là dịch âm tiếng  Pàli Antarvasaka và được dịch nghĩa là Trung tước y hay Hạ y, vì nó là chiếc y mặc ở bên trong, và là chiếc y thấp kém nhất trong ba chiếc y. Ngoài ra, còn gọi là Tạp tác y, nghĩa là y mặc để làm các việc thông thường hàng ngày tại tu viện; nhưng khi họp chúng hay đi ra ngoài thì không được mặc. Chiếc y này gồm có 5 điều về chiều ngang. Trong mỗi điều có
 _______________________
(64) Ngũ phần luật, Đại Chính tạng, tập 22, tr.138

* Trang 188 *
device

hai khoảng: một dài, một ngắn. Khoảng dài gấp đôi khoảng ngắn. Về kích thước thì chiều dài 7 thước 2, chiều rộng 3 thước 6, như trước đã đề cập
Khi mặc y này đọc bài kệ:
                  "Thiện tai giải thoát phục,
                  Vô thượng phước điền y.
                  Ngã kim đảnh đới thọ,
                  Thế thế bất xả ly"
                  (Lành thay áo giải thoát,
                  Áo ruộng phước tối thượng,
                  Nay tôi kính tiếp nhận,
                  Đời đời không rời bỏ). (65)
b) Uất-đa-la-tăng (Uattarasanga) được dịch nghĩa là Trung giá y, tức giá trị của nó ở giữa hai y Thượng và Hạ. Căn cứ vào công dụng thì gọi là Nhập chúng y hay Chúng hội thời y, nghĩa là y mặc trong lúc họp chúng, thọ trai, nghe giảng, lễ bái, tụng kinh, tọa thiền, v.v... Y này gồm 7 điều về chiều ngang. Trong mỗi điều gồm 2 khoảng dài, một khoảng ngắn. Khoảng dài bằng 2 khoảng ngắn. Về kích thước thì chiều dài 9 thước, chiều rộng 5 thước 4 tấc (theo thước cổ của Trung Quốc).
Khi đắp y đọc bài kệ:
                  "Thiện tai giải thoát phục,
                  Vô thượng phước điền y.
                  Ngã kim đảnh đới thọ,
                  Thế thế thường đắc phi".
 _______________________
(65) Sa di và Sa di ni giới, HT. Trí Quang dịch, tập 2, xb.1994, tr.257.

* Trang 189 *
device

                  (Lành thay áo giải thoát,
                  Áo ruộng phước tối thượng,
                  Nay tôi kính tiếp nhận,
                  Đời đời thường khoác mặc). (66)
c) Tăng-già-lê (Sanghàti), Trung Quốc gọi là Tạp toái y, nghĩa là chiếc y có nhiều điều tướng, hay Đại y, nghĩa là chiếc y lớn nhất. Y này mặc lúc đi vào vương cung, vào làng khất thực, thăng tòa thuyết pháp, hàng phục ngoại đạo. Về kích thước, y này giống như y Uất-đa-la-tăng; nhưng về điều tướng thì gồm 9 bậc, được chia thành 3 cấp: hạ, trung và thượng. Trong mỗi cấp gồm 3 bậc như sau:
- Bậc hạ: 9 điều, 11 điều và 13 điều. Trong mỗi điều của 3 bậc này đều gồm 2 khoảng dài, một khoảng ngắn (giống như y Uất-đa-la-tăng).
- Bậc trung: 15 điều, 17 điều và 19 điều. Trong mỗi điều của 3 bậc này đều gồm 3 khoảng dài, một khoảng ngắn.
- Bậc thượng: 21 điều, 23 điều và 25 điều. Trong mỗi điều của 3 bậc này đều gồm 4 khoảng dài, một khoảng ngắn.
Như vậy, y Tăng-già-lê này ít nhất là 9 điều, nhiều nhất là 25 điều, dùng để tượng trưng cho phước điền của 25 cõi. Vả lại, tăng khoảng dài mà không tăng khoảng ngắn là nhằm nói lên ý nghĩa thánh tăng mà phàm giảm. Cho nên người mặc pháp phục này có sứ mạng làm lợi ích cho các loài hữu tình trong 25 cõi. Khi mặc pháp y này, đọc bài kệ:
 _______________________
(66) Sa di và Sa di ni giới, HT. Trí Quang dịch, tập 2, xb.1994, tr.258.

* Trang 190 *
device

                 "Thiện tai giải thoát phục,
                  Vô thượng phước điền y.
                  Phụng trì Như Lai mạng,
                  Quảng độ chư chúng sinh".
                  (Lành thay áo giải thoát,
                  Áo ruộng phước tối thượng,
                  Phụng hành lệnh Như Lai,
                  Hóa độ mọi chúng sinh). (67)
Trên đây trình bày về 3 pháp y chính của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Ngoài ra "Tỳ-kheo còn có hai thứ y phụ nữa" là:
1- Nê-hoàn-tăng, từ dịch âm của chữ Phạn Nivasana, có nghĩa là quần.
2- Tăng-kỳ-chi, từ dịch âm của chữ Phạn Samkaksika, có nghĩa là áo lót.
Tỳ kheo ni cũng có 2 loại y phụ:
1- Quyết-tu-la, từ dịch âm của chữ Phạn Kusala, tức cái váy của phụ nữ.
2- Tăng-kỳ-chi, ý nghĩa như trên, nhưng ở đây nhằm chỉ cho cái yếm hay cái nịt vú của phụ nữ.
Đó là các thứ y phục của những người đã thọ đại giới. Còn pháp phục của Sa-di và Sa-di-ni thì gọi là Man y (patta) hay Man điều, tức tấm vải nguyên không có điều tướng.
Khi khoác man y, đọc bài kệ:
                  "Đại tai giải thoát phục,
                  Vô tướng phước điền y.
 _______________________
(67) Sa di và Sa di ni giới, HT. Trí Quang dịch, tập 2, xb.1994, tr.258.

* Trang 191 *
device

                  Phi phụng như giới hạnh,
                  Quảng độ chư chúng sinh".
                  (Lớn thay áo giải thoát,
                  Áo ruộng phước vô tướng,
                  Kính mặc đúng giới hạnh,
                  Hóa độ mọi chúng sinh).
Đến đây, có lẽ chúng ta đã hiểu thế nào là ý nghĩa, xuất xứ, công dụng v.v... của pháp phục mà Tăng chúng thường sử dụng. Tuy nhiên, nếu ai muốn hiểu biết rộng hơn thì có thể xem thêm mục Y-kiền-độ (mục nói về y) trong các bộ luật Ngũ phần, Tứ phần, Thập tụng thuộc Đại Chính tạng, tập 22 và 23, cũng như các giới nói về y thuộc các bộ quảng luật Ma-ha-tăng-kỳ, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ cùng nằm trong 2 tập kể trên.

* Trang 192 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật