LOGO VNBET

Giáo dục và hoằng pháp
Trước tiên cần khẳng định rằng vấn đề giáo dục và hoằng pháp của chúng ta cần phải được căn cứ theo tinh thần của đức Phật đã từng thể hiện trong cuộc đời giáo hóa độ sanh của Ngài. Nếu không, chúng ta sẽ đi lệch hướng theo ngoại đạo.
Chúng ta còn nhớ sau khi đức Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, Ngài xuống Lộc Uyển lập giáo khai tông; nói cách khác, đức Phật đã từ Phật giới xuống thế giới chúng sanh và lấy con người làm đối tượng đào tạo.
Đức Phật đã dựa trên ba tiêu chuẩn căn bản: đạo đức, tri thức và năng lực độ sanh để xây dựng con người thánh thiện theo Ngài. Và bốn chân lý hay tứ Thánh đế là bài pháp đầu tiên mà đức Phật hướng dẫn các Tỳ kheo phải nắm vững: Đau khổ của con người, nguyên nhân dẫn đến đau khổ, an lạc của chư Phật và nguyên nhân đưa đến an lạc.
         Như vậy, chúng ta thấy rõ bước đầu đức Phật nhắm đến việc xây dựng con người đạo đức, vô

* Trang 62 *
device

nhiễm. Và muốn làm việc ấy thành công, Ngài phải lựa chọn con người có ý hướng thượng mới đào tạo. Vì lẽ ấy, bắt đầu lập giáo khai tông, trước tiên đức Phật đã chọn năm nhà hiền triết có tâm hồn giải thoát để dạy dỗ; đức Phật không vội đào tạo tràn lan, tốn công vô ích.
Dưới sự giáo hóa của đức Phật, chỉ trong một thời gian ngắn, năm nhà hiền triết ở Lộc Uyển đã đắc quả vị La hán, nghĩa là có đạo đức thánh thiện. Sau đó, đức Phật dạy bốn chân lý thì họ liền hiểu được và ứng dụng trong cuộc sống, quét sạch tội lỗi, vô minh, trở thành bậc Thánh trí. Được phước đức, trí tuệ như vậy, đức Phật mới dạy họ việc truyền đạo, tức hoằng pháp.
Con đường hoằng pháp của đức Phật từ đó được mở rộng bởi những người đệ tử đạo đức, tri thức và có sức chịu đựng được mọi khắc nghiệt của thiên nhiên và vượt qua mọi bức bách của cơ thể. Vì thế, bước chân hoằng pháp độ sanh của Thánh đệ tử đến nơi nào đều được người người cung kính, cúng dường.
Nói đơn giản, đức Phật đã giáo dục, đào tạo nên các bậc Thánh nhân và họ đi truyền đạo với tư cách thánh thiện, nên hoàn toàn thành công, không chút chướng ngại. Điển hình là các Ngài đã cảm hóa được các giáo chủ của hàng ngoại đạo nổi tiếng thời ấy là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, ba anh em Ca Diếp, v.v…
Chỉ với một nhóm nhỏ năm người, các vị đệ tử của đức Phật đã mở rộng giáo đoàn một cách nhanh

* Trang 63 *
device

chóng, lên đến 1.250 vị. Rõ ràng là với tư cách thánh thiện tuyệt vời mới thành tựu được việc hoằng pháp siêu tuyệt như vậy. Điều này hoàn toàn khác hẳn với các tập đoàn đương thời đã lôi kéo, tập họp người một cách ô hợp, điều động sinh hoạt theo cách áp đảo, nên luôn xảy ra những cuộc tranh chấp nội bộ và chống đối lẫn nhau .
Với sự hiện hữu của giáo đoàn gồm 1.250 vị Tỳ kheo thánh thiện, đức Phật bắt đầu xây dựng sinh hoạt tu học theo ba pháp quy y. Tuân thủ ba pháp quy y, nghĩa là họ phải tập trung vào ba việc: phát huy tánh sáng suốt hay trí tuệ (quy y Phật), sống theo chân lý (quy y pháp) và sống hòa hợp với tập thể Tăng đoàn (quy y Tăng). Đó là tuyên ngôn đầu tiên của đức Phật. Ai không tôn trọng ba pháp quy y, không phải là đệ tử Phật.
Trong ba pháp quy y, đức Phật nhấn mạnh đến sự hòa hợp là việc quan trọng nhất. Thật vậy, Ngài dạy rằng tội lớn nhất là tội phá hoại sự hòa hợp của chư Tăng. Phá Phật thì Tăng cứu được, nhưng phá Tăng thì Phật không cứu.
Từ ý thức hòa hợp là chính yếu của người tu, đức Phật dạy thêm sáu pháp hòa kỉnh. Điều thứ nhất là hàng tu sĩ theo Phật phải sống tập thể, vì sống riêng biệt lâu ngày sẽ dễ buông lung theo ý thích cá nhân không tốt và sẽ dẫn đến hành động sai lầm, không ai chỉ bảo, sửa đổi. Đức Phật khẳng định rằng người xuất gia không sống với đại chúng không phải là xuất gia. Vì vậy mà đức

* Trang 64 *
device

Phật đặt ra giới luật chư Tăng phải cấm túc an cư hằng năm.
Sống chung tu học với đoàn thể Tăng già, thì người tu sĩ có thể luận bàn về bốn chân lý của đức Phật đưa ra để làm sáng tỏ những ý chưa thông suốt. Tuy nhiên, không được tranh cãi, gièm pha hay chống phá lẫn nhau. Khi ý kiến tập thể đã xác định việc nào đúng hay sai, mọi người đều phải tùy hỷ, tuân thủ ý kiến tập thể; không được bảo lưu ý riêng của mình. Nhất định phải tuân theo quyết định của đại chúng.
Xét về giới luật, những khuôn phép kỷ cương được tập thể đưa ra, phải tuân thủ, để giữ cho sinh hoạt của Tăng đoàn tồn tại lâu dài; không vì lý do gì mà cá nhân được làm khác.
Trong đại chúng cùng tôn trọng nguyên tắc kiến hòa đồng giải, nghĩa là sự thấy biết và giải thích phải đúng như thật, hợp lý, hợp tình và hợp ý mọi người. Theo pháp Yết ma của Phật, nếu còn một người chưa hòa hợp hay chưa chấp nhận thì việc cũng không thành.
Tất cả năm nguyên tắc hòa hợp nói trên dẫn đến kết quả tất yếu là mọi quyền lợi của đại chúng phải được chia đồng đều cho mọi người trong tập thể; không thể vì quyền lợi của cá nhân nào.
Đó là sáu nguyên tắc sống chung mà đức Phật đưa ra để xây dựng giáo đoàn thanh tịnh, hòa hợp, an vui. Và những người tuân thủ khuôn phép lục hòa

* Trang 65 *
device

kỉnh của Phật dạy thì họ luôn nghĩ đến tập thể và quyền lợi chung, nên tạo được sức mạnh đoàn kết trong Tăng đoàn. Sức sống tốt đẹp như vậy đã khiến cho những tổ chức hay các nhóm tôn giáo khác trong thời Phật tại thế phải kính trọng giáo đoàn do đức Phật lãnh đạo và cuối cùng hàng vua chúa đương thời cũng phải tùy thuận theo.
Có thể khẳng định rằng với phương cách giáo dục và hoằng pháp như trên, đức Phật đã thực hiện được mục tiêu là làm an lạc cho số đông, cho chư Thiên và loài người. Tuy nhiên, sau khi Phật Niết bàn, một số luận sư đã theo kiến giải của ngoại đạo hay của thế gian, họ coi trọng cách giáo dục và hoằng pháp theo hướng mới, nên quên mất phần căn bản giác ngộ theo Phật. Từ đó, họ lý luận, tranh chấp nhau đưa đến việc sản sinh ra các bộ phái Phật giáo không thể nào chấp nhận nhau. Kết quả thảm hại tất yếu của phương cách hoằng pháp sai lầm và chống phá giữa các bộ phái là sự suy yếu cho đến tan rã của Phật giáo. Thật vậy, trái với tinh thần giáo dục theo Phật từ khởi điểm, các bộ phái Phật giáo tưởng rằng họ thừa kế tư tưởng Phật dạy, nhưng thực sự họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng làm cho Phật giáo trở thành suy yếu.
Từ sai lầm của họ, chúng ta cần suy nghĩ thêm rằng có những điều mà nhiều người cho là đúng, nhưng thực sự có đúng hay không. Vì chân lý chỉ có Phật hiểu được; kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện,

* Trang 66 *
device

đức Phật cũng dạy rằng giả sử những hiểu biết của người trí thức có nhiều như lúa mè, tre lau tập họp lại cũng không thể nào hiểu được chân lý.
Vì không thể hiểu đúng đắn, thấu suốt ý Phật dạy, không ngộ được yếu chỉ của pháp Phật, nên người ta đã lầm tưởng hoằng truyền đạo pháp, trong khi thực ra họ đã phá đạo, tưởng là xây dựng xã hội nhưng lại làm cho việc xấu xa tệ hại thêm.
Theo căn bản sai lầm như trên, từ khi Phật Niết bàn cho đến nay, vấn đề giáo dục theo đạo Phật đã rơi vào ngõ cụt, vấp phải những lỗi lầm đáng kể và công việc hoằng pháp, truyền bá tư tưởng Phật giáo cho đại chúng cũng đi theo định kiến sai lầm của từng cá nhân hay nhóm người khác nhau. Một người hiểu biết sai và hành động sai thì chỉ một mình họ đọa địa ngục, không đáng kể. Nhưng sai lầm của họ truyền trao cho nhiều người cùng tiến thân trên con đường lầm lạc, gây tổn hại vô cùng cho biết bao thế hệ.
Từ tình trạng suy đồi của Phật giáo về giáo dục và hoằng pháp như vậy, Phật giáo Việt Nam cũng không thể nằm ngoài ảnh hưởng ấy, dẫn đến việc mỗi người tự cho rằng chỉ có tông phái mình là hay, là đúng; cuốicùng xảy ra việc bài bác, tiêu diệt lẫn nhau. Vì vậy có thời kỳ ở nước ta, Phật giáo chẳng còn được quan tâm.
Nhưng từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, người Phật tử mới bắt đầu tỉnh thức trước việc đất nước Việt Nam bị đô hộ và sự suy yếu của Phật giáo.

* Trang 67 *
device

Từ đó, xuất hiện những bài báo khơi lại hào khí của Phật giáo thời Lý Trần, đã đánh bại được quân Mông Nguyên. Có thể nói nhờ áp dụng đúng tinh ba của Phật giáo mà các vua quan Phật tử thời Lý Trần đã tạo được sức mạnh đoàn kết của Phật giáo cùng nối kết với nhân dân tạo thành sức mạnh vô song của cả dân tộc Việt Nam. Như vậy mới có khả năng đánh đuổi giặc ngoại xâm được coi như có sức mạnh tàn phá khiếp sợ đến mức người ta truyền nhau rằng gót giày của họ xâm chiếm đến đâu thì cỏ cũng không mọc nổi.
Trên nền tảng Phật giáo thạnh thì xã hội cũng thạnh, một số nhà cách mạng đã dựa vào Phật giáo để hoạt động. Thí dụ các nhà cách mạng đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều là những người nghiên cứu Phật pháp.
Và dẫn đến thập niên 1930-1940, xuất hiện nhiều phong trào học Phật. Mở đầu là hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và tờ Pháp Âm là tạp chíPhật giáo đầu tiên được xuất bản bằng chữ Quốc ngữ (1929). Năm 1932, bán nguyệt san Từ Bi Âm của Hội Nam kỳnghiên cứu Phật học ra mắt số đầu tiên.
Cũng năm này, ở Huế thành lập hội An Nam Phật học do bác sĩ Lê Đình Thám làm Hội trưởng. Hội An Nam Phật học cũng xuất bản nguyệt san Viên Âm năm 1933 và mở trường Phật học.
Năm 1934, hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập với chủ trương phổ biến giáo lý của Phật giáo bằng cách dịch kinh, mở trường Phật học và

* Trang 68 *
device

xuất bản tạp chí Duy Tâm thu hút được nhiều độc giả. Cũng trong năm này, hội Phật giáo Bắc kỳ thành lập tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Hội cũng xuất bản tuần san Đuốc Tuệ.
Năm 1935, Hội Thiên Thai Thiền Giáo tông xuất bản nguyệt san Bát Nhã Âm.
Từ sự khởi sắc như vậy của việc học Phật qua các hội đoàn và tạp chí Phật giáo, các vị cao Tăng nghĩ rằng không thể để sinh hoạt Phật giáo tiếp tục bị tách biệt riêng rẽ. Các ngài đã quyết tâm tập họp, thống nhất các tổ chức Phật học thành Liên đoàn Học xã để đào tạo Tăng Ni. Và trường Phật học đầu tiên được xây dựng năm 1933, nhưng Commis Chấn cản trở không cho hoạt động. Vì vậy, chư Tăng mới quyết định thành lập Liên đoàn Học xã mỗi khóa ba tháng đào tạo từ 80 đến 100 Tăng Ni.
Năm 1935, hội Lưỡng Xuyên Phật học khai giảng trường Lưỡng Xuyên Phật học với trên một trăm vị Tăng. Và chính các vị trong số Tăng Ni tốt nghiệp ở hai trường Phật học này là những người sau này đã thành lập Giáo hội Tăng già Nam Việt và Ni bộ Bắc tông.
Tất cả lớp Tăng sĩ trong các hội Phật giáo nói trên đều mang chí hướng thống nhất Phật giáo để sinh hoạt tu học Phật pháp được truyền đi đúng hướng theo tinh thần đức Phật đã thể hiện ban đầu. Vì vậy, việc vận động thống nhất Phật giáo được thành công qua Đại hội Phật giáo toàn quốc tổ chức tại chùa Từ Đàm, Huế ngày 6-5-1951. Đại biểu của

* Trang 69 *
device

sáu tập đoàn của Phật giáo ba miền: Phật giáo Tăng già Bắc Việt, Việt Nam Phật giáo (Bắc Việt), Giáo hội Tăng già Trung Việt, Việt Nam Phật học (Trung Việt), Giáo hội Tăng già Nam Việt và Hội Phật học Nam Việt đã tham dự và thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Với sự ra đời của Tổng hội Phật giáo Việt Nam thể hiện điểm cao nhất của ý thức thống nhất sinh hoạt Phật giáo. Nhưng giặc Pháp và phát-xít Nhật không muốn giới Phật giáo được phát triển như vậy, nên họ đã ngầm giúp đỡ những tổ chức khác chịu theo sự chi phối của họ để chống phá lại sinh hoạt của Tổng hội Phật giáo.
Nguyệt san Từ Quang là tiếng nói của Tổng hội Phật giáo, ngoài ra còn có báo Liên Hoa ở miền Trung và nguyệt san Phật giáo Việt Nam của miền Nam. Tuy nhiên vì không đủ kinh phí điều hành, nên chỉ ra được 24 số là phải đình bản. Chỉ có tạp chí Từ Quang phổ biến Phật pháp được lâu dài nhất, 25 năm.
Hàng tu sĩ bắt đầu học Phật chính quy qua các trường đào tạo như Phật học đường Báo Quốc hay Phật học đường Nam Việt hoặc hàng Phật tử học Phật pháp qua sách báo gồm những tạp chí nói trên. Từ đó dẫn đến phong trào thống nhất Phật giáo ở cao điểm vào năm 1963.
Trong giai đoạn từ lúc chính quyền Pháp đô hộ nước ta, họ không công nhận Phật giáo, cho đến năm 1963, họ phải công nhận thực thể Phật giáo với tính cách là hiệp hội.

* Trang 70 *
device

Và năm 1963, có thể nói Phật giáo Việt Nam đủ sức mạnh để yêu cầu xóa bỏ hình thức hiệp hội Phật giáo và phải công nhận Phật giáo như một tôn giáo. Đó là nguyện vọng chính đáng được Tăng Ni Phật tử cả nước ủng hộ, dẫn đến việc ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đây là Giáo hội duy nhất có hệ thống hành chính từ trung ương đến cấp tỉnh, thành và có hệ thống giáo dục về Phật học viện trong toàn miền Nam.
Cũng chính trong thời kỳ này, trình độ Phật học của Tăng Ni Phật tử được nâng lên cao nhất với sự hoạt động của Trường Đại học Vạn Hạnh đào tạo cấp cử nhân Phật học, do Hòa thượng Minh Châu làm Viện trưởng. Ngoài ra, còn có Cao đẳng chuyên khoa Phật học Huệ Nghiêm do Hòa thượng Trí Tịnh làm Viện trưởng.
Đến đây đánh dấu bước tiến cao nhất của việc giáo dục trong sinh hoạt Phật giáo miền Nam. Và kéo dài cho đến 1981 có thể coi là thời kỳ giáo dục của Phật giáo đạt được đỉnh cao với sự thành công trong việc đào tạo Tăng Ni có trình độ đại học, cùng một số tu sĩ được gởi ra nước ngoài đạt được học vị thạc sĩ, tiến sĩ.
Sau năm 1981, Phật giáo Việt Nam được thống nhất cả nước, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Vấn đề quan tâm nhất của Giáo hội chúng ta vẫn là việc giáo dục Tăng Ni Phật tử. Tâm huyết về giáo dục được cố Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận thể hiện qua việc xin phép thành lập được

* Trang 71 *
device

ba trường cao cấp Phật học tại ba miền Bắc, Trung, Nam để đào tạo Tăng tài.
Kế tiếp, ở Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ II, Nhà nước lại cho phép giới Phật giáo mở nhiều trường cơ bản Phật học ở các tỉnh và thành phố nhằm đào tạo lớp tu sĩ trẻ có trình độ phổ thông hoạt động cho Phật giáo địa phương.
Ngày nay, có thể nói hệ thống giáo dục của Phật giáo về phần cơ bản đã hoàn chỉnh. Tuy nhiên, điều quan trọng cần xét lại chất lượng đào tạo cũng như việc tuyển chọn người làm Phật ở các giới đàn có đúng với tuyên ngôn ban đầu của đức Phật đặt ra hay không ?
Thực tế cũng đã thấy có nhiều nơi số lượng tu sĩ được đào tạo rất đông, nhưng sử dụng có hiệu quả không được bao nhiêu, thậm chí còn phản tác dụng. Chúng tôi đề nghị Ban Giáo dục cần nghiên cứu phương cách giáo dục cho phù hợp với thời đại ngày nay đồng thời cũng không được trái với đường hướng mà đức Phật đã dạy. Được như vậy, chúng ta mới không vấp phải thất bại đau buồn mà kinh nghiệm lịch sử truyền bá Phật pháp của các nước hoặc của chính chúng ta trong các giai đoạn trước đã lỡ lầm. Thiết nghĩ tuyển chọn đúng người theo đúng tiêu chuẩn mà đức Phật đã đào tạo được hàng Thánh chúng thì chắc chắn Phật pháp phải hưng thạnh.

* Trang 72 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì