LOGO VNBET
06. LỊCH SỬ KẾT TẬP PHÁP TẠNG LẦN SÁU
Đại hội kết tập Pháp tạng lần này được tổ chức tại Miến Điện, cách lần kết tập Pháp tạng thứ 5 đúng 83 năm. Phật giáo Miến Điện vốn được Chính phủ tán trợ, đã long trọng cử hành đại hội kết tập Tam tạng lần thứ 6 vào dịp đại lễ Phật Đản, nhằm ngày 17 tháng 5 (Visakha Day) năm 1954. Mục đích lần kết tập này là nhằm đoàn kết Phật giáo đồ, chấn hưng Phật giáo Thượng tọa bộ, và đề cao địa vị độc lập, chấn hưng Phật giáo Thượng tọa bộ, và đề cao địa vị độc lập của nước Miến Điện. Địa điểm kết tập đặt tại phía Bắc Ngưỡng Quang, trên đồi núi Nghệ Cố; cách tổ chức rập khuôn theo lần kết tập lần thứ nhất tại hang Thất Diệp, nước Ấn Độ. Lần kết tập này dùng những bản văn đã khắc trên 729 khối đá của lần kết tập thứ 5 làm căn cứ, và thu thập rộng rãi các bản văn Tích Lan, Thái Lam, Cao Miên, Hiệp hội Pàli Thánh điển ở Luân Đôn và những bản văn Pàli tại Miến Điện, rồi đem ra khảo đính một cách kỹ lưỡng. Sau khi kết tập hoàn thành, Giáo hội bèn đem in để lưu truyền. Lần kết tập này có mời các Tỳ-kheo thuộc những nước Phật giáo Nam truyền tham dự, đồng thời các Tỳ-kheo của những nước Phật giáo Bắc truyền cũng được

* Trang 281 *
device

mời đến dự khán. Thời gian kết tập trải qua hơn 2 năm, đến Phật Đản 1956 (Phật lịch 2500) mới hoàn thành (PQĐTĐ, tr.5189).
Tóm Tắt:
1. Lý do kết tập: Nhằm đoàn kết Phật giáo đồ và chấn hưng Phật giáo Thượng tọa bộ.
2. Thời gian kết tập: Bắt đầu ngày 17 tháng 5, dịp lễ Phật Đản năm 1954, trải qua 2 năm, đến Phật Đản 1956 (PL.2500) mới hoàn thành.
3. Địa điểm kết tập: Tại phía Bắc Ngưỡng Quang, trên đồi núi Nghệ Cố.
4. Người khởi xướng cuộc kết tập: Giáo hội Phật giáo Miến Điện
5. Người bảo trợ cuộc kết tập: Chính phủ Miến Điện
6. Thành quả của cuộc kết tập: Tham khảo tất cả kinh điển của các nước Phật giáo Nam truyền, rồi đúc kết và đem xuất bản để truyền bá.
NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT VỀ CÁC CUỘC KẾT TẬP:
 Đến đây, chúng ta đã thấy một cách khái quát lịch trình kết tập Pháp tạng từ khi Phật Niết-bàn cho đến ngày nay. Hai lần kết tập thứ nhất và thứ hai, đều được các hệ phái Phật giáo công nhận giá trị lịch sử của nó. Lần kết tập thứ ba gồm có 3 thuyết đề cập đến, trong đó có đôi chỗ bất đồng. Nhưng thuyết được Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang ghi lại trong Đại Đường Tây Vức Ký là tương đối có giá trị nhất về mặt lịch sử. Lần kết tập thứ nhất, hai, ba và tư, đều xảy ra tại Ấn Độ. Riêng lần thứ tư, ngoài Ấn Độ, tại Tích

* Trang 282 *
device

Lan cũng có một đại hội kết tập pháp tạng được tổ chức cùng thời gian tương tự. Sau lần kết tập này, lần thứ năm và thứ sáu được diễn ra tại Miến Điện, chỉ là công việc kết tập Tam tạng của Phật giáo Thượng tọa bộ; và từ đó đến nay (1997), chưa có lần kết tập Pháp tạng nào khác nữa.
Hai lần kết tập thứ nhất và thứ hai được thực hiện bằng hình thức khẩu tụng và khẩu truyền, chứ chưa ghi chép thành văn bản. Mặc dù cũng có người cho rằng đã có dùng văn tự, nhưng ý kiến này không được các học giả công nhận.
Luật tạng: Được hình thành ngay từ lần kết tập đầu tiên, do Ưu Ba Ly tụng xuất, được gọi là Bát Thập Tụng Luật (và được truyền nhau bằng đọc thuộc lòng). Từ đó trở đi, hầu hết các bộ phái Phật giáo đều lấy bộ luật này làm căn cứ, rồi bổ sung và chú giải rộng rải thêm. Do đó mà về phương diện Giới luật, sự sai khác giữa các bộ phái tương đối ít.
Kinh tạng: Chủ yếu là 4 bộ Nikàya, tương đương với 4 bộ A hàm – cũng được hình thành từ lần kết tập đầu tiên, do A Nan tụng xuất; Còn Tiểu bộ kinh Nikàya thì được hình thành dần dần sau đó. Theo quan điểm của các học giả, những gì được gọi là kinh thường hội đủ 3 yếu tố:
1. Phù hợp với chân lý (pháp tánh)’
2. Phù hợp với đạo đức (hay giới luật);
3. Có giá trị thực tiễn.
Luật thì chỉ có Phật chế định, nhưng không thì có 5 hạng người nói ra, đó là:
1. Do chính miệng Phật nói ra;

* Trang 283 *
device

2. Do đệ tử Phật nói;
3. Do các vị thần tiên nói;
4. Do chư Thiên nói;
5. Do hóa nhân nói;(76)
Luận tạng: Chính thức được hình thành từ đại hội kết tập lần thứ 3 trở đi, do yêu cầu phản bát những chỉ trích và xuyên tạc của ngoại đạo, đồng thời cũng nhằm làm sáng tỏ giá trị của giáo điển mà thành lập. Hơn nữa, cũng chính từ lần kết tập thứ ba này, Tạm tạng giáo điển mới bắt đầu chính thức ghi chép thành văn bản. Theo pháp sư Ẩn Thuận, tôn giáo cổ đại cũng như các nền triết học khác, từ lúc khai sáng đến lúc hoàn thành, về phương diện văn cú, đều từ đơn giản đến phong phú; về phương diện nghĩa lý, đều từ chỗ mù mờ đến chỗ sáng tỏ, từ chỗ sơ lược đến chỗ tinh vi, từ chỗ rời rạc đến chỗ có hệ thống. Thánh điển Phật giáo cũng không ra ngoài công lệ đó, nghĩa là sự tụng đọc, kết tập ban đầu rất đơn giản, ngắn gọn, rồi dần dần trở nên phong phú và hoàn chỉnh (77). Thế nên, 7 bộ luận như của Phật giáo Nam truyền không phải được soạn ra cùng một lúc, mà ít nhất cũng phải được soạn ra cùng một lúc, mà ít nhất cũng trãi qua thời gian từ 200 đến 300 năm mới hoàn tất.
Các nhà Phật học cho rằng thánh điển Phật giáo bao gồm mấy loại sau đây :
1/ Thánh điển Pàli :
     Thánh điển này thuộc các nước Phật giáo Nam Phương như Tích Lan, Miễn Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào. Cơ
_________
(76) Ấn thuận; Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành, Đài Bắc, XB 1988, tr. 6, tr. 21.
(77)Sđd

* Trang 284 *
device

sở của văn pàli là tiếng Paisàci và có pha trộn ít nhiều tiếng Ma Kiệt Đà (Magadha). Cách cấu trúc của văn  pàli được chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm gồm 5 âm tiết, văn phạm rất chặt chẽ, đọc lên nghe có nhạc điệu, khiến cho người học dễ ghi nhớ và dễ thuộc lòng; nên dù không phải là ngôn ngữ chính của Phật, vẫn được các học giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Hơn nữa, Thánh điển này được bảo tồn tại Tích Lan và các nước Phật giáo Nam phương khác, ít bị nạn binh lửa chiến tranh tàn phá, chưa trải qua sự phiên dịch, nên khi nghiên cứu, các học giả có cảm giác rất gần với Phật giáo Nguyên thủy. Đó là ưu thế của loại Thánh điển này.
Chúng ta còn biết rằng Tam tạng giáo điển sau khi truyền vào Tích Lan, trải qua hơn 150 năm, đến đời vua Phạt-đa-già-ma-ni trị vì, ông mới ra lệnh viết thành văn tự lần đầu tiên, khoảng 20 năm trước Tây lich. (78) Thế rồi, mãi đến năm 189 Tây lịch, vua Tích Lan là Tấn La, nhân kỷ niệm lần thứ 25 ngày lên ngôi của mình, nhà vua mới cho in tạng pàli Thánh điển. Đây là một bộ Đại tạng khá hoàn chỉnh, thường được gọi là Nam truyền Đại tạng kinh, nội dung thiên về Phật giáo tiểu thừa. Đại khái các bảng Hán dịch về luật tạng và kinh A Hàm, tương đương với các Kinh Luật trong Đại tạng này. (79)
2/ Thánh điển Sanskrit gồm hai loại:
    a) Nê Bá Nhĩ thánh điển: loại kinh kinh điển này không giống với kinh điển pàli, và điều thuộc về Phật giáo Đại.
__________
(78) Nhiều tác giả, Ba Lợi hệ Phật giáo sử cương, Đài Bắc XB 1987, tr. 242, tr.233
(79) Vương Văn Nhan, Phật điển hán dịch chi nghiên cứu, Đài Bắc XB 1984, tr. 3, tr. 1.

* Trang 285 *
device

thừa. Những tác phẩm này có hình thức giống như Áo Nghĩa Thư .
   b) các thánh điển Phật giáo được phát hiện tại Trung Á Tế Á: Loại thánh điển này cho đến nay  đều là những bản văn rời rạc, không đầy đủ.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể kể đến hán dich thánh điển và tạng dich thánh điển :
  - Hán dịch thánh điển : bao gồm các bản dịch gồm hán văn từ những tác phảm thuộc các bộ phái. Công việc phiên dịch bắt đầu từ năm Đinh Mão, niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10, tức năm 67 tây lịch, đến năm 730 thuộc niên hiệu Đường Khai Nguyên thứ 18, gồm tất cả 664 năm, số người phiên dịch là 176 người, kể cả chư Tăng và cư sĩ. Tất nhiên, sau đó công việc phiên dịch còn tiếp tục đến thế kỷ 13. Những bản Hán dịch về Phật điển gồm đủ các bộ phái, mặc dù chưa hoàn chỉnh, nhưng đây là một kho báu trong lĩnh vực văn hóa Trung Quốc, khiến Trung Quốc thành một trung tâm Phật giáo vĩ đại nhất, ngoại trừ Ấn độ. ( 80 )
  - Tạng dịch thánh điển : thánh điển này chủ yếu được dịch từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 11.
 Đây là loại văn hiến được nhiều học giả Phật giáo trọng thị và để tâm nghiên cứu.
 Còn các kinh điển mà Phật giáo Nhật bản và Triều Tiên sử dụng chẳng qua chỉ là những bản Hán dịch đặt biệt, chứ không phải là bản dịch bằng tiếng nước mình; ngoại trừ gần đây, Nhật bản đã dịch đầy đủ bộ nam truyền đại tạng kinh từ tiêng pàli sang tiếng Nhật. (81)
________
(80) Vương Văn Nhan, Phật điển hán dịch chi nghiên cứu, Đài Bắc XB 1984, tr.3, tr.1
(81) Phật Quang Đại Từ Điển, Đài Bắc XB 1989, tr. 1588.

* Trang 286 *
device

     Tóm lại, thông thường chúng ta chỉ biết có ba tạng là : Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận thế nhưng có thuyết còn đề cập đến năm tạng, đó là : 1. Tạng Kinh; 2.Tạng Luật; 3.Tạng Luận; 4.Tạp Tạng; 5. Cấm chú tạng (hay Bồ-Tát tạng). Thậm chí trong “Bồ-Tát xử thay kinh, Phẩm xuất kinh” còn liệt kê ra đến 8 tạng là : 1.Thai hóa tạng; 2.Trung ấm tạng; 3. Ma Ha Diễn Phương Đẳng Tạng; 4. giới luật tạng; 5. Thập trụ Bồ tát tạng; 6. Tạp tạng; 7.Kim cương tạng; 8.Phật tạng. (82)
     Tất nhiên, thuyết này ít ai công nhận.
      Ngoài các đại hội kết tập pháp tạng mà chúng ta đã tìm hiểu, Đại Trí Độ Luận quyển 100 và Kim Cương Tiên Luận quyển 1 còn cho biết: Cùng lúc Ca Diếp kết tập 3 tạng tiểu thừa tại núi Kỳ Xà Quật, thì có Văn thù, Di Lặc… cùng với A Nan kết tập kinh điển Đại Thừa tại núi Thiết Vi. Cuộc kết tập này được gọi là Kết tập Kinh điển Đại thừa. Nhưng thuyết này có lẽ lá truyền thuyết phát sinh sau khi Phật giáo Đại thừa đã hưng khởi. (83)
     Trong loạt bài vừa qua, chúng tôi đã giới thiệu khái quát lịch sử kết tập pháp tạng và diễn tiến hình thành Tam tạng giáo điển qua các thời kỳ từ lúc khẩu truyền cho đến khi viết thành văn bản. Những bài kế tiếp, chúng tôi sẽ trình bày sơ lược nội dung của hai tạng giáo Nam truyền và Bắc truyền, để quý độc giả có cái nhìn tổng quát về Tam tạng Thánh Giáo của đạo Phật.
_______________
(82) Phật Quang Đại Từ Điển, Đài Bắc XB 1989, tr.1588
(83) Sđd

* Trang 287 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật