LOGO VNBET
Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
(Bài giảng tại đại giới đàn Trí Thủ - chùa Linh Sơn,
tỉnh Lâm Đồng, ngày 25-3-1999)
         Các giới tử có phước duyên thọ giới tại giới đàn Trí Thủ. Đó là một bậc cao tăng mà đa số giới tử hiện diện chưa từng được tiếp xúc hoặc gặp gỡ. Ngài là vị trụ trì đầu tiên của chùa Linh Sơn. Và hơn thế nữa, theo bước chân hành đạo của ngài, giáo lý Phật Đà đã được trải rộng khắp mọi miền đất nước. Ngài đã un đúc, giáo dưỡng, đào tạo nhiều vị Tăng tài cho Giáo hội chúng ta. Điểm đặc biệt khó quên nơi ngài, thể hiện hình ảnh một trong những vị tôn túc từng đặt nền móng cho việc xây dựng Giáo hội thống nhất cả nước và ngài đã hoàn thành trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ I. Đó là công đức của Hòa thượng Trí Thủ đã thành tựu trong hơn 70 năm hiện hữu trên cuộc đời này.

* Trang 386 *
device

Tưởng niệm công đức hoằng pháp sâu dày của ngài, khi tôi tổ chức hai khóa đào tạo Giảng sư của Ban Hoằng pháp Trung ương, thì khóa thứ nhất mang tên Thiện Hoa, vị Trưởng ban Hoằng pháp đầu tiên của Giáo hội Tăng già. Và chúng tôi đặt tên cho khóa thứ hai là Trí Thủ, vị Trưởng ban Hoằng pháp ở thời kỳ Giáo hội Thống nhất.
Hôm nay, Tăng Ni thọ giới ở giới đàn mang tên ngài, chứng tỏ chúng ta đã có nhân duyên lớn với Hòa thượng. Vì vậy, theo tôi, chúng ta cần hiểu rõ công hạnh của ngài, ngài tu hành như thế nào mà thành tựu được những Phật sự lớn lao như vậy, để chúng ta cùng noi theo gương sáng ấy ngõ hầu phát huy con đường đạo hạnh của chính mình.
Tôi không rõ về khoảng đời niên thiếu của Hòa thượng, nhưng từ lúc có duyên làm việc chung với ngài, từ năm 1963 trở về sau, tôi thấy rõ nơi ngài tỏa sáng tấm lòng vì đạo. Ngài luôn luôn thương yêu, đùm bọc, che chở chư Tăng và dốc toàn tâm, toàn lực để đào tạo Tăng tài. Về điểm này, chúng ta khó có thể tìm thấy một vị tương tự như ngài.
Chính vì tấm lòng quảng đại dành cho đại chúng như vậy, nên chẳng những chư Tăng miền Trung mà cả ở miền Nam, ngài cũng được chư Tăng hết lòng kính trọng.
Thiết nghĩ trên bước đường tu của Tăng Ni, không có điều gì quan trọng hơn là tấm lòng. Nếu chúng ta làm việc không hết lòng vì Giáo hội, tu

* Trang 387 *
device

hành không hết lòng vì đạo, vì chúng Tăng, chắc chắn khó làm nên việc lớn.
Chính nhờ học được kinh nghiệm quý báu ấy nơi Hòa thượng, hầu như suốt cuộc đời tôi, cho đến ngày hôm nay, vẫn luôn luôn gắn bó với cộng đồng Tăng lữ. Tôi thấy rõ ràng một số Tăng sĩ thiếu đoàn kết, không sống theo tinh thần lục hòa, chỉ muốn làm theo ý riêng của mình, tách rời sinh hoạt của chư Tăng, của Giáo hội, thì dù có giỏi đến đâu, họ cũng khó làm được việc. Đức tánh quan trọng thứ hai giúp cho Hòa thượng Trí Thủ thành công những việc lớn, là ngài luôn luôn tự xét lỗi mình, không quan tâm đến lỗi người khác.
Năm 1973, khi tôi du học ở Nhật về, gặp tôi, Hòa thượng liền hỏi: "Khi ở Nhật, thầy có nghe thầy Đồng Từ than phiền tôi điều gì hay không. Không hiểu sao khi về nước cho đến lúc qua đời, thầy ấy không đến thăm tôi” (Thầy Đồng Từ vốn là học trò của Hòa thượng, cùng làm việc với Ngài tại Phật học viện Nha Trang). Ngài băn khoăn không biết mình đã làm gì khiến cho học trò buồn. Tôi bạch với Hòa thượng rằng tôi không nghe thầy Đồng Từ nói gì cả. Tôi thầm khâm phục tấm gương khắc kỷ của Hoà thượng, khoan dung với mọi người, nhưng không bao giờ tha thứ cho lỗi lầm của chính mình. Ngài đã thể hiện cách sống cao đẹp của bậc chân tu luôn tự sửa mình.
Hòa thượng cũng dạy rằng nếu xét mình không có lỗi trong đời này, thì chắc chắn cũng đã phạm

* Trang 388 *
device

lỗi trong nhiều kiếp quá khứ. Điểm này chúng Tăng cần suy nghĩ, áp dụng trong đời tu để sửa đổi bản thân mình. Theo Hòa thượng, có nhiều cách để chúng ta xét lỗi đời trước. Nếu đời này chúng ta sanh ra trong gia đình nghèo khó, thân bịnh hoạn, ngoại hình không dễ coi…, phải tự biết đó là kết quả của túc nghiệp quá khứ. Khi nào đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp như đức Phật thì mới trọn lành, không còn lỗi lầm.
Năm Hòa thượng đã 75 tuổi, tôi cùng đi với ngài ra Hà Nội chuẩn bị Đại hội Phật giáo kỳ I. Tôi thấy ngài cứ 3 giờ khuya, lạy sám hối đủ 108 lạy, không phải lạy tắt như các tu sĩ trẻ thời nay. Ngài dạy rằng lạy sám hối tiêu nghiệp thì tự nhiên hảo tướng hiện, mọi người nhìn thấy mình, lòng họ thanh tịnh và sanh tâm cung kính. Trái lại, người gặp ta mà khó chịu, chê bai, đó là họ chê cái nghiệp của ta. Còn con người thực của ta vốn hoàn toàn trong sạch, nên ta không giận. Người không hiểu đạo, không thấy lỗi mình thường hay than vãn, trách móc.
Khi nghiệp tiêu, giới thể thanh tịnh, thì không cần có giới ràng buộc. Thật vậy, đối với hàng Tỳ kheo thanh tịnh, Phật không cần nói giới. Giới luật được chế ra như 5 giới của người tại gia, thập thiện giới của chư thiên và giới của Sa di, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thuộc về giới tướng, nhằm mục đích đối trị nghiệp của chúng ta có từ quá khứ. Vì vậy, khi Tăng Ni thọ giới, chính yếu là giữ giới tướng, không phải giới thể vì giới thể vốn đã thanh tịnh.

* Trang 389 *
device

Tuy nhiên, giới thể thanh tịnh thật sự thì hảo tướng phải hiện ra.
Theo tôi, người xuất gia lãnh thọ được giáo pháp của Phật và làm nên đạo nghiệp, không đơn giản. Tùy theo nghiệp của từng người mà việc tu hành có khác nhau. Trong đạo thường chia ra 3 hạng người tu: thượng, trung và hạ căn. Các giới tử tự xét xem mình đứng ở vị trí nào, thì phải từ đó mà khởi tu.
Hàng thượng căn gọi là pháp tánh Tỳ kheo, như Xá Lợi Phất, căn tánh thông lợi. Đức Phật không cần dạy bảo nhiều, chỉ nói đơn giản: "Thiện lai Tỳ kheo” thì Ngài liền đắc quả A la hán. Người tu Thiền cũng cần có căn tánh này mà Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi dạy rằng: "Phi ngộ thượng căn, thận vật khinh hứa”. Phải gặp đúng hạng người này mới truyền tâm được, còn hàng trung, hạ căn không thể vào thế giới của thiền.
Tôi nhớ khi còn là học tăng ở Phật học đường Nam Việt, đến mùa an cư cấm túc, một số thầy cảm thấy buồn rầu vì Hòa thượng Thiện Hòa không cho ra khỏi chùa. Tôi thấy hạng người tu này ra đời sớm nhất.
Còn những người sắp đến ngày kiết giới thì vội vàng đi chợ cho "đã con mắt” và mua sắm đồ dự trữ trong 3 tháng tu. Đây là hạng người lo tích lũy cuộc sống vật chất, kẹt lợi dưỡng cá nhân, được xếp vào hạng giá áo túi cơm, từ lo giữ miếng ăn cho đến ôm giữ chùa như của riêng mình, khó mà đắc đạo.

* Trang 390 *
device

Riêng những người thực sự hoan hỷ khi mùa an cư đến, xem đó là cơ hội để an trú, thâm nhập Phật pháp, nhất định họ sẽ thăng tiến trên đường đạo. Bản thân tôi khi chưa làm Trưởng ban Hoằng pháp, thường phát nguyện cấm túc trong mùa hạ, nên không bị phiền não thế tục quấy rầy và cũng dễ dàng từ chối việc đi cầu an, cầu siêu cho Phật tử. Ngày nay, vì đáp ứng yêu cầu hoằng pháp, tôi phải đi giảng dạy nhiều nơi trong mùa hạ, nhưng ngoài những giờ này ra, tôi không đi đâu, để dành thì giờ cho việc đọc tụng kinh điển.
Sống với pháp tánh hay chân tánh, dễ gần với đạo. Được như vậy, ta không học ngôn ngữ, nhưng phần lớn là cảm tâm, cảm đức của thầy, nên giới thể trở thành thanh tịnh. Khi còn làm Sa di hầu Hòa thượng Thiện Hoa, giữa tôi và ngài có gắn bó mật thiết vô hình. Tôi linh cảm đúng những điều mà Hòa thượng lên lớp sẽ dạy, kể cả việc cảm nhận được đề thi ngài sẽ ra. Thầy trò hiểu nhau theo cách đó gọi là truyền tâm. Người học đạo biết thầy nghĩ gì và làm theo đó, nên không bao giờ trái ý thầy. Thầy truyền cho ta hạnh và ta cảm đức của thầy để tu. Không cảm tâm thì không thể tu thiền, không cảm đức thì không thể làm thầy. Đó là hai điểm chính đưa ta vào giới thể thanh tịnh.
Điểm quan trọng thứ ba trong việc giáo hóa, là dùng phương tiện ngữ ngôn, văn tự. Thầy bảo trò làm việc gì, cho đến phải rầy la mới chịu nghe. Có vị nương phương tiện để dạy chúng, mặc dù rầy mắng

* Trang 391 *
device

nhưng thực sự trong lòng rất thương. Nhưng cũng có thầy rầy la mãi rồi thành tật, thành nghiệp.
Người có căn lành đầy đủ, gặp thầy đức hạnh, học rộng tài cao, nương theo thầy ta dễ thăng hoa. Nếu căn lành yếu, gặp đạo sư kém thì nghiệp của thầy trò được nhân lên gấp đôi. Giới tử nào được thầy giỏi, bạn tốt, nên gìn giữ, đừng để mất, khó kiếm lại.
Tóm lại, trên bước đường tu, chúng ta tự xây dựng mình trở thành tu sĩ vì đạo thực sự, gắn bó chặt chẽ với Tăng đoàn. Muốn thành tựu việc lớn, phải phá bỏ cái ta và cái của ta. Hãy quán sát quan điểm của người để tự sửa đổi. Thử đặt mình vào hoàn cảnh của người, để có cách ứng xử đúng đắn. Đừng nên áp đặt người khác phải làm theo mình.
Tôi nhắc nhở các tân Tỳ kheo cần thể hiện mẫu người tu đức hạnh, xứng đáng cho quần chúng kính ngưỡng. Và trong thời đại của quý vị, phải khéo vận dụng mọi cách để cùng nhau hòa hợp, phát triển Giáo hội vững mạnh, thăng hoa cùng đất nước và giữ cảm tình tốt đẹp nhất trong lòng dân tộc.

* Trang 392 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì