LOGO VNBET
3. TÍNH CHẤT GIÁO DỤC CỦA GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO
Lịch sử cho chúng ta thấy có những Tôn giáo, những chủ thuyết tỏ ra sáng giá một thời , nhưng khi trải qua những thử thách khắt khe của thời gian thì liền chìm vào quên lãng. Tại sao vậy? Tại vì nó thiếu những nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn và thiếu các tu sĩ để duy trì. Phật giáo nói riêng, các Tôn giáo khác nói chung, tỏ ra đủ sức mạnh để tồn tại với thời gian là vì nó những nguyên tắc sống tương đối hoàn chỉnh và có các tu sĩ thuộc thành phần cốt cán để duy trì. Các tu sĩ thường có bổn phận giữ gìn những giới luật mang tính chất giáo dục rất đa dạng, nhằm hướng dẫn cuộc sống của mình đến chỗ hoàn thiện. Sau đây, người viết xin trình bày về tính chất giáo dục trong giới luật của đạo Phật.
1. Phát huy lòng Từ bi, cứu khổ:
Đức Từ bi, cứu khổ gần như là đặc trưng của Phật giáo. Nói đến đạo Phật, người ta nghĩ ngay đến “cửa Từ bi”, “đạo cứu khổ”, vì đó là bản chất của Phật giáo, nên kinh điển và giới luật luôn đề cập đến. Giới thứ 9 của Bồ tát nói: “Không được giận dữ kẻ khác, mà phải phát khởi

* Trang 43 *
device

từ tâm tha thứ những lỗi lầm của họ”. Giới thứ 21 lại bảo: “Không được đem sự thù  hận đề đám lại sự thù hận, không được đem sự đánh đập trả lại sự đánh đập, không mang tâm niệm trả thù những kẻ đã tán sát người thân yêu của mình. Tóm lại, tàn sát sự sống để trả thù sự sống là hành vi trái với đạo hiếu sinh của Bồ tát”. Cố nhiên, “hại nhân nhân hại”, “sát nhân thường mạng” đó là lẽ thường tình của cuộc đời, nhưng cứ “dĩ oán báo oán” thì oán oán sẽ chập chùng, vòng nhân quả “vay trả trả vay” sẽ trờ nên bất tận, khiến cho những nỗi khổ đau của kẻ khác và của chính mình sẽ không bao giờ kết thúc. Thế nên đức Phật dạy các đệ tử của Ngài phải “dĩ đức báo oán” thì mới chuyển hóa được oan gia trở thành bạn lữ. Tha thứ và cứu giúp kẻ khác là trách nhiệm của hàng đệ tử đấng Giác Ngộ, như trong giới thứ sáu Bồ tát trình bày: “Nếu có người đến cầu xin, thì người Phật tử phải tùy theo khả năng của mình mà giúp đỡ họ”, và “Khi thấy người bệnh tật, người Phật tử phải cứu giúp họ như phụng sự chư Phật”.
Giúp đỡ người cùng khốn, cứu chữa kẻ bệnh tật là việc ai cũng làm được và đều có nghĩa vụ phải làm chứ không riêng gì đệ tử của Phật. Điều đáng nói ở đây là đức Phật xem những việc từ thiện đó như là biểu lộ sự quan tâm và phụng sự chính Ngài. Lời khuyên dạy này nói lên tấm lòng nhân ái bao la của Đức Sư, chính vì thế mà nhân loại tôn xưng Ngài là đấng Từ Bi và đạo của Ngài là đạo Cứu Khổ.
Đức Từ bi của Phật không những nhằm cho con người mà còn phổ cập đến cả muôn loài qua giới “Không sát sinh” (giới thứ nhất của người tại gia). Nhưng muốn giữ

* Trang 44 *
device

trọn vẹn giới không sát sinh, người thọ giới Bồ tát còn phải giữ giới “Không ăn thịt” (giới 20 của Bồ tát); không ăn thịt thì thể hiện trọn vẹn lòng từ bi của đức Phật và của hành đệ tử Phật đối với muôn loại sinh linh.
2. Thực hiện nếp sống tri túc, kiệm ước:
Muốn giúp đỡ kẻ khác hữu hiệu, đúng ý nghĩa thì chính bản thân mình phải sống bằng một nếp sống kỷ cương và tri túc. Do đó, các vị Tăng sĩ phải tuân thủ những giới điều như: “Chỉ may sắm ba y, dùng một bình bát, một tọa cụ v.v… Ngoài ra, nếu có thí chủ cúng dường thêm thì phải đem bố thí cho kẻ khác. Vị Tỳ-kheo phải dùng ngọa cụ đủ 6 năm mới được thay cái mới, phải dùng bình bát cho đến khi vỡ mới được sắm cái khác. Không được thu góp, cất chứa vàng bạc, châu báu làm của riêng mình (ngoại trừ trương hợp giữ gìn cho tập thể). Thầy Tỳ-kheo không được nằm gường cao, nệm êm, không được trang sức hoa mỹ”. Tất cả đều nói lên tinh thần ít muốn, biết đủ, sống giản dị nhằm đoạn trừ lòng tham, dốc tâm tu học hầu đạt đến an lạc thật sự. Người xuất gia còn phải giữ giới “Không ăn phi thời (ăn không đúng giờ), không ăn nhiều bữa, không chuộng thức ngon v.v…” Tóm lại, người xuất gia còn phải tuân thủ phương châm “Tam thường bất túc”, nghĩa là 3 sự ăn, mặc và ngủ không được quá thừa thãi, sung túc. Bởi vì, nếu sự hưởng thụ vật chất quá sung mãn thì dễ làm cho tinh thần người ta trở nên nhu nhược, chậm lụt. Nói như thế không có nghĩa là đạo Phật chủ trương trở về cuộc sống lạc hậu. Phật giáo không bao giờ phủ nhận những giá trị của các phương tiện văn minh vật chất, vì cuộc sống con người cần phải được ăn ngon, mặc đẹp,

* Trang 45 *
device

hưởng thụ những nhu cầu thiết. Tuy nhiên, cai gì thái quá cũng điều không hay. Phật giáo không chủ trương con người phải sống nghèo đói, thiếu thốn, mà chỉ cổ vũ tinh thần tri túc, tiết kiệm, vừa mức trung bình. Có như vậy mới không bị sự sung mãn cám dỗ, và nhờ thế mới có thì giờ và điều kiện quan tâm giúp đỡ, chia sẽ mọi nỗi thống khổ của những người thiếu may mắn.
3. Thanh liêm công chính, tôn trọng tài sản kẻ khác:
Đức thanh liêm công chính là đức tính cần thiết tạo nên niềm tin cậy và kính trọng lẫn nhau trong mối tương giao giữa cá nhân và xã hội.
Luật dạy, thầy Tỳ kheo muốn cử tội (phê bình)kẻ khác phải hội đủ 5 điều kiện sau đây thì lời cử tội mới có giá trị:
a. Nói đúng lúc, không bạ đâu nói đó.
b. Nói chân thật, không nói vô ích.
c. Nói có lợi ích, không nói vô ích.
d. Nói nhã nhặn, không nói thô lỗ.
e. Nói với từ tâm, không nói với ác tâm.
Điều này phù hợp truyền thống đạo đức mà ông cha ta đã dạy: “Tiên xử kỷ, hậu lai xử bỉ, xét lỗi người phải biết lỗi mình”. Nghĩa là chính bản thân mình phải công tâm, chân chính thì tác dụng xây dựng mới đem lại kết quả, bằng ngược lại nếu “Thân mình không độ được, thì làm sao độ thân người khác. Bệnh mình không chữa được, thì làm sao chữa được bệnh tha nhân” (Thử  thân bất độ, hà thân độ. Tự bệnh bất năng cứu, hà cứu bệnh nhân). Thiết tưởng đức công chính không chỉ có giới tu sĩ Phật giáo mới cần đến mà mọi người ai cũng phải có,

* Trang 46 *
device

nhất là những người cầm quyền chính và luật pháp lại càng cần nó hơn ai hết.
Người có lòng công chính tất nhiên sẽ tôn trọng tài sản của người khác. Thế nên, giới thứ 30 trong thiên Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề của Tỳ-kheo viết: “Không được biển thủ tài sản của chúng Tăng”, và giới 16, 17 Ba-dật-đề viết: “Không được chiếm đoạt chỗ ở hay vật sở hữu của người khác”. Những điều này dạy cho người đệ tử Phật từ bỏ lòng tham, sống theo lương tâm, liêm khiết, biết quý trọng vật sở hữu của tha thân và tôn trọng tài sản của cộng đồng xã hội. Có như vậy mới tạo nên cuộc sống ổn định và tin cẫy lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, đoàn thể và xã hội. Do đó, giới thứ 17 của Bồ tát còn nhấn mạnh: “Nếu là Phật tử là vì danh lợi thúc đẩy, thân cận với kẻ quyền quý, rồi ỷ thế sách nhiễu, chiếm đoạt tài sản của người, đó là hành vi tán ác, phạm tội khinh cấu”. Điều này, không chỉ có người Phật tử thọ giới Bồ tát mới giữ gìn mà thiết tưởng bất cứ ai, muốn sống đúng với truyền thống đạo đức của tổ tiên, sống theo lương tâm và lẽ công bằng chánh trực đều phải cố gắng tuân thủ. Bởi lẽ, nếu dựa dẫm vào những kẻ có thế lực, hay lạm dụng quyền hành để chiếm đoạt tài sản của kẻ khác, hoặc biển thủ công quỹ thì đó là hành vi tội ác, trái với đạo lý, chắc chắn sẽ gánh lấy quả báo đau khổ ngay trong hiện tại hoặc trong tương lai. Vì của cải của người ta là núm ruột của họ, ai mất của mà không đau xót, tiếc rẻ. Nhưng dù cho của chung, công quỹ đi nữa thì cũng do mồ hôi nước mắt của tất cả những người dân lương thiện tạo thành, chứ đâu có phải những thứ từ trên trời rơi xuống. Thế nên, những người càng có

* Trang 47 *
device

chức, có quyền,có trách nhiệm lại càng phải sống hết sức thanh liêm và công chính. Lẽ ra giới này phải dành cho hạng người có quyền cao chức trọng, có trách nhiệm quản lý tài sản của tập thể và của quốc gia mới đúng. Vì chính những hạng người này mới dễ bị tiền tài cám dỗ, kích động lòng tham đâm ra  làm nhiều điều phi pháp. Bằng chứng cụ thể là hằng ngày chúng ta nghe những tiếng kêu than, những lời lên án của giới báo chí và của những người dân lương thiện về tình trạng tham nhũng xảy ra tràn lan. Quả thực hiện nay không có bất cứ một giới điều nào khác mang đầy đủ tính thiết thực và tính thời đại cho bằng giới điều này. Phải chăng, đây là một trong những cống hiến rất có ý nghĩa của giới luật đạo Phật trên phương tiện giáo dục con người về đức tính thanh liêm?
4. Kính nhường bậc trưởng thượng, tôn trọng danh dự kẻ khác:
Đức hiếu thuận, kính cẩn là đức tính cao quý của con người, cho nên giới thứ 35 của Bồ tát nói: “Phải phát khởi tâm niệm hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng”. Ngoài ra, đã là một đệ tử Bồ tát thì không được “khen mình, chê người” như giới thứ 7 của Bồ tát đề cập. Hơn thế nữa, giới này còn nói: “Việc xấu thì tự nhận về cho mình, việc tốt thì dành cho kẻ khác. Nếu làm trái lại, tự kheo cái hay của mình, giấu cái tốt của người, làm cho họ phải chịu mọi sự phỉ báng thì đó là tội Ba-la-di của Bồ tát”. Thiết nghĩ, hành động như vậy thật là cực kỳ cao thượng, mà có lẽ chỉ có hạng đại vĩ mới thực hiện được.
Nhằm xây dựng cuộc sống tập thể lý tường, thân ái,

* Trang 48 *
device

hài hòa, giới Tăng tàn thứ 8, thứ 9 của Tỳ-kheo nói: “Không được vu khống kẻ khác, không được giả tạo chứng cứ để vu oan giá họa cho người, cũng không được chụp mũ những người mà mình không thích”. Thế còn giới Ba-dật-đề thứ 23 thì bảo: “Không được chế nhạo bạn đồng phạm hạnh”, và giới Ba-dập-đề thứ 55 còn thêm: “Không được khủng bố, dạo nạt các bạn đồng tu”. Nếu như trong một tập thể ai nấy đều tu thủ nghiêm chỉnh những điều giáo huấn trên đây thì sẽ không bao giờ xảy ra những chuyện xích mích. Do đó, sẽ đảm bảo được đời sống thanh tịnh an lạc chính mình và mọi người. Tiến xa hơn nữa, nhằm mục đích mở rộng phạm vi giao lưu từ cá nhân đến đoàn thể xã hội và quốc gia, giới Bồ tát thứ 13 nói:
“Không được vô cớ hủy báng những người hiền lương, đức hạnh, những vị pháp sư, quí nhân và quốc vương”. Với những nội dung như trên, quả thực giới luật bao hàm ý nghĩa rất là hoàn hảo. Nếu như tập thể nào, xã hội nào quốc gia nào cũng khuyết khích mọi người áp dụng giới luật của Phật (chứ không riêng gì Phật tử), thì thử hỏi xã hội sẽ tốt đẹp biết chừng nào! Vì đó là những nguyên tắc sống rất thân bản, rất đời thường và rất dễ thực hiện, ai cũng có thể vận dụng để hoàn thiện phẩm giá của chính mình và góp phần tạo dựng một cộng đồng nhân loại hòa bình an lạc.
Tóm lại, qua những gì đã trình bày trên đây, chúng ta thấy giới luật của đức Phật dạy con người phát huy lòng từ bi, cứu khổ; thực hiện nếp sống tri túc, kiệm ước; giữ gìn đức thanh liêm công chính, tôn trọng tài sản kẻ khác; kính nhường bậc trường thượng, tôn trọng danh dự kẻ khác…

* Trang 49 *
device

Thiết nghĩ, đây là những nguyên tắc giáo dục rất lý tưởng không riêng gì cho đệ tử của Phật mà là cho tất cả mọi hạng người, không riêng gì cho thời đại Đức Phật mà là cho tất cả mọi thời đại, nhất là trong thời đại văn minh tiến bộ ngày nay.

* Trang 50 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật