LOGO VNBET
6. THẾ NÀO LÀ PHÁ HÒA HỢP TĂNG?
Bản chất của Tăng là thanh tịnh và hòa hợp, nên khi Tăng không còn hòa hợp, chia thành nhóm riêng, sinh hoạt và làm pháp Yết-ma riêng, thì gọi là Tăng bị phá hay phá hòa hợp Tăng.
Phá hòa hợp Tăng có hai phương diện là phá Pháp luân Tăng và phá Yết-ma Tăng. Trường hợp phá Yết-ma Tăng là trong một trú xứ có ít nhất 8 Tỳ-kheo hợp pháp, chia làm hai nhóm, mỗi nhóm Bố-tát riêng và làm Yết-ma riêng; đó gọi là phá Yết-ma Tăng. Trái lại, phá Pháp luân Tăng ít nhất phải có 9 Tỳ-kheo như pháp, chia làm hai nhóm, một nhóm năm người, một nhóm 4 người. Trong nhóm năm người có một người tự xưng là Phật, đề xướng một loại giới Luật và giáo pháp mới khác với giáo pháp của Phật, và cho đó là con đường chân chính hướng đến Niết-bàn, rồi 4 người kia phụ họa theo. Phá pháp luân Tăng ở trong cùng cương giới hay ngoài cương giới đều có thể thực hiện, và chỉ có một trường hợp duy nhất xảy ra vào thời đức Phật, do Đề-bà-đạt-đa khởi xướng. Để thấy rõ 2 sự phá Tăng khác nhau, ta có thể làm một bảng so sánh về các phương diện.

* Trang 69 *
device

So sánh giữa hai sự phá Tăng:
     1. Nhân số:
-Phá Pháp luân Tăng: Tối thiểu phải có 9 Tỳ-kheo, chia làm hai chúng, một chúng năm người, một chúng bốn người.
- Phá Yết-ma Tăng: Tối thiểu tám Tỳ-kheo, chia làm hai chúng, mỗi chúng bốn người.
     2. Thành phần:
- Phá Pháp Luân Tăng: Chỉ có các Tỳ-kheo như pháp, vì Tỳ-kheo-ni không thể tự xưng là Phật nên không phá được. Ngoài ra, chỉ có phàm Tăng mới phá, còn Thánh Tăng thì đã hết kiết sử nên không bao giờ phá Pháp luân Tăng.
-Pháp Yết-ma Tăng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni điều có thể phá, Thánh Tăng; phàm Tăng điều có thể phá,
      3. Thời gian:
-Phá Pháp luân Tăng: Chỉ có trong  thời đức Phật còn tại thế.
-Phá Yết-ma Tăng: Thời nào cũng có thể phá được.
      4. Không gian:
- Phá Pháp luân Tăng: trong cùng một trứ xứ (cương giới) hay bất cứ ở đâu.
- Phá Yết-ma Tăng: Chỉ ở trong phạm vi một trú xứ, một cương giới.
     5. Nội dung:
-Phá Pháp luân Tăng: Thiết lập giới luật và giáo pháp khác với giới luật và giáo pháp của Phật.
- Phá Yết-ma Tăng: Hai nhóm Tỳ-kheo trong cùng một trú xứ làm Yết-ma riêng, Bố-tát riêng.

* Trang 70 *
device

I. ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA PHÁ PHÁP LUÂN TĂNG:
Sự kiện Đề-bà phá Tăng có nhiều kinh luật đề cặp,nhưng Thập Tụng Luật trình bày khá chi tiết và rõ ràng hơn cả, tóm lược như sau: Điều-đạt (Đề-bà-đạt-đa) phát tâm xuất gia với thiện chí trong 12 năm đầu tu hành tinh tấn, nhưng sau đó ưa thích phép thần thông, phế bỏ chánh đạo. Thầy muốn đảo chánh Phật để giành quyền lãnh đạo chúng Tỳ-kheo, bèn cấu kết với vua A-xà-thế, xúi giục vua sát hại phụ vương để đoạt ngôi báu, ông thuyết phục như sau:
- Người giết cha, ta giết Phật; người sẽ làm vua nước Ma-kiệt-đà, ta sẽ làm Phật. Bấy giờ, nước Ma-kiệt-đà này sẽ có một vị vua mới và một vị Phật mới, như thế chẳng khoái sao?
Thế rồi, Điều-đạt bàn bạc cùng bốn đệ tử thân tín là Cụ-già-lê, Càn-đà-phiêu, Ca-lưu-la-đề-xá và Tam-văn-đạt-đa, đoạn Thầy đến thưa với đức Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn tuổi tác đã cao, nên giao chúng Tăng lại cho con. Thế Tôn chỉ cần hưởng thụ pháp lạc hiện tại, để Tăng chúng cho con lãnh đạo”.
Phật dạy: “ Này Điều-đạt, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có đại trí tuệ và thần thông như thế, Ta còn không giao chúng Tăng cho họ thay, huống chi ngươi là người ngu, là cái thây ma mà Ta lại giao chúng Tăng cho ngươi sao?”
Bị Phật bát bỏ thẳng thừng bác bỏ ý đồ đen tối của mình, Điều-đạt bèn bàn với 4 đệ tử tâm phúc như sau: “Ta với các ngươi hãy cùng nhau phá hòa hợp Tăng, hoại pháp luân của Sa-môn Cù-đàm; làm như thế, chúng ta sẽ nổi tiếng là những người đã phá hòa hợp Tăng, hoại pháp luân

* Trang 71 *
device

của Phật”.
Vì đã rắp tâm như thế, Điều-đạt liền xướng xuất 5 điều phi pháp sau đây: 1) Tỳ-kheo suốt đời mặt y phấn tảo (loại vải nhặt được); 2) Tỳ-kheo suốt đời sống theo hạnh khất thực; 3) Tỳ-kheo suốt đời mỗi ngày chỉ ăn một bữa; 4) Tỳ-kheo suốt đời phải ngủ ngoài trời; 5) Tỳ-kheo suốt đời không ăn thịt. (29)
Trong 5 điều trên, chỉ có điều 5 là khác với Phật, vì Phật cho phép Tỳ-kheo được ăn tịnh nhục nếu như không thấy, không nghe và không nghi người ta giết thịt con vật để cùng cho mình. Bốn điều còn lại Phật cũng đã quy định nhưng được áp dụng một cách uyển chuyển hơn. Ở đây, thâm ý của Điều-đạt là muốn làm nổi bậc hơn đức Phật nên quy định những điều khắt khe để gây sự chú ý và thán phục của mọi người.
Trên đây là tường thuật của Luật Thập Tụng, còn Luật Ma-ha-tăng-kì ghi nhận như sau: “Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, Đề-bà-đạt-ma vì muốn phá sự hòa hợp của Tăng đoàn nên đối với 12 bài tựa của giới kinh, 4 Ba-la-di, 13 Tăng-già-bà-thi-sa, 2 pháp Bất định, 30 Ni-tát-kì-ba-dạ-đề, 92 Ba-dạ-đề, 4 Ba-la-đề-xá-ni, các pháp chúng học, 7 pháp Diệt tránh, các pháp Tùy thuận v.v… những gì Phật không chế thì thầy chế thêm, những gì Phật đã chế thì thầy khuếch đại. Cũng như đối với 9 thể loại của kinh mà người tại gia, xuất gia điều thực hành, thầy đều tạo ra những câu khác, những chữ khác, những ú nghĩa khác và những lời văn khác để tự mình đọc tụng và dạy người khác đọc tụng. Thế rồi, được các Tỳ-kheo khuyên can thầy
_____________
(29) Thập Tụng Luật, quyển 36, Đ.23, tr.259a

* Trang 72 *
device

vẫn không thèm nghe, và được Phật bảo các Tỳ-kheo khuyên can đến 3 lần, thầy vẫn không từ bỏ, nên Phật đã chế định giới Tăng tàn thứ 10 về việc phá hòa hợp Tăng” (30).
Những vấn đề vừa nêu được Tứ Phần Luật đúc kết thành 18 khía cạnh dẫn đến phá Tăng như sau:
1. Việc như pháp mà bảo rằng phi pháp.
2. Việc phi pháp mà bảo rằng như pháp.
3. Việc đúng luật mà cho rằng không đúng luật.
4. Việc không đúng luật mà cho rằng đúng luật.
5. Phạm tội mà cho rằng không phạm tội.
6. Không phạm tội mà cho rằng có phạm.
7. Tội nhẹ mà cho rằng tội nặng.
8. Tội nặng mà cho rằng tội nhẹ.
9. Tội có thể sám hối mà cho rằng không thể sám hối.
10. Tội không thể sám hối mà cho rằng có thể sám hối.
11. Tội thô ác mà cho rằng không thô ác.
12. Tội không thô ác mà cho rằng thô ác
13. Việc thường làm mà cho rằng việc không thường làm.
14. Việc không thường làm mà cho rằng thường làm.
15. Phật có chế định mà cho rằng Phật không có chế định.
16. Phật không có chế định mà cho rằng Phật có chế định.
17. Phật có dạy mà cho rằng Phật không dạy.
18. Phật không dạy mà cho rằng Phật có dạy. (31)
_________________
(30) Ma-ha-tăng-kì Luật, quyển 7, Đ.22, tr.281c
(31) Tứ Phần Luật, quyển 43, Đ.22, tr.883a

* Trang 73 *
device

1. Nguyên nhân thúc đẩy Đề-bà-đạt-đa phá Tăng.
Ngoài nguyên nhân ưa chuộng các phép thần thông như Luật Thập Tụng đã đề cập, Kinh Tăng Chi Bộ, Phật còn nêu ra những nguyên nhân khác đã thúc đẩy Đề-ba-đạt-đa phá Tăng như sau: “Này các Tỳ-kheo, khi lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng khởi lên sẽ đem đến bất hạnh cho bản thân mình và cho những người xung quanh. Cũng vậy, chỉ vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng sinh khởi mà Đề-bà-đat-đa tối mắt, gây ra việc phá hòa hợp Tăng, và do việc này đưa đến tai hại cho bản thân và nguy hại cho cả Tăng đoàn”. (32)
2. Quả báo mà Đề-bà-đạt-đa phải nhận lấy
Sau khi không đạt được tham vọng lãnh đạo Tăng chúng, Đề-bà-đạt-đa càng trở nên bướng bỉnh và không chịu nghe lời khuyên can của bất cứ ai, Phật đã tuyên bố về trường hợp Đề-bà-đạt-đa với các Tỳ-kheo: “Đề-bà-đạt-đa phải sinh vào đọa xứ, sinh vào địa ngục cho đến một kiếp không thể cứu độ được. Vì Ta không thấy có một điểm trắng (pháp thiện) nào, dù nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở nơi Đề-bà-đạt-đa, nên ta tuyên bố như vậy. Ví như một người bị rơi vào trong hố phân sâu ngập lút đầu, trên thân người ấy dính đầy phân không sót một chỗ nào, nên dù ai có từ tâm muốn cứu anh ta cũng không có một chỗ nào nắm anh ta vớt ra khỏi hố phân”. (33)
Cái ví dụ nêu trên tuy không được thâm mỹ cho lắm, nhưng nó rất thực tế, bình dị và dễ hiểu. Thú thực, ngày trước mỗi lần đọc đến  chỗ này, tôi rất áy náy nghĩ rằng
____________
(32) Tăng Chi Bộ Kinh, II A, tr.97
(33) Tăng Chi Bộ Kinh, IIB, tr.446

* Trang 74 *
device

đức Phật vì bực tức Đề-bà-đạt-đa chống mình nên nguyền rủa thầy cho bỏ ghét. Nhưng ý nghĩ đó hoàn toàn sai lầm, vì lẽ “chúng ta đã dùng cái kiến giải ô uế (của chúng sinh) mà đo đạt tâm thanh tịnh của đức Như Lai” (Ngã kim vọng dĩ uế độ kiến, lãi trắc Như Lai thanh tịnh tâm). Thực ra không phải vậy, vì đức Phật đã đạt được Thánh trí, chứng đắc Tam minh, nên Ngài chỉ trình bày các sự kiện đúng theo luật nhân quả cho chúng ta biết, hễ giao nhân nào thì gặp quả ấy; ai làm điều bất thiện chắc chắn sẽ nhận lấy hậu quả tương ứng với hành vi mà mình đã gây ra, chứ không thể nào khác được.
II. CÁC TRƯỜNG HỢP PHÁ YẾT-MA TĂNG:
1. Trường hợp phá tăng thời vua A-dục (Asoka):

Theo Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa, sau khi hoàng đế A-dục (Asoka) đã hướng về chánh pháp, nhà vua càng ngày càng nhiệt thành ủng hộ Phật pháp, cúng dường Tăng chúng một cách trọng hậu, nên ngoại đạo khi khất thực mỗi ngày mỗi trở nên khó khăn, do đó, họ gia nhập hàng ngũ Tăng chúng càng lúc càng đông. Trong số đó, có người xuất thân từ đạo thờ lửa, có người theo đạo lõa thể và có người thao đạo dầm nước lạnh. Do bị tiêm nhiễm lối sống của ngoại đạo, nên dù đã vào sống trong Tăng chúng mà các Tỳ-kheo tân tòng này vẫn hành xử như ngoại đạo. Thậm chí họ còn đem giới luật của ngoại đạo giảng dạy cho đồ chúng, khiến cho Phật pháp trở nên hỗn loạn. Vì thế, các Tỳ-kheo chân chính không thể hòa hợp Bố-tát, Tự tứ và làm các Phật sự chung với họ. Tình trạng bất ổn ấy cứ kéo dài mãi, khiến Tăng chúng sống trong sự rạng nứt, bất hòa, suốt 7 năm mà không Bố-tát được.

* Trang 75 *
device

Vua A-dục chứng kiến tình trạng chia rẽ của Tăng đoàn như vậy nên rất đau lòng; do thế ông đã đích thân đứng ra dàn xếp, giải quyết những vấn đề rắc rối, và yêu cầu chư Tăng thực hiện việc Bố-tát trở lại. Rồi vua đề nghị chư Tăng mở đại hội kết tập pháp tạng lần thứ 3 để chấn chỉnh lại Phật pháp, và ông đích thân hỗ trợ hết mình trong lần kết tập này. (34)
2. Trường  hợp phá Tăng tại Câu-diệm-di (Kosambi):
Khi Phật an trú tại Câu-diệm-di (Kosambi), thành Xá-vệ, bấy giờ có hai hội chúng, mỗi hội chúng đều có một thầy thủ lãnh. Vị thủ lãnh hội chúng thứ nhất tên Thanh Luận, vị thủ lãnh hội chúng thứ hai tên Thiện Thích. Mỗi người đều có đệ tử tùy tùng, đệ tử y chỉ, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di v.v.. gồm 500 Tỳ-kheo, 500 Tỳ-kheo-ni, 500 Ưu-bà-tắc và 500 Ưu-bà-di.
Một hôm, vị thủ lãnh thứ nhất đi cầu xong, định dội nước, thì thấy trong nước có trùng, liền lấy cỏ để trên thạp nước làm dấu. Người đệ tử y chỉ của vị lãnh tụ thứ hai tên Trá-già, sau đó vào cầu tiêu, trông thấy trên thạp nước có cỏ, liền nói: “Kẻ nào đem cỏ bỏ trên thạp nước thật là không biết hổ thẹn!” Người đệ tử tùy tùng của vị lãnh chúng thứ nhất tên Bạc-khẩu nghe thế nóng mặt, liền nói: “Vì sao ngươi dám bêu rếu tên của Hòa Thượng ta, bảo là kẻ không biết hổ thẹn!”.
Do thế, 4 chúng đệ tử của 2 vị thủ lãnh tranh cãi nhau dữ dội, khiến cả thành phố Câu-diệm-di đều hay biết, chỉ xung quanh việc bỏ cỏ trên thạp nước là đúng pháp hay
___________
(34) Thiện Kiết Luật Tì-bà-sa, quyển 1, Đ.24, tr.679.

* Trang 76 *
device

phi pháp, đúng luật hay phi luật v.v…Cuối cùng, Phật phải sai Tôn giả Ưu-ba-li (UPàli) đến chỗ họ làm pháp Yết-ma dập tắt sự tranh cãi ấy. (35)
3. Nguyên nhân sinh khởi các sự đấu tranh:
Nhằm phân tích nguyên nhân sự bất hòa và tai hại của nó cho các Tỳ-kheo thấy rõ, Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo nào phẫn nộ, hiềm hận sẽ sống không cung kính, không tùy thuận bậc Đạo sư; sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; không cung kính, không tùy thuận chúng Tăng và không thành tựu đầy đủ các học pháp. Do đó, vị ấy khởi lên tranh chấp giữa chúng Tăng. Khi Tăng có sự tranh chấp sẽ khiến cho nhiều người không hạnh phúc, nhiều người không an lạc, nhiều người không lợi ích, nói chung cả chư thiên và nhân loại sẽ mất lợi, bị khổ đau. Thế nên, này các Tỳ-kheo, nếu các người thấy có sự tranh chấp xảy ra giữa chư Tăng hay xảy ra giữa những người khác thì các ngươi phải cố gắng tìm cách diệt trừ nguổn gốc của sự tranh chấp ấy”. (36)
III. CÁC TRƯỜNG HỢP CHỈ TRÍCH MÀ KHÔNG PHẢI PHÁ TĂNG:
1. Các Tỳ-kheo tu giáo, tu thiền chỉ trích lẫn nhau:

Một hôm, Tôn giả Ma-ha Cun-da nói với các Tỳ-kheo: “Này chư Hiền, một số Tỳ-kheo chuyên tâm học pháp không ưa thích các Tỳ-kheo tu thiền, chỉ trích như sau: Các người ấy nói: “ Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Nhưng những người ấy tu thiền cái gì? Tu thiền
______________
(35) Ma-ha-tăng-kì Luật, quyển 13, Đ.22, tr.334a
(36) Tăng Chi Bộ Kinh IIB, tr.380

* Trang 77 *
device

như thế nào? Sự tu thiền ấy có lợi ích gì? Do thế mà các Tỳ-kheo chuyên tâm về pháp không hoan hỷ, mà các Tỳ-kheo tu thiền cũng chưa hoan hỷ; hành động như vậy đem lại bất hạnh cho nhiều người, không đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người”.
“Trong khi đó, nếu các Tỳ-kheo tu thiền đả kích những Tỳ-kheo chuyên tâm về pháp thì cũng sẽ đưa đến hậu quả tại hại như vậy. Trái lại, nếu các Tỳ-kheo chuyên tâm về pháp tán than các Tỳ-kheo tu thiền; các Tỳ-kheo tu thiền ca ngợi các Tỳ-kheo chuyên tâm về pháp, thì đó là những người có trí tuệ, thâm nhập chánh pháp và thấy rõ con đường sâu xa hướng đến mục đích, là hạng người vi diệu khó tìm được trên cõi đời này”. (37)
Thiết nghĩ vấn đề lợi hại trong việc chỉ trích những pháp môn khác với pháp môn của mình, và thái độ khôn ngoan cần có của mỗi hành giả thì trên đây Tôn giả Ma-ha Cun-da đã trình bày khá rõ ràng, chúng ta không cần phải nói thêm gì nữa.
2. Nhóm 6 Tỳ-kheo hủy bang Đà-phiêu-ma-la tử:
Khi phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tăng chúng đề cử Tôn giả Đà-phiêu-ma-la tử trông coi 9 việc cho Tăng, như các việc theo thứ tự chia phòng ốc, theo thứ tự chia y vật v.v… Lúc nhận được căn phòng và các vật dụng khác hư nát xấu xí, không vừa ý nên nhóm 6 Tỳ-khoe bàn nhau: “Hình như Trưởng lão Đà-phiêu có tư thù với chúng ta nên cho chúng ta căn phòng tồi tàn và thức ăn thô xấu; nếu Trưởng lão này còn sống lâu trong đời sống phạm
________________
(37) Tăng Chi Bộ Kinh IIB, tr.401.

* Trang 78 *
device

hạnh thì chúng ta còn đau khổ dài dài. Vậy chúng ta hãy vu cáo ông ta phạm tội Ba-la-di”.
Thế rồi, họ vu cáo thật, và sự kiện đã được trình lên Đức Phật. Phật liền cho gọi nhóm 6 Tỳ-kheo đến khiển trách: “Này nhóm 6 Tỳ-kheo, đó là việc ác. Há các ông không thường nghe Ta bảo phải thường cung kính và thể hiện sự từ ái của thân, khẩu, ý  đối với các bậc đồng phạm hạnh hay sao? Vì sao nay các ông lại vu khống một Tỳ-kheo sống phạm hạnh vô tội rằng ông ta phạm tội Ba-la-di một cách vô căn cứ như thế? Đó là điều phi pháp, phi luật, phi luật trái lời Ta dạy; không thể dùng việc đó để nuôi lớn việc phi pháp được”. Đoạn, Phật chế giới: Các Tỳ-kheo không được vô cớ vu khống người khác phạm trọng tội một cách vô căn cứ. (38)
3. Xá-lợi-phất (Sàriputta) bị một Tỳ-kheo vu khống:
Một hôm có một Tỳ-kheo đến trước Phật tố cáo Tôn giả Xá-lợi-phất xúc phạm thầy rồi bỏ đi. Phật liền cho gọi Xá-lợi-phất đến đề hiểu rõ nguyên do, thì thầy trình bày: “Bạch Thế Tôn, với những ai không an trú chánh niệm nơi thân thì người ấy mới có thề xúc phạm một vị đồng phạm hạnh rồi bỏ đi mà không xin lỗi, Nhưng con đã an trú chánh điện nơi thân, tâm con giống như cụ đất, nên dù người ta quăng đồ sạch hay đồ bẩn, quăng phẩn uế, nước tiểu, máu mủ hay nhổ nước miếng lên đất, thì đất cũng không lo âu, không xấu hổ và không nhàm chán. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn! Con đã an trú với tâm như đất, rộng rãi, bao la, vô lượng, không hận, không sân…, thì đâu có lẽ
___________________
(38) Ma-ha-tăng-kỳ Luật, quyển 6, Đ9, tr.280a

* Trang 79 *
device

nào con lại xúc phạm một bạn đồng phạm hạnh rồi bỏ đi mà không một lời xin lỗi:.
Sau khi được đối chấp với Xa-lợi-phất, Thầy Tỳ-kheo ấy liền cúi đầu đánh lễ chân Phật, rồi Bạch: “Bạch Thế Tôn! Con đã phạm một trọng tội, Vì ngu si, vô minh, bất thiện, con đã vu cáo Tông giả Xá-lợi-phất một cách vô ý thức, hư vọng, không thật. Mong Thế Tôn chứng minh cho con sự ăn năng hối lỗi của con, để con ngăn chận về sau.”.
Thế Tôn bèn chấp nhận sự sám hối của thầy và khích lệ: “Này Tỳ-kheo, Ta chứng nhận tội ấy cho ngươi. Đây là một sự tiến bộ. Trong giới luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lồ đúng pháp, thì người ấy có thể ngăn chận được tội lỗi trong tương lai”. (39)
4. Ác ma chọc tức Tỳ-kheo:
Vì thấy dân chúng mến mộ chúng Tăng, ác ma Dùsi đâm ra ganh tức, muốn phá hoại uy tín của các Tỳ-kheo, bèn suy nghĩ: “Ta không biết chỗ đi và chỗ đến của các Tỳ-kheo có giới hạnh và thiện pháp. Vậy ta hãy nhập vào một người Bà-la-môn, đến hủy nhục các Tỳ-kheo khiến cho họ nổi sân, mất sáng suốt, để ta có cơ hội lung lạc tâm trí của họ”. Nghĩ thế xong, ác ma Dùsi liền nhập vào một Bà-la-môn, đến trước các Tỳ-kheo, hủy báng như vậy:
- Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu tiện nô, hắc nô, được sinh ra dưới gót chân. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, hai vai thụt xuống, vẻ mặt cúi gằm, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền giống như con chim cú đậu trên cành cây để rình chuột,
__________________
(39) Tăng Chi Bộ Kinh IIIB, tr.343-6

* Trang 80 *
device

giống như con dã can núp bên sông đang rình cá, giống như con lừa vừa mới đặt gánh nặng xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền…
Những kẻ nào có ác tâm hủy báng các Tỳ-kheo như trường hợp ác ma Dùsi thì sau khi mệnh chung sẽ sinh vào cõi dữ để nhận lấy hậu quả. (40)
5. Hậu quả của sự hủy báng:
Câu chuyện vừa kể trên đã khái quát hậu quả của sự hủy báng, nhưng chi tiết và rõ ràng hơn là kinh Tăng Chi, đức Phật trình bày cụ thể như sau:
- Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo nào mắng chửi, chỉ trích, quở trách các bạn đồng phạm hạnh đã chứng đắc Thánh quả, thì người ấy có thể chuốc lấy một trong 11 tai họa sau đây:
1. Không chứng được điều chưa chứng.
2. Điều đã chứng được sẽ mất.
3. Diệu pháp không được tỏ rõ.
4. Tự kiêu trong diệu pháp.
5. Không hoan hỷ sống đời phạm hạnh.
6. Sẽ phạm một tội ô uế nào đó.
7. Từ bỏ phạm hạnh và từ hoàn tục.
8. Sẽ mang trọng bệnh.
9. Sẽ bị điên cuồng mất trí.
10. Khi mệnh chung tâm trí si ám.
11. Sau khi chết sẽ rơi vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. (41)
________________
(40) Trung Bộ Kinh I, tr.333
(41) Tăng Chi Bộ Kinh IIIB, tr.278

* Trang 81 *
device

Trên đây, chúng tôi đã tóm lược một số trường hợp phá hòa hợp Tăng và những sự bất hòa từng xảy ra trong hàng ngũ Tăng đoàn mà kinh điển còn truyền lại. Ngoài ra, có những trường hợp khác không những phá Tăng mà là phá hoại Phật giáo, như trường hợp Phật giáo Ấn độ 2 lần bị Hồi giáo tàn phá, Phật giáo Trung Hoa 4 lần bị pháp nạn và Phật giáo Việt Nam gần đây bị chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp. Đó là những âm mưu phá hoại Phật giáo thật sự. Trường hợp Phật giáo Ấn Độ vì bị tàn phá quá nặng nề nên phải trải qua một thời gian dài mới gượng dậy được. Nhưng đặc biệt tại Trung Hoa, hình như cứ sau mỗi lần pháp nạn thì Phật giáo lại vươn dậy mạnh mẽ hơn nhiều. Ở Việt Nam ta cũng tương tự như thế, sau vụ pháp nạn năm 1963, Phật giáo cũng phấn chấn phát triển khác thường. Phải chăng cứ sau mỗi lần bị đàn áp thì người Phật tử càng thấm thía nguy cơ diệt vong của đạo Pháp nên cùng nhau đồng tâm hiệp lực hàn gắn lại những đổ vỡ và mất mát ngõ hầu quang hưng ngôi nhà Chánh pháp mà mọi người đã trân trọng giữ gìn?

* Trang 82 *
device

 
Một Số Vấn Đề Giới Luật