LOGO VNBET
HOẰNG PHÁP
Bài tham luận tại Hội nghị Trung Quốc năm 2009
Đức Phật đã vắng bóng trên cuộc đời hơn 25 thế kỷ, nhưng nhân cách thánh thiện của Ngài vẫn còn tác động cho mọi người kính ngưỡng tôn thờ. Và lời dạy của Đức Phật cho đến ngày nay vẫn còn là kim chỉ nam hướng dẫn loài người thăng hoa tri thức, đạo đức.
Đặc biệt là thời đại chúng ta được coi là thời kỳ văn minh khoa học tột đỉnh, giáo lý của Đức Phật lại càng sáng rực hơn, nhất là ở các nước tiến bộ phương Tây, vì đã mở ra cho con người một phương hướng thoát khỏi sự khủng hoảng, bế tắc do chính họ gây ra.
Ngày nay, tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của Đức Phật, nghĩ đến tinh ba Phật pháp, chúng ta không thể không ôn lại những nét đặc sắc trong phương cách giáo hóa của Đức Phật và các vị Tổ sư tiền bối, đồng thời vạch ra đường hướng mới trong giai đoạn hiện tại để hoạt động hoằng pháp thích nghi và phát triển lợi lạc cho đạo pháp và dân tộc.

* Trang 220 *
device

I – ĐỨC PHẬT VÀ CÁCH GIÁO HÓA CỦA NGÀI
Nhân cách siêu tuyệt của Đức Phật hàm chứa ba điểm quan trọng nổi bật, đó là sự hiểu biết cao tột, chính xác, đạo đức thánh thiện không chút lỗi lầm và đức hạnh vô ngã vị tha. Vì vậy, Ngài dung hóa được mọi thành phần xã hội quy ngưỡng theo Ngài, từ hàng vua chúa, trưởng giả, giới trí thức cho đến người bình dân và cả những người bị liệt vào hạng thấp kém trong xã hội. Dù là hạng người nào đến với Phật, Ngài đều dìu dắt họ thăng hoa tri thức và đạo đức.
Trên bước đường hoằng hóa độ sanh, Đức Phật đã thể hiện rõ nét việc phát huy trí tuệ và năng lực nhiếp hóa của Ngài. Suốt cuộc đời Ngài giáo dưỡng mọi người không biết mệt mỏi. Nói cách khác, ở nơi Phật toát ra đầy đủ sức mạnh về trí lực nghị lực và thể lực và đó chính là đặc tính ưu việt giúp Ngài thành tựu trọn vẹn công việc hoằng pháp lợi sanh.
Bước chân du hóa đến nơi nào, Đức Phật đều tùy hoàn cảnh của nơi ấy giúp người được an vui, lợi lạc. Có thể khẳng định cách giáo hóa của Đức Phật là vì người,làm lợi ích cho người.
Trước khi đi giáo hóa, Đức Phật nhập định, nghĩa là Ngài suy nghĩ xe nên đến nơi nào và làm gì để giúp ai. Ngài có suy nghĩ, có định hướng trong việc độ sanh và biết việc thật chính xác, biết rõ tâm tư, nguyện vọng, năng lực của đối tượng mà Ngài đến tiếp độ và tìm ra cách giải quyết tốt. Bấy giờ, Ngài mới đến với họ, khai thông bế tắc, đưa họ trở về nếp sống thánh thiện.

* Trang 221 *
device

Phương hướng mà Đức Phật truyền bá đạo pháp mang lại lợi ích thiết thực và cũng thể hiện trí tuệ vô thượng, hoàn toàn khác hẳn với cách nói suông, viễn vông của hàng ngoại đạo thời ấy. Khi hoàn tất công việc độ sanh, Ngài trở về tịnh xá và lại nhập định; nói cách khác, là suy nghĩ, tự xét lại những việc vừa làm. Sau đó, Ngài xả định, thuyết pháp cho đại chúng để họ nhận ra giá trị của bài pháp sống mà họ vừa được chứng kiến khi theo Phật và lấy đó làm kinh nghiệm tu hành.
Đức Phật giáo hóa trong khi du hành như vậy rất phù hợp với thực tế cuộc sống, giống như ngày nay giáo sư dẫn sinh viên đi dã ngoại để nắm bắt tình hình rồi sau đó hội thảo, học tập.
Và cuộc sống con người thì luôn trôi chảy, diễn tiến không ngừng. Bước đi trên dòng chảy của cuộc sống nhân sinh. Đức Phật cũng không ngừng thuyết pháp giáo hóa. Từ kim khẩu của Ngài, từ cuộc sống cao thượng của Ngài, các bài pháp cùng theo dòng đời mà lưu xuất, mang lợi lạc cho từng lúc, từng nơi, từng người khác nhau.
Sau khi Phật Niết bàn, những người chấp giáo điều, không phát triển được sức sống của trí tuệ của đạo hạnh, nên rơi vào cục bộ, không thể tiếp nối mạng mạch của đạo pháp.
Tuy nhiên, các nhà truyền giáo chịu ảnh hưởng tinh thần Phật giáo phát triển, nắm bắt được yếu nghĩa kinh và thể hiện trong cuộc sống theo phương cách của Phật. Nhờ đó, họ cũng phát huy được thể

* Trang 222 *
device

lực, trí lực và nghị lực, trở thành nhà tôn giáo lãnh đạo thực sự.
Thật vậy, chúng ta thấy các vị Tổ sư đều có óc sáng tạo, không đi theo lối mòn cũ. Các Ngài nương theo tinh ba Phật pháp, phát huy tầm nhìn chính xác, đưa ra những cương lĩnh mới thích nghi với thời đại, nên có sức thuyết phục được nhiều người. Từ đó, các Ngài mới lập giáo khai tông, dìu dắt nhiều người cùng tiến tu và tạo thành tông môn, hệ phái.
            II – SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY VIỆC HOẰNG PHÁP CỦA CÁC VỊ TỔ SƯ
Tiếp nối sự nghiệp truyền bá chánh pháp, có thể nói mỗi vị Tổ sư đều có sự thấy biết riêng biệt, không vị nào giống nhau. Nhưng điều chắc chắn là Ngài đều có tầm tri thức chính xác thích hợp với sinh hoạt đương thời, thể hiện thành việc làm lợi ích lớn lao cho đất nước, cho dân tộc, cho sự sống của đạo pháp được trường tồn.
Điển hình ở Nhật Bản, Ngài Nhật Liên đã đưa ra đường hướng thích hợp để vực dạy tình trạng trì trệ cổ hủ và tạo ra sinh khí mới cho việc phát triển sinh hoạt Phật giáo lẫn chính trị. Dân chúng Nhật kính ngưỡng Ngài như Thượng Hạnh Bồ tát của Kinh Pháp Hoa. Hoặc Ngài Đạo Nguyên Thiền sư là Tổ của phái Thiền Tào Động đã đề xướng phương pháp Thiền phổ cập cho quần chúng, ai cũng có thể thực hành được. Có thể nói đó là hình thức Thiền hóa sinh hoạt xã hội mà ngày nay đang phát triển mạnh. Một

* Trang 223 *
device

người làm việc mệt mỏi có thể thư giãn năm, mười phút, luyện tập hô hấp cho điều hòa trở lại, giải tỏa sự căng thẳng trí óc và tâm lý phiền muộn. Ở Trung Quốc thì Tổ Huệ Năng, Ngài có sức tập trung kỳ diệu, chỉ nghe một câu kinh Kim Cang mà ngộ đạo, chỉ giã gạo, gánh nước, bửa củi mà phát sinh trí tuệ vô lậu, trở thành vị Tổ thứ sáu thừa kế sự nghiệp của Ngài Hoằng Nhẫn.
Riêng ở Việt Nam, chúng tôi chỉ nêu một vài vị tiêu biểu như Thiên sư Thảo Đường, vua Lý Thánh Tông, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, v.v…Mỗi vị đều có cách nhìn riêng và cách truyền bá Phật pháp thích nghi với tình hình đương thời; nhờ đó các Ngài đã làm lợi cho đất nước nước, làm sáng danh đạo Phật. Ở đời Lý, Thiền sư Thảo Đường đưa ra đường hướng đổi mới, chủ trương đơn giản việc ăn, mặc, ở và nỗ lực đào tạo nhân tài, dùng phúc lợi trang trải cho dân nghèo khó, nâng cuộc sống của học lên để giải quyết các tệ nạn xã hội. Vua Lý Thánh Tông đã chịu ảnh hưởng giáo hóa của Thiền sư Thảo Đường. Tinh thần lo cho người dân được thể hiện qua câu nói thương dân và những việc làm nhân từ cho của nhà vua, dù là đối với tù nhân, còn ghi lại trong sách Đại Việt Sử ký: “ Trẫm ở trong thâm cung, sưởi lò than, mặc áo cừu dày mà còn thấy lạnh buốt, huống là tù nhân ở trong ngục chưa rõ là oan hay ưng…Trẫm thương xót họ. Hãy bảo viên cai ngục lấy chăn chiếu phát cho họ và cho họ ăn mỗi ngày hai bữa cơm đủ no…” Vua cũng giảm một nữa thuế cho dân.

* Trang 224 *
device

Ngoài ra, nhân dân Việt Nam và Phật giáo Việt Nam đều tự hào về hình ảnh Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Tùy theo tình hình đất nước mỗi lúc khác nhau mà Ngài có những việc làm tương ưng, lúc Ngài làm minh quân lãnh đạo đất nước phát triển, lúc Ngài làm dũng sĩ xông pha trận mạc bảo vệ quê hương,lúc thái bình, Ngài là Thiền sư đắc đạo. Tất cả những việc làm của Ngài đều mang lại lợi ích cho đất nước, hoặc phát triển tinh ba Phật pháp. Vì vậy, đối với Phật giáo Việt Nam, Đức vua Trần Nhân Tông chẳng những là vị đệ nhất Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mà còn là một vị Phật thể hiện trọn vẹn nét đặc sắc của Phật giáo Việt Nam, Phật giáo nhập thế tích cực trên tinh thần “ Tùy thuận thế duyên vô quái ngại, Niết bàn sanh tử đẳng không hoa”.
Nói chung, các vị Tổ sư dù xuất than từ thành phần nào, đều có cái nhìn mới mẻ thích nghi với thời đại, thấy được cách truyền bá Phật pháp tương ưng với thành phần nào trong xã hội đương thời; cộng thêm thể lực tốt, nghị lực phi thường giúp các Ngài đủ sức vượt qua mọi sự chống đối, ám hại. Từ đó, chư vị tổ sư mới trở thành nhà lãnh đạo tập họp và cảm hóa được người có duyên, chỉ đạo họ sống theo hướng thánh thiện, lợi ích cho chính họ và cho xã hội, đạo pháp. Còn người tham lam, mê muội, yếu kém tri thức lẫn đạo đức mà muốn độ người giàu, người giỏi, giống như người nấu cát muốn thành cơm.

* Trang 225 *
device

Ngày nay, tiếp nối sự nghiệp của chư vị Tổ sư, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tạo được những thành quả tốt đẹp. Thật vậy, đối trước những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, Giáo hội đã hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử sống thích ứng với xu thế đi lên của dân tộc và hoạt động tích cực, tạo cho Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh.
Những thành công trong nhiều lãnh vực mà Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đã gặt hái được trải qua gần 30 năm, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng xã hội an vui, đoàn kết,phát triển. Đây là điều khẳng định sự hiện diện hữu cần thiết và tốt đẹp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong mạch sống dân tộc.
III – PHƯƠNG HƯỚNG HOẰNG PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN TẠI.
Ai cũng biết vào thời đại chúng ta ngày nay, kinh tế đóng vai trò quyết định trong thành bại ở nhiều lĩnh vực và dĩ nhiên chi phối được nhiều lĩnh vực. Các nhà tôn giáo truyền bá cũng nhận thấy quy luật này và họ đã khai thác yếu tố kinh tế để phát triển sinh hoạt tôn giáo của họ.
Thực tế cho thấy các tổ chức tôn giáo thường mở công ty, xí nghiệp hay nhà máy, nói chung là lập cơ sở kinh doanh vừa đầu tư tiền bạc để chiếm lãnh thị trường, tạo ra của cải, vừa tập hợp người dưới hình thức công nhân, thợ thuyền làm việc cho họ. Tạo cho nhiều người có công ăn việc làm,có mức thu nhập

* Trang 226 *
device

cao để phục vụ cho cơ sở của họ, nghĩa là họ đã tạo mối quan hệ gắn bó thiết thực và chặt chẽ với nhiều người. Và từ đó dễ dàng hướng dẫn người trở thành tín đồ theo tôn giáo của họ.
Nói một cách công bằng, ai có khả năng nâng cao đời sống vật chất cho người khác, thì chắc chắn được theo.Ngoài việc giúp cho người phát triển về mặt vật chất, sự hướng dẫn người mở rộng tri thức, thăng hoa tinh thần cũng là điều cần thiết cho việc thu hút quần chúng.
Thiết nghĩ Phật giáo chúng ta muốn phát triển trong giai đoạn kinh tế làm bá chủ, thì cũng không thể không đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Có thể khẳng định rằng chúng ta muốn mạnh phải tự giải quyết được đời sống của chính mình và còn thừa sức lực, thừa của cải, thừa tri thức để xây dựng cho tín đồ vượt trội lên vật chất lẫn tinh thần.
Phật giáo không thể tồn tại nếu tu sĩ sống xa hoa, lãng phí, dựa vào tín đồ, hay tệ hơn nữa làm cho họ kiệt quệ thêm. Xưa kia, các bậc Tổ sư đều thông suốt ngũ minh và trên bước đường hành đạo, các Ngài đã sử dụng ngũ minh để dạy dỗ, cảm hóa mọi người, giúp họ mở mang kiến thức, phát huy nghề nghiệp, nâng cao cuộc sống tốt đẹp.
Theo tôi, ở thời đại chúng ta ngày nay, nhà truyền giáo cần trang bị vững vàng kiến thức về khoa học tự nhiên  và khoa học xã hội. Thực tế nhất là những hiểu biết về khoa học  tự nhiên như Toán, Lý Hóa, Sinh vật, Tin học, chúng ta phải nắm bắt

* Trang 227 *
device

được. Vì đó là tổng hợp tinh ba của trí thức con người đã phát triển theo trình độ văn minh tiến hóa, chúng ta sử dụng nó như phương tiện để rút ngắn vũ trụ bao la, lý giải cho người thời nay nhận ra những điều Phật dạy về Pháp giới, về môi sinh, về sự sống chết, diễn biến của các loại,… mà kinh diển diễn tả dưới dạng siêu hình.
Về khoa học xã hội như lịch sử, văn học, triết học, chúng ta cũng cần biết rõ. Thật vậy, để có thể song hành, hội thảo với mọi người, đòi hỏi nhà truyền giáo tất yếu phải nắm vững được lịch sử văn minh con người và sự tiến triển của tư duy con người thể hiện qua những tư tưởng lớn trên thế giới như triết học Đông phương, triết học Tây phương, v.v…
Bên cạnh những hiểu biết cần thiết nói trên, hàng tu sĩ hơn người ở tri thức đạt được từ sự thể nghiệm Phật pháp trong cuộc sống. Với nền tngr trí tuệ hữu lậu và vô lậu, giúp chúng ta ít nhất chưa đắc đạo, thì cũng hiểu rõ được những hiện tượng thiên nhiên và xã hội, đồng thời đưa ra đáp số đúng đắn cho những vấn đề mà mọi người không giải nổi. Làm được như vậy, mới có sức thuyết phục người theo ta.
Tóm lại, chúng ta ý thức sâu sắc con đường giáo hóa lợi ích thiết thực của Đức Phật đã trải qua và nhận rõ được sự thành công trọn vẹn của chư vị Tổ sư tiền bối trong việc nối tiếp mạng mạch hoằng dương chánh pháp.
Chúng ta tự khẳng định cho chính mình sứ mạng kế thừa sự nghiệp thánh thiện vô giá của Đức

* Trang 228 *
device

Đạo sư Thích Ca Mâu Ni Phật cùng chư vị Tổ sư, không gì khác hơn là mỗi nhà truyền giáo phải tự phát huy thế lực thể hiện nếp sống đạo đức, hiểu biết đúng đắn và những việc làm lợi ích cho đời, tốt đẹp cho đạo. Tiến bước theo lộ trình hoằng pháp của nhà truyền giáo chân chính như vậy, chúng ta xứng đáng là trưởng tử của Như Lai, hiện hữu trên cuộc đời được mọi người thương kính, quý trọng.
Đức Phật và chư vị Tổ sư, cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay đã vận dụng Phật pháp một cách thiết thực trong việc giáo hóa độ sinh, chuyển hóa mọi người thực hiện nếp sống đạo đức và tri thức, tạo thành xã hội ấm no, hạnh phúc.
Ngày nay, đi theo con đường của Đức Phật, dù là dân tộc nào, dù theo tông môn pháp phái nào, thiết nghĩ tất cả chúng ta đều cần thể hiện tinh ba của Phật pháp trong cuộc sống nhập thế đa dạng, để kiến tạo xã hội an lạc và phát triển, cũng như góp phần xây dựng ngôi nhà chung của nhân loại được hào bình và thịnh vượng.
Cầu nguyện hội nghị thành công tốt đẹp. Cám ơn sự lắng nghe của quý vị

* Trang 229 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì