LOGO VNBET
Đạo đức hành chánh
(Trường hạ chùa Phật Tích Tùng Lâm)
         Đọc báo chí hằng ngày, chúng ta thấy có đề cập đến vấn đề cải tổ luật hành chánh. Về sinh hoạt đạo pháp của chúng ta cũng có luật hành chánh. Làm thế nào để kết hợp luật hành chánh của đạo và đời để chúng ta điều hành Phật sự được dễ dàng và hợp pháp.
Trước nhất, quý thầy cần có khái niệm sơ lược về luật hành chánh của xã hội, còn có tên là công pháp. Đó là những quy định mà toàn dân phải chấp hành, thí dụ như điều luật chung về tổ chức chính quyền, đường sá, nhà dân phải cách đại lộ bao nhiêu thước, việc giải tỏa nhà dân để làm công trình lợi ích chung thì Nhà nước phải đền bồi như thế nào, v.v...
Ngoài luật hành chánh của quốc gia, còn có luật hành chánh quốc tế gọi là công pháp quốc tế, thí dụ quy định về ranh giới quốc gia, về quyền kiểm soát trên đất liền hay trên không phận hoặc hàng hải, v.v... mà các quốc gia đã ký kết với nhau và phải tôn trọng.

* Trang 374 *
device

Trở lại vấn đề hành chánh trong đạo Phật của chúng ta. Khởi đầu từ thời đức Phật bắt đầu thành đạo và lập giáo khai tông, thì pháp quy y Tam bảo được coi là tuyên ngôn của đức Phật. Đức Phật quy định rõ người nào tôn trọng Tam bảo thì trở thành đệ tử Phật, nếu không theo ba pháp quy y thì không phải đệ tử Phật. Như vậy, dù là đệ tử xuất gia hay tại gia đều phải tuân thủ ba pháp quy y của Phật đặt ra.
Trong ba pháp quy y, quy y Tăng rất quan trọng, cần được triển khai. Theo Phật, chư Tăng phải sống trong lục hòa, sống ngoài lục hòa không phải là Tăng. Đó là ý quan trọng mà quý Thầy phải cân nhắc. Lục hòa, nói rõ là lục hòa kỉnh pháp, chư Tăng phải sống hòa hợp, không ai bắt buộc, nhưng đó là tuyên ngôn của đức Phật, nên chúng Tăng tất yếu phải tuân thủ. Thực tế lịch sử cho thấy khi chúng Tăng tôn trọng pháp lục hòa thì Phật pháp hưng thạnh; không sống lục hòa thì Phật pháp suy đồi và nhất là chư Tăng càng đông mà không hòa hợp thì càng tai hại hơn.
Thiết nghĩ muốn Phật pháp trường tồn, chúng ta cần thể hiện lục hòa pháp trong cuộc sống. Điều này không mang tính áp chế, nhưng có tính tự nguyện. Thật vậy, đạo đức của Phật giáo có tính chất tự nguyện để rèn luyện cho người thành Hiền thánh.
Vì vậy, chúng ta căn cứ vào sáu pháp hòa kỉnh để xây dựng Tăng đoàn, đó là luật Phật chế mà chúng ta phải tuân thủ. Trong thời Phật tại thế có

* Trang 375 *
device

phần khắt khe hơn, vì đã xuất gia thì tất cả mọi thứ đều trở thành công hữu, không có tư hữu. Quý thầy thử nghĩ xem khi tư cách một người đã nâng lên Hiền thánh, tức đã phá được ngã chấp, pháp chấp thì không có sở hữu nào nữa, kể cả mạng sống bản thân cũng không quan tâm. Rõ ràng chỉ có hàng Thánh được giải thoát hoàn toàn mới không lệ thuộc tài sản và mạng sống. Đó chính là mục tiêu của chúng ta từng bước phấn đấu để đạt cho được.
Thực tế, đức Phật là tấm gương sáng về pháp này. Ngài là bậc đại Thánh không sở hữu bất cứ tài sản nào, mặc dù hàng đệ tử tín tâm dâng cúng cho Ngài quá nhiều. Như Trúc Lâm tịnh xá của Tần Bà Sa La cúng dường Phật, nhưng Ngài chẳng hề coi đó là tài sản của Ngài hoặc đức Phật nhận sự dâng cúng Kỳ Hoàn tịnh xá mang tầm cỡ quốc gia, mà cũng không hề bận tâm gì đến nó.
Bước theo dấu chân Phật, trước tiên chúng ta xả ly vấn đề sở hữu tài sản, tức là bỏ chấp pháp và kế đến là phá ngã chấp để đạt vô ngã, thì mạng sống chúng ta cũng không coi nó quan trọng. Nói cách khác, chúng ta công hữu mạng sống của mình, tức mạng sống của chúng ta tùy thuộc ở tổ chức quyết định, danh từ đạo gọi là Tăng sai. Tập thể Tăng quyết định ta làm gì thì phải làm việc đó.
Thể hiện tinh thần này, tôi làm việc gì đều do Tăng sai, vì mạng sống của tôi đã hoàn toàn hiến dâng cho đạo, không phải của riêng tôi. Có thể khẳng định từ khi xuất gia tham dự vào Tăng

* Trang 376 *
device

đoàn thì mạng sống của người tu tùy thuộc ở chư Tăng quyết định. Chư Tăng giao công việc quản lý chùa hay làm trụ trì thì ta chấp hành làm việc ấy. Riêng tôi, Giáo hội giao cho tôi công việc thuyết pháp, tôi phải làm tròn trách nhiệm ấy. Nói chung, người tu sĩ được Giáo hội phân bổ làm gì, ta theo đó mà thi hành. Điều đó thể hiện đúng nghĩa xuất gia thuộc về công hữu, không có tư hữu ở thời kỳ Phật tại thế.
Ngày nay, vấn đề này hiểu thế nào? Chúng ta đều biết Giáo hội có kết hợp Hiến chương và Nội quy các ban ngành với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Như vậy, Hiến chương và Nội quy của Giáo hội được xây dựng căn cứ trên Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Và chính phủ Việt Nam công nhận chính thức rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam có quyền quản lý Tăng Ni Phật tử và toàn thể tự viện tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là tập thể lãnh đạo, thí dụ tôi là ủy viên của Hội đồng Trị sự, tức một thành viên của Giáo hội. Giáo hội phân bổ tôi làm Trưởng ban Hoằng pháp. Tôi thực hiện nghĩa vụ của Giáo hội giao phó, nên Giáo hội phải có trách nhiệm bảo hộ công việc của tôi. Hoặc một thầy nào được Giáo hội bổ nhiệm làm trụ trì một tự viện. Vị trụ trì ấy khi muốn tu bổ, sửa chữa chùa tất nhiên phải tuân theo thủ tục hành chánh do Giáo hội quy định. Vì chùa là một cơ sở của Giáo hội, nên phải tuân theo luật, đơn xin phép sửa chùa

* Trang 377 *
device

phải thông qua Ban Đại diện của cấp quận, hay tỉnh, thành phố, Trung ương.
Về luật hành chánh của Nhà nước trước kia có nhiều cửa, nhiều cách, nên công việc không được hiệu quả. Từ đó, Nhà nước đã có sửa đổi thành luật một cửa, một dấu để dễ quản lý và giải quyết việc cho dân nhanh chóng.
Về phần Giáo hội của chúng ta cũng phải xây dựng luật hành chánh có tính cách gọn nhẹ trong việc quản lý từ cấp quận huyện đến trung ương cho được thông suốt, nhẹ nhàng. Nhân sự không cần đông, nhưng làm được việc tốt là mục tiêu phấn đấu của Giáo hội đề ra. Hòa thượng Hiển Pháp mới làm thí nghiệm bằng cách tổ chức khóa huấn luyện hành chánh đầu tiên vừa được mở tại Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội trong những tháng vừa qua để quý thầy cấp tỉnh, thành học tập. Và từ đó, rút kinh nghiệm triển khai cho các khóa huấn luyện hành chánh cấp huyện và trụ trì. Trước kia chỉ có tổ chức huấn luyện trụ trì để xây dựng tư cách của vị sư quản lý chùa; nhưng nay có thêm phần huấn luyện hành chánh để giúp cho trụ trì biết rõ mối quan hệ với chính quyền theo đúng luật của Giáo hội và luật pháp Nhà nước.
Trong phần xây dựng luật hành chánh của Giáo hội, trước mắt có Hiến chương, Nội quy và các văn kiện liên hệ. Những phần này đều có các vị chuyên môn phụ trách triển khai, không phải công việc của tôi.

* Trang 378 *
device

Riêng tôi, đối với lớp học này, được Giáo hội giao cho việc trình bày vấn đề đạo đức hành chánh. Đây có thể coi là một khái niệm khá mới mẻ.
Có thể khẳng định rằng Phật giáo chúng ta không phải là một cơ chế có tổ chức quản lý hành chánh giống như tổ chức hành chánh của quốc gia hay của quốc tế, hoặc của các tôn giáo khác. Mỗi tôn giáo khác đều có cách quản lý hành chánh khác nhau.
Riêng Phật giáo là một tổ chức rất đặc biệt, dù là tổ chức Phật giáo thế giới mang tính toàn cầu nhưng lại không hề có tổ chức quản lý hành chánh mang tính bó buộc nào cả. Thật vậy, điển hình như tổ chức Tăng già thế giới hay Hiệp hội Phật giáo thế giới vẫn thường xuyên kết hợp những tổ chức Phật giáo ở các nước trên toàn cầu hội họp hàng năm, nêu lên những hoạt động nổi bật của Phật giáo khắp năm châu và vạch ra hướng đi cho việc truyền bá chánh pháp mang an lạc cho toàn nhân loại. Công việc của những tổ chức Phật giáo thế giới này thật lớn lao và cao cả, nhưng thực ra cũng chỉ mang tính cách liên hữu, đưa ra mô hình chung cho các nước theo lý tưởng Phật Đà, mà không hề áp đặt họ phải tuân thủ, nên cũng chẳng có biện pháp chế tài nào khi các nước không thực hiện chủ trương mà hội nghị đã nêu ra! Mới nghe qua thì thấy điều này thật khôi hài, vì hội họp để rồi chẳng đi đến đâu. Tuy nhiên, đó mới chính là tinh thần cao quý của những người con Phật, hội họp trong chánh pháp, nói năng

* Trang 379 *
device

trong chánh pháp và thể hiện việc làm đúng chánh pháp. Áp lực, đe dọa, giết chóc, mua chuộc, trao đổi quyền lợi hai chiều, v.v..., nói chung mọi thứ tính toan, xấu ác không thể nào có trong hành trang của người con Phật chân chính trên bước đường truyền bá giáo pháp cao thượng. Chính vì vậy, giáo quyền, giáo sản và giáo chế không hiện hữu trong tổ chức Phật giáo. Từ đó, có người định nghĩa Phật giáo là một tổ chức không có tổ chức!
Tinh thần này thể hiện rõ nét trong công việc truyền bá của các vị Tổ sư. Trên bước đường truyền bá đạo pháp đến những nơi hữu duyên, các Ngài chẳng có tài sản nào ngoài một y một bát. Nhưng phải nói một thứ tài sản tuyệt vời luôn hiện diện bên trong các ngài: đạo đức và tri thức, tức tâm đức và tuệ đức. Với hai bàn tay không, thong dong ngồi nghỉ chân dưới bóng cây, tưởng chừng như Tổ sư chẳng làm được việc gì. Thế mà chẳng bao lâu, những vườn thuốc quý được các Ngài gieo trồng, chữa lành bệnh cho bao người, kẻ canh tác gặt hái được hoa màu tươi tốt dưới sự chỉ dạy của Ngài, người bất bình trước thế sự đảo điên cũng tìm thấy được hướng đi an lành mà Tổ vẽ ra cho họ. Theo Tổ, người giàu có thì biết chia sẻ, người nghèo thì biết phấn đấu vượt qua khó khăn, không ngồi yên than trời trách đất hay oán hận người khác, v.v... Các vị Tổ sư hành đạo chẳng tập hợp, tổ chức dân chúng địa phương sinh hoạt theo hình thức nào cả, nhưng mọi việc vận hành theo một trật tự tự nhiên tốt đẹp, những mối bất hòa được giải quyết trong

* Trang 380 *
device

tình lục hòa tương thân tương ái. Nói cách khác, đức Phật cũng như các vị Tổ sư độ sanh chỉ sử dụng tâm đức và trí đức để giúp người thăng hoa tri thức và đạo đức.
Ngày nay, quý thầy làm công tác hành chánh của Giáo hội cũng cần suy nghĩ ý này, đừng dùng giáo quyền áp đặt, vì đạo của chúng ta chỉ chú trọng đến tinh thần, đến đạo đức, nên mang tính hòa hợp cao.
Tinh thần lục hòa và kế đến là pháp Yết ma, thiết nghĩ đó là luật muôn đời và đẹp nhất và hay nhất của Phật giáo. Luật Yết ma nghĩa là việc làm nào cũng do tập thể quyết định. Theo tôi, pháp Yết ma hay nhất mà tôi nghĩ không có gì là quá đáng rằng trong tương lai xã hội nào trên thế giới cũng cần theo mô hình này, nếu muốn quyết định của mình thực sự dân chủ, được lòng dân và áp dụng có hiệu quả.
Khi Phật tại thế, với trí đức vẹn toàn, Ngài quyết định mọi việc hoàn toàn đúng. Nhưng khi Phật nhập diệt, Ngài đã di chúc rằng tất cả việc phải do chư Tăng quyết định. Đối với những vấn đề đã có từ thời xa xưa thì Phật đã ban hành luật. Những việc chưa xảy ra thời Phật thì Ngài cho phép chư Tăng làm pháp Yết ma để quyết định. Đặc sắc nhất của bản chất Phật giáo là sự thay đổi luật lệ tùy chỗ, tùy lúc, tùy hoàn cảnh cho thích nghi, hài hòa được với sinh hoạt của người dân địa phương. Tinh thần này thường được gọi là tùy duyên, nhưng bất biến, tức cốt

* Trang 381 *
device

lõi của giáo pháp không vì sự thích nghi đó mà bị biến chất. Phật giáo vẫn rõ nét là Phật giáo, nhưng cũng không chống trái hay xa lạ với những nét đẹp của văn hóa bản địa. Với tinh thần tùy duyên, đạo Phật không cứng nhắc trong một mô hình nào hay một luật lệ nào. Tính chất phóng khoáng cao đẹp của đạo đức Phật giáo thể hiện đến mức độ chẳng cần đặt ra giáo quyền, giáo chế, giáo sản là vậy. Vì vậy, hình thức kỷ luật của đạo Phật nhẹ nhàng, dễ thương nhất gọi là "mặc tẩn”. Nghĩa là những người không cùng chung lý tưởng thì được đặt ra ngoài tập thể, ngoài tình cảm của chúng ta một cách im lặng, nhẹ nhàng, không cần tuyên bố ồn ào.
Mối tương quan giữa những người con Phật với nhau được kết hợp bằng sợi dây đạo đức và tình người là chính yếu. Đức Phật dạy rằng có thầy cách xa Ngài vạn dặm, nhưng cùng quan điểm và cùng việc làm với Ngài thì coi như thầy đó và Phật là một. Trái lại, ở bên cạnh Phật, nhưng tâm trí và việc làm hoàn toàn khác, thì vẫn cách xa Phật nghìn trùng.
Giáo hội chúng ta chủ trương dùng đạo đức để quản lý gọi là đức trị. Một số thầy Chánh đại diện cấp quận, huyện cần lưu ý điểm này, khi dùng luật pháp điều hành công việc địa phương nghĩa là dùng đức cảm hóa. Ta nói người không nghe, phải tự biết mình thiếu đạo đức. Người có đạo đức, không cần mời gọi, người ta cũng tự tìm đến để nghe dạy. Vì vậy, việc chính yếu là dùng tâm đức để quản lý con

* Trang 382 *
device

người, không phải áp đặt mà người sợ. Dù người có sợ và làm theo thì điều đó cũng không lâu bền.
Tâm đức là tình thương, đức độ của người lớn để cảm hóa. Trong công việc hoằng hóa độ sanh, chúng ta thấy đức Phật nhiều khi dùng tâm đức mà còn không cảm hóa được. Thật vậy, vì trình độ của người còn quá nông cạn và nhất là nghiệp ác của họ quá sâu dày, khiến cho họ nghĩ toàn điều sai quấy và không thể nào nhận được ý Phật dạy, không cảm nhận được tình thương bao la của đức Phật dành cho họ. Phải trải qua nhiều lần, thậm chí nhiều đời, đức Phật mới giáo hóa họ thuần thục trở thành người tốt, biết chấp nhận được điều hay lẽ phải.
Để đưa người về con đường thánh thiện, chính những tấm gương tốt của đức Phật trong cuộc sống, tấm lòng bao dung của Ngài, nói chung là đức hạnh vẹn toàn của bậc đại Thánh mới có khả năng khai mở tâm trí của người sáng lần ra. Trong kinh chúng ta thường thấy đức Phật không nói thẳng lỗi của người, vì sẽ làm cho họ tự ái, buồn phiền. Ngài thường dùng phương tiện ví dụ để nói việc người khác có tâm trạng tương tự hay nói về một vị Phật khác ở thế giới nào đó đồng cảnh ngộ với họ. Qua những thí dụ ấy, người phạm lỗi tự thấy lỗi mình và tự sửa đổi thành người tốt. Quả thật là tâm đức của đức Phật thật bao la diệu vợi, chỉ vì con người, chỉ vì muốn họ thành hiền thánh, hoàn toàn có lợi cho họ mà Ngài phải lao tâm nhọc trí như vậy !

* Trang 383 *
device

Tuy nhiên, muốn có được tâm đức, phiền não và nghiệp phải hoàn toàn dứt sạch. Ai là người có được tâm đức vẹn toàn? Đó chính là hình ảnh của đức Phật hiện thân ở thế giới Ta bà không vì một quyền lợi nào, dù là nhỏ nhoi nhất. Xét cho cùng, sự hiện hữu của đức Phật trên thế gian này chỉ vì một mục tiêu duy nhất là giáo hóa độ sanh, trải tâm đức đến cho muôn loài. Tình thương của đức Phật thường ví như tình mẹ thương con vô bờ bến, không chút vụ lợi.
Nếu còn muốn người làm theo ý của mình là còn phiền não, không thể có tâm đức. Chúng ta nghĩ đến Phật, Bồ tát và muốn đi theo con đường thánh thiện của các Ngài cần phải khắc phục tánh xấu ác, đoạn trừ lòng tham, xóa sạch phiền não và nhất là tập tha thứ cho những lỗi lầm vô tình hay cố ý của người. Có như vậy mới tu tạo được tâm đức cho bản thân mình.
Đức Phật hoàn toàn sạch nghiệp, không còn quyền lợi gì cho riêng Ngài, dứt trừ lòng tham, nên phiền não không phát sinh và chỉ có tâm đức dành cho tất cả chúng sanh.
Từ tâm đức vẹn toàn ấy dẫn đến tuệ đức, tức trí tuệ sáng suốt thấy đúng hoàn toàn muôn sự muôn vật trong pháp giới. Dùng tuệ đức, thấy rõ căn tánh, hành nghiệp của mọi người từ quá khứ thấu suốt đến tận vi lai, thấy họ muốn gì, nghĩ gì, làm được gì. Đức Phật mới tùy theo đó dìu dắt họ từng bước rời xa đường ác, tiến trên con đường thánh thiện để cuối cùng đạt quả vị toàn giác như Ngài.

* Trang 384 *
device

Tóm lại, quý thầy đang tiến theo bước chân Phật, đang lãnh trách nhiệm hành chánh của Giáo hội, cần có những hiểu biết và tuân thủ luật lệ hành chánh căn bản của Giáo hội và Nhà nước để điều hành hoạt động tại địa phương. Ngoài ra, điều quan trọng chính của người tu là sự thể hiện tâm đức và tuệ đức trong mọi Phật sự để bản thân quý thầy luôn an trú trong giải thoát và cũng giúp cho người được an lạc trong mọi Phật sự.
Thành tựu được như vậy, mọi việc đều được giải quyết êm đẹp, người người nhìn nhau trong niềm hoan hỷ và cùng chung sức với quý thầy phát triển ngôi nhà từ bi đời đời tỏa bóng mát an lạc.

* Trang 385 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì