LOGO VNBET
19. THÁP - Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG
Tiếng Phạn Sthùpa, tiếng Pàli Thùpa, dịch âm là Tốt-đổ ba, Tô-thâu-bà; lược dịch là Tháp-bà, Phật-đồ; dịch ý là chỗ cao ráo, nơi hội tụ công đức, ngôi mộ lớn, lăng mộ, linh miếu v.v...
Ban đầu, Sthùpa dùng để chỉ cho những chỗ được kiến tạo để thờ Xá-lợi của Phật, nhưng về sau nó được dùng lẫn lộn với Chi-đề (Cetiya:điện thờ).
Ma-ha-tăng-kỳ Luật, quyển 33 và Pháp Hoa Nghĩa Sớ, quyển 11, quy định rõ: Phàm nơi nào có Xá-lợi của Phật thì gọi là Chi-đề. Căn cứ vào đây thì 8 ngôi tháp tôn trí Xá-lợi của Phật tại Câu-thi-na, Ma-Kiệt đà v.v... ,mới đích thực là Thùpa (tháp). Ngoài ra, các ngôi tháp nơi Phật đản sinh tại thành Ca-tì-la-vệ, ngôi tháp chỗ Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ-đề, ngôi tháp chỗ Phật chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển, ngôi tháp chỗ Phật hiện thần thông tại tỉnh Kỳ Viên, ngôi tháp có 3 cấp báu bên thành khúc Nữ, ngôi tháp chỗ để kinh Đại-thừa trong núi Kỳ-xà-quật, ngôi tháp tại rừng Am-la-vệ, nơi Duy Ma Cật thị hiện bệnh, ngôi tháp chỗ Phật Niết-bàn trong rừng Sa-la, (8 linh tháp lớn này) đều thuộc về Chi-đề.

* Trang 193 *
device

Nguyên ủy về việc tạo tháp bắt đầu từ thời đức Phật. Thập Tụng Luật, quyển 56 chép: Trưởng giả Tu Đạt từng xin tóc và móng tay của Phật về xây tháp để cúng dường. Ngoài ra, Ma-ha-tăng-kỳ luật, quyển 33 chép: Vua Ba-tư-nặc noi gương Phật, kiến tọa tháp Phật Ca-diếp để lễ bái, cúng dường hằng ngày.
Sau khi Phật nhập diệt, Bà-la-môn Hương Tánh chia xá lợi của Phật cho 8 nước; rồi các vị quốc vương rước xá lợi ấy về nước xây tháp cúng dường. Đó là lịch sử xây dựng đầu tiên sau khi Phập Niết-bàn.
Ngoài ra, theo A-dục Vương truyện, quyển 1 và Thiện kiến Luật Tì-bà-sa, quyển 1, đều chép rằng: khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua A-dục trị vì nước Ma-kiệt-đà đã xây dựng 84.000 ngôi bảo tháp trong vương quốc của mình.
I. MỘT SỐ NGÔI THÁP TIÊU BIỂU TẠI NHỮNG NƯỚC PHẬT GIÁO:
Nếu căn cứ vào ý nghĩa rộng rãi của tháp mà nói thì các nơi trên thế giới đã từng kiến tạo tháp rất nhiều. Chúng ta có thể kể đến một số ngôi tiêu biểu tại những nước theo Phật giáo như sau:
1. Ấn Độ:
Tại ba-hách-đặc (Bharhut) có một ngôi tháp di tích, thân tháp đã hủy hoại hết, nhưng còn nền tháp và những tảng đá. Thời gian xây tháp nầy khoảng 200 năm trước tây lịch.
- Ngôi tháp tại Bồ-đề đạo tràng, kiến tạo khoảng 100 năm trước Tây lịch.

* Trang 194 *
device

- Tháp thờ tại động A-chiên-đa (Ajanta) và tại hang Na-tây-khắc (Nasik)
- Vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska), nước Kiền-đà-la, thuộc Bắc Ấn Độ, xây một ngôi tháp cao 32m dưới núi Tuyết Sơn, khoảng thế kht thứ nhất Tây lịch. Đồng thời nhà vua cũng xây dựng một ngôi tháp khác, gồm 13 tầng, cao hơn 220m, mà theo sách Lạc Dương Già Lam ký, quyển 5, thì đây là ngôi tháp đặc sắc nhất trong những ngôi tháp tịa Tây Vức.
2. Tích Lan (Sri Lanka):
Vua thiên Ái Đế-tu (Devànampiya Tissa) đã kiến tạo một số ngôi tháp tại Tháp Viên (Thùpàràma). Đó là những ngôi tháp xuất hiện sớm nhất trên đảo Tích Lan. Ngoài ra, trên núi Vô Úy (Abhayagiri) có một ngôi tháp cao 120m, kiến tạo vào thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch. Đây là một trong những ngôi tháp cổ rất nổi tiếng tại Tích Lan.
3. Miến Điện (Myanmar):
Nước này có tháp Phật Đoan-đức-cung (Shwedagon) tại Ngưỡng Quang (Rangoon) cao 118m; tháp Tu-mã-đổ (Shwemaudau) tại Tí-cổ (Pegu) cao 102m. Toàn bộ mặt ngoài của tháp đều được thếp vàng và có 10 ngôi tháp nhỏ ở xung quanh.
4. Thái Lan:
Tại cố đô Du-địa-á (Ayuthia) còn lưu lại không ít những ngôi tháp Phật cổ xưa. Ngoài ra, tại Băng Cốc (Bangkok) còn có tháp Phỉ-lạp-thác-mỗ-ma-yết-đề (Phra-Thomma-Chedi) cao 125m, và ngôi tháp Thanh Tự (WatChing) đều là những ngôi tháp nổi tiếng thế giới.

* Trang 195 *
device

5. Lào:
Nước Lào có tháp Duy-ân-thường (Chom-Vien Chang), tháp Khoa-ma-nghinh Chom-Yong), đều là những ngôi tháp cổ trọng yếu hiện còn.
6. Trảo-Oa (Java):
Nơi đây có Bà-la-Phù-đồ (Buro-Budur) là một ngôi tháp quy mô, bề thế; nền tháp hình tứ giác, chính giữa là một ngôi tháp lớn đứng thẳng lên tới đỉnh, và chu vi thân tháp gồm có 72 ngôi tháp nhỏ. Trong mỗi ngôi tháp nhỏ đều đặt tượng Phật, toàn bộ kiến trúc có nhiều tầng cấp, hình dáng tương tự Kim tự tháp. Chiều dài, chiều rộng mỗi bên đều 123m, và chiều cao 42m. Đó là thánh địa Phật giáo Đại-thừa hiện còn, rất to lớn và rất trang nghiêm.
7. Ni-bạt-nhĩ (Nepal)
Xứ nầy có tháp Ô-nhã-mỗ-bố-na-đức, (Snuyambhu-nàth), tại Gia-đức-mãn-đô (Katmandu) rất lớn, hình trạng như cái bát úp, ở trên có 10 tầng tướng luân, đỉnh tháp để Thiên cái (lọng báu).
8.Tây Tạng:
Tháp ở Tây Tạng thường được gọi là Lạt-ma tháp, và đa số tháp ở đây đều có hình dáng nhỏ.
9. Trung Quốc:
Tại Trung Quốc, thời đại tạo tháp được ghi nhận sớm nhất là thời Tam Quốc. Tương truyền vào năm Xích Ô thứ 3 (240), vua Đông Ngô là Tôn Quyền sai Khương Tăng Hội cầu ngọc Xá-lợi. Khương Tăng Hội đã chí thành cầu nguyện, cảm được Xá-lợi xuất hiện. Do đó, nhà vua rất

* Trang 196 *
device

thán phục, cho xây tháp để cúng dường, gọi nơi nầy là chùa Kiến Sơ. Thế nhưng, theo Phật tổ Thống Kỷ, quyển 54, thì ngôi tháp tại chùa Bạch Mã được xây vào năm Vĩnh Bình thứ 10 (67) đời vua Hán Minh Đế mới là ngôi tháp sớm nhất của Trung Quốc. Về sau, sự tích các triều đại xây tháp vẫn còn tiếp tục. Vào năm Thái Khang thứ 2 (281) đời vua Võ Đế nhà Tây Tấn, Huệ Đạt ở huyện Mậu, tỉnh Chiết Giang nằm mơ trông thấy một bảo tháp từ dưới đất hiện lên, cao độ 45m, rộng khoảng 22m. Do thế, ông bèn xây tháp tại nơi ấy. năm Hy Bình Nguyên niên (516) đời Bắc Ngụy, Linh Thái Hậu là Hồ thị sai thợ thiện nghệ kiến trúc một ngôi tháp gỗ tại chùa Vĩnh Ninh, Lạc Dương, gồm 9 tầng, cao 320m, đứng cách xa 100 dặm vẫn có thể trông thấy. Nhưng đáng tiếc là ngày nay ngôi tháp này không còn. Vào đời nhà Tùy, vua Tùy Dạng Đế đã vì Đại sư Trí Khải mà xây một ngôi bảo tháp bằng gạch, tại chùa Quốc Thanh, núi Thiên Thai. Ngôi tháp này hình lục giác, gồm 4 tầng, cao độ 74m. Vua Đường Thái Tông cũng từng thể theo lời thỉnh cầu cảu Tam Tạng Huyền Trang mà xây một ngôi tháp gạch tại chùa Từ Ân, Tây An, cao 58m.
10. Nhật Bản:
Vào tháng 2 năm Kính Đạt Thiên Hoàng thứ 14 (585), viên quan đại thần Tô Ngã Mã Tử tạo một ngôi tháp ở phía bắc Đại Dã Khâu. Ở trên đầu chóp tháp tôn trí ngọc Xá-lợi mà ông đã thỉnh được. Đến năm Suy cổ Thiên Hoàng thứ 15 (606), Thánh Đức Thái Tử tạo một ngôi tháp 5 tầng tại chùa Pháp Long, đến nay vẫn còn. Đây là ngôi tháp gỗ cổ nhất thế giới.

* Trang 197 *
device

II. HÌNH DÁNG CỦA THÁP:
Về chủng loại của tháp rất phong phú.Nếu dùng hình dáng để phân loại thì ta có: Tháp phú bát, tháp khám, tháp trụ, tháp nhạn, tháp lộ, tháp ốc, tháp vô bích, tháp Lạt-ma, tháp nhiều tầng, tháp vuông, tháp tròn, tháp hình lục giác, tháp hình bát giác, tháp đại, tháp đa bảo, tháp du kỳ, tháp Ngũ luân, tháp hình trứng, tháp vô phùng, tháp lâu các, tháp mật diêm, tháp kim cương bảo tòa, tháp mộ.
Trong các hình thức của tháp thì hình thức tháp Phú bát (bát úp) là xưa nhất. Theo luật Ma-ha-tăng-kỳ, quyển 33, Hữu bộ Tì-nại-da tạp sự quyển 18 thì tháp Phú bát gồm có các bộ phận sau đây cấu thành: Lan can, nền tháp, thân tháp có hình bát úp, đầu bằng có trụ hình bánh xe, tướng luân và bảo bình.
Luật quy định, nếu dựng tháp thờ Phật thì phải có đầy đủ các hình thức kể trên. Nếu dựng tháp cho Độc Giác Phật thì không được an trí bảo bình. Nếu xây tháp cho vị A-la-hán thì tướng luân không được nhiều hơn 4 tầng. Nếu xây tháp cho vị chứng quả Bất Hoàn thì tướng luân không quá 3 tầng. Nếu xây tháp cho vị chứng quả Nhất Lai, thì tướng luân không quá 2 tầng. Nếu xây tháp cho vị chứng quả Dự Lưu thì tướng luân không quá 1 tầng. Nếu xây tháp cho người thiện trong hàng phàm phu thì phải xây bằng trên đầu và không được dùng hình thức tướng luân. Kinh Đại Bát Niết-bàn, quyển 41, còn ghi rõ: Vị Chuyển luân thánh vương (như vị nguyên thủ của một đại cường quốc) cũng được xây tháp, nhưng không được dùng tướng luân (tầng tháp hình lục giác hay bát giác) và chỉ xây bên ngoài khuôn viên chùa. Vì vị này tuy có phước đức lớn nhưng chưa đoạn trừ hết 3 độc tham, sân, si.

* Trang 198 *
device

Nền của tháp theo thể thức Ấn Độ thời xưa thì phần lớn làm hình tròn. Nhưng Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam... thì thường dùng tứ giác hoặc bát giác để cấu trúc.
Thân tháp càng về sau càng biến thành nhiều tầng. Vào khoảng thế kỷ thứ 3, thứ 4 có tháp 3 tầng xuất hiện, sau đó lại có 5 tầng, 7 tầng, 9 tầng, 13 tầng, 15 tầng, 17 tầng, thậm chí cho đến 37 tầng. Nhưng theo Tỳ-nai-da tạp sự, quyển 18, (Đ.24, tr.291c) qui định thì số lượng các tầng tướng luân hoặc là 1,2,3,4 cho đến 13 tầng là tối đa. Tuy vậy, trên thực tế vẫn có một số tháp nhiều tầng nổi tiếng, như tại chùa Tung Nhạc, núi Trung Sơn (Trung Quốc) có ngôi tháp gạch cao 15 tầng. Ở chùa Tiến Phúc, tại Tây An có ngôi tháp tiểu nhạn cao 15 tầng; Và chùa Hương Tích, tại Tây An có ngôi tháp gạch cao 13 tầng.
III. CHỦNG LOẠI CỦA THÁP
Nếu căn cứ vào những vật được tôn trí trong tháp mà phân loại, thì chúng ta có: Tháp Xá-lợi, tháp Tóc, tháp Móng, tháp Răng, tháp Y, tháp Bát, tháp Chân thân, tháp Tro thân, tháp Toái thân, tháp Bình, tháp Hải hội, tháp Tam giới vạn linh, tháp Nhất tự nhất thạch...
1) Tháp Xá-lợi: Tức là ngôi tháp được kiến tạo để tôn trí Xá-lợi của Phật-những chất kết tinh sau khi nhục thân đã được trà tì.
2) Tháp Tóc: Ngôi tháp lập ra để dường tóc Phật.
3) Tháp Móng: Ngôi tháp được xây dựng để cúng dường móng tay, móng chân của Phật. Hai vật này do trưởng giả Tu-đạt xin Phật đem về nhà xây tháp cúng dường.
4) Tháp Răng: Ngôi tháp để cúng dường răng của Phật.

* Trang 199 *
device

5) Tháp Chân Thân: Tháp dùng để tôn trí chân thân (nhục thân) của cao tăng.
6) Tháp Khôi Thân: Tức là ngôi tháp tàng trữ tro của bậc cao tăng sau khi đã hỏa thiêu.
7) Tháp Toái Thân: Tức ngôi tháp an trí một phần tro thân sau khi hỏa thiêu còn lại, như ngôi tháp Từ Ân ở gần đầm Nhật Nguyệt là ngôi tháp toái thân của Đại sư Huyền Trang.
8) Tháp Phổ Đồng: Còn gọi là tháp Phổ thông, tháp Hải hội; tức ngôi tháp tập trung di cốt của chúng tăng các nơi về tàng trữ vào một chỗ.
9) Tháp Tam Giới Vạn Linh: Tức ngôi tháp tập trung những di cốt của hạng người hữu duyên với Phật pháp.
10) Tháp Mễ Cốc: Ngôi tháp tàng trữ lúa thóc dùng để cầu nguyện cho ngũ cốc được mùa.
11) Tháp Nhất Tự Nhất Thạch: Cứ mỗi viên đá nhỏ khắc một chữ trong kinh Pháp Hoa, rồi chôn vào lòng đất, xây tháp lên trên để cúng dường.
Ngoài ra, kinh Quán Hư Không Tạng Bồ Tát còn cho biết trên cung trời Đao Lợi có 4 ngôi tháp tôn trí 4 di vật của đức Phật, thường gọi là 4 tháp của Đế Thích, đó là: (1) Tháp Tóc; (2) Tháp Y; (3) Tháp Bát; (4) Tháp Răng.
IV. CHẤT LIỆU DÙNG LÀM THÁP:
Phân tích về những chất liệu dùng làm tháp, ta có: Tháp gỗ, tháp gạch, tháp đá, tháp cát, tháp bùn, tháp đất, tháp sắt, tháp đồng, tháp vàng, tháp bạc, tháp thủy tinh, tháp pha lê, tháp lưu ly, tháp ngọc, tháp châu báu và tháp hương.

* Trang 200 *
device

1. Tháp gỗ: Tại Trung Quốc, hiện còn ngôi tháp gỗ xưa nhất, đó là ngôi tháp Thích-ca tại chùa Phật cung, huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây, làm năm Thanh Ninh thứ 2 (1056) triều vua Liêu Đạo Tông, hình bát giác, gồm 5 tầng, cao 115m, kiến trúc rất kiên cố. Năm Nguyên Thuận Đế, tại huyện Ứng, bị động đất 7 ngày mà ngôi tháp này vẫn đứng yên bất động. Ngoài ra còn phải kể đến ngôi tháp do vua Ca-nị-sắc-ca kiến trúc và ngôi tháp ở chùa Vĩnh Ninh, thành Lạc Dương cũng đều là tháp gỗ.
2. Tháp gạch: Hiện nay, các nước Thái Lan, Miến Điện, Lào, Việt Nam, Tây Tạng những ngôi tháp hiện còn phần lớn là tháp bằng gạch. Tại chùa Tung Nhạc, Trung Quốc có ngôi tháp gạch 12 cạnh, cao 15 tầng, nền tháp rất cao, mái che trùng điệp, tráng lệ, hùng vĩ. Đây là một ngôi tháp kiến trúc rất nghệ thuật, cực kỳ giá trị.
3. Tháp đá: Tại Ấn Độ ngày xưa thường xây tháp bằng đá, như Ngôi Sơn Hà đại tháp. Ngoài ra, trong hang đá ở Vân Cương, Trung Quốc hiện còn một số ngôi tháp bằng đá.
4. Tháp cát: Trong phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, cũng như Kinh Luật Dị Tướng, quyển 44, đều có đề cập đến cố sự "Đồng tử vun cát làm tháp".
5. Tháp đất: Trong phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa cũng có kể đến loại tháp làm bằng đất, dùng để cúng dường Phật.
6. Tháp sắt: Sách Nhập Đường cầu pháp tuần Lễ ký chép: Tháng 9 năm lân Đức thứ 2 (665), đời Đường Cao Tông, tại chùa Pháp Vân có tạo một ngôi tháp bằng sắt gồm 7 tầng, cao 1 trượng.

* Trang 201 *
device

7. Tháp đồng: Ngô Việt Vương là Tiền Hoàng Thục noi gương vua A Dục ngày xưa, khoảng năm Hiển Đức thứ 2 (955) cho đúc 84.000 cái tháp bằng đồng, cao chừng hai tấc Tây, mọi người đều ngợi khen là rất đẹp.
8. Tháp vàng: Phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa từng đề cập đến loại tháp nầy.
9. Tháp bạc: Loại tháp cũng giống như tháp vàng ở trên, tương đối cũng ít thấy. Theo sách Xuất Tam Tạng Ký tập, quyển 8, cho biết một người Bà-la-môn từng tạo một ngôi tháp bạc trong nhà, cao 3 trượng, rộng 8 thước.
10. Tháp thủy tinh: Ở Nhật Bản, tại phường Phản Bản Thực Tạng, có ngôi tháo thờ Xá-lợi bằng thủy tinh, được kiến trúc rất nghệ thuật. Đó là quốc bảo của nước Nhật.
11. Tháp pha lê, xa cừ, mã não, lưu ly: Các loại tháp nầy cũng đều thấy có đề cập đến trong phẩm Phương Tiện và phẩm Bảo Tháp của kinh Pháp Hoa.
12. Tháp ngọc: Loại tháp nầy còn lại hiện nay rất ít. Năm Khang Hy thứ 49 (1709) đời nhà Thanh, vua Thánh Tổ từng sai thợ chuyên môn dùng 3 màu thạch ngọc vàng, xanh, trắng phối hợp điêu khắc một tòa tháp ngọc 8 tầng, cao độ 3 thước Tây, nghệ thuật điêu khắc rất tinh vi. Ngôi tháp nầy được xem như một thứ quốc bảo. Trải quan thế cuộc biến thiên, bảo vật nầy lưu lạc đến nước Mỹ và hiện nay nó được tàng trữ tịa Đại học Áo Lập Cương.
13. Tháp hương: Tức dùng hương tán nhỏ hòa với nưới mà nắn thành ngôi tháp nhỏ, cao chừng 1, 2 tấc Tây trở lên, trong tháp tôn trí những bản kinh chép tay để lễ bái cũng dường, gọi là "Pháp Xá-lợi".

* Trang 202 *
device

V. MỤC ĐÍCH CỦA THÁP
 Nếu phân tích về phương diện ý nghĩa, mục đích, thì có: Tháp Kỳ phúc, tháp Báo ân, tháp Pháp thân, tháp Thọ.
1) Tháp Kỳ phúc: Các tín đồ Phật giáo xem việc tạo tháp là một công đức lớn, nên dựng tháp để cầu phúc.
2) Tháp Báo ân: vì mục đích báo đáp ân đức của Phật mà xây tháp để thờ Phật, nên gọi là tháp Báo ân.
3) Tháp Pháp thân: Vì để an trí pháp thân Xá-lợi (những bản kinh quí được chép tay) nên tạo tháp.
4) Tháp Thọ: Tức là bia, mộ của các cao tăng dự tạo lúc còn sống, giống như người đời xây sinh phần.
VI. CÁCH BÀI TRÍ THÁP:
Về cách bài trí tháp thì có các hình thức: Tháp Cô lập, tháp Đối lập, tháp Bài lập, tháp Phương lập, tháp Củng lập, tháp Phân lập v.v...
1) Tháp Cô lập: Tức ngôi tháp đứng đơn độc một mình. Hình thức này phổ biến nhất.
2) Tháp Đối lập: Như tại Trường An, ở Thiểm Tây (Trung Quốc), có 2 ngôi tháp Đại Nhạn và Tiểu Nhạn đứng đối diện nhau.
3) Tháp Bài lập: Như 3 ngôi tháp ở trong vườn chùa Gia Hòa tại tỉnh Chiết Giang, kiến tạo từ đời Đường và được tu bổ vào năm Quang Chử thứ 2 (1876).
4) Tháp Phương lập: Như tại thành Thẩm Dương ở Liễu Ninh có 4 ngôi tháp đứng ở bốn cửa thành.
5) Tháp Củng lập: Như 5 ngôi tháp của chàu Ngũ Tháp ở ngoài cửa Tây của Bắc Bình.

* Trang 203 *
device

6) Tháp Phân lập: Như 7 ngôi tháp tại Kim Cương Bảo Tháp Viện ở phía Tây Bắc Bình.
VII. CÔNG ĐỨC TẠO THÁP:
Các kinh điển cũng như các giáo huấn xưa nay đều nói rõ về công đức rất lớn của việc tạo tháp. Kinh Thí Dụ nêu ra 10 phước báo thù thắng của việc tạo tháp:
1) Không bị sinh vào những quốc độ biên địa.
2) Không bị nghèo khốn.
3) Không mang thân ngu si, tà kiến.
4) Có thể làm nguyên thủ những nước lớn.
5) Thọ mạng lâu dài.
6) Có thể được sức mạnh như lực sĩ Kim Cang Na-la-diên.
7) Được phước đức to lớn không gì sánh bằng.
8) Được nương nhờ đức từ bi của chư Phật, Bồ-tát.
9) Đầy đủ tam minh, lục thông, bát giải thoát.
10) Được vãng sinh tịnh độ của 10 phương chư Phật.
VIII. CÔNG ĐỨC NHIỄU THÁP:
Kinh Đề Vị cũng nêu lên 5 công đức của sự nhiễu tháp như sau:
1) Đời sau được sắc đẹp, đoan chính.
2) Được âm thanh trong treo, êm dịu
3) Được sinh lên cõi trời.
4) Được sinh vào nhà các vương hầu.
5) Đạt được đạo quả Niết-bàn.
Khi nhiễu tháp phải đi theo chiều phía tay phải, và phải cúi đầu nhìn xuống đất, không được dẫm đạp những

* Trang 204 *
device

côn trùng nơi tháp, không được nhìn ngó 2 bên, không được khạc nhổ trên đất tháp, không được dừng lại nói chuyện với người khác. Không những tạo tháp, nhiễu tháp mới có công đức mà sửa chữa tháp, quét tháp, lễ tháp v.v... cũng đều có công đức rất lớn.
Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu khái quát ý nghĩa, mục đích, diễn tiến hình thành ngôi tháp thờ Phật tại những quốc gia theo Phật giáo. Mặc dù sự giới thiệu nầy chưa đầy đủ, quí độc giả vẫn có thể mường tượng được hình ảnh ngôi tháp thờ Phật từ lúc bắt đầu xuất hiện cho đến ngày nay trên thế giới. Riêng tình hình tháp tại Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày trong một bài khác, để đáp ứng yêu cầu của những vị nào muốn tìm hiểu về lịch sử Phật giáo nước nhà.
 _______________________
* Theo Phật Quang Đại từ điển, tr.5421-5432, Lạc Dương Già lam ký, quyển 1; Đại Đường Tây Vức ký, quyển 2; Lương Cao Tăng truyện, quyển 1; Quảng Hoằng Minh tập, quyển 15,17; và một số tư liệu khác.

* Trang 205 *
device

* Trang 206 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật