LOGO VNBET

Hoằng pháp theo nhân duyên
(Bài giảng tại khóa Bồi dưỡng Giảng sư ngắn hạn cho các tỉnh và thành phố thuộc phía Nam, tổ chức cho các Giảng sư đã tốt nghiệp khóa Thiện Hoa và Trí Thủ, ngày 24-4-2000)
 
         Tại khóa học này, mỗi người đều có kinh nghiệm hành đạo ở từng địa phương khác nhau và hôm nay, chúng ta tập hợp về đây để cùng học kinh nghiệm chung của tất cả Giảng sư trên mọi miền đất nước. Chẳng những tôi truyền trao kinh nghiệm hoằng pháp cho quý vị và ngược lại, tôi cũng học được cách truyền đạo mà quý vị đã từng thể nghiệm ở địa phương mình.
Những vị Giảng sư ở Gia Lai, Kon Tum, Daklak, chắc chắn có kinh nghiệm nhiều hơn tôi trong việc truyền bá chánh pháp vào vùng đồng bào dân tộc hay vùng kinh tế khó khăn. Hoặc những vị từng giảng dạy giáo lý ở Kiên Giang, Cà Mau cũng đã hiểu rõ tâm tình và nhận thức của tầng lớp dân chúng ở những vùng xa nước ngập. Hay sống ở những vùng có những điều kiện không thuận

* Trang 33 *
device

duyên với giới Phật giáo chúng ta thì quý vị đã truyền bá Phật pháp như thế nào. Thiết nghĩ mỗi Giảng sư đều nêu lên những nét truyền đạo đặc thù mà mình đã thể nghiệm thành công hay thất bại, để chúng ta cùng nhau học hỏi, làm phong phú thêm sự hiểu biết cho nhau trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, một việc làm chính yếu của trưởng tử Như Lai.
Riêng tôi, bắt đầu hoằng pháp từ lúc chưa đủ tuổi thọ giới Tỳ kheo. Điều này cho thấy dù chỉ là Sa di cũng thuyết pháp được, nếu có khả năng; không nhất thiết phải là Tỳ kheo hay có chức vụ lớn rồi mới hoằng pháp được. Ở giai đoạn một, trong thời niên thiếu còn là Sa di học Tăng, tôi đã đi hoằng pháp, dĩ nhiên thành quả có cả thất bại lẫn thành công. Thật sự phải nói tôi đã nhờ những thất bại trong thập niên 50 - 60 mà có được những thành công ở thập niên 70 - 80 trong việc giảng dạy. Đó là điều mà tôi muốn chia sẻ với quý vị.
Đương nhiên ở thời niên thiếu, công việc hoằng pháp của tôi không thể nào sánh bằng quý vị Giảng sư trung ương hay những vị có uy tín. Tuy nhiên, có lợi điểm là khi chỉ làm Sa di thì có nói sai, cũng ít bị ai chấp nhứt. Có thể lợi dụng tuổi nhỏ của chúng ta truyền bá chánh pháp, nói được nhiều việc. Nhưng nói bằng cách nào và nói ở đâu khi ta còn nhỏ. Theo tôi, ở đâu cũng được, miễn là có người muốn nghe thì chúng ta sẽ đến thuyết pháp. Điều này cũng thể

* Trang 34 *
device

hiện lời dạy của Hòa thượng Thiện Hoa rằng nơi nào chúng sanh cần, ta sẵn sàng đến.
Điểm thứ hai chúng ta cần nghĩ thêm là tuy người muốn nghe, nhưng phải biết họ muốn nghe điều gì thì ta chỉ nói điều đó. Nếu cái họ cần nghe, nhưng ta chưa biết, chắc chắn phải tìm hiểu cặn kẽ để truyền trao cho họ. Nói đúng ý họ ưa thích, mong muốn biết, tất nhiên buổi giảng của ta thành công. Đó là kinh nghiệm hoằng pháp thời Sa di của tôi.
Thuở nhỏ, tôi chưa phải là Giảng sư Ban Hoằng pháp, nên tôi chỉ được giảng vào những ngày lễ lớn như Vu lan và Phật đản. Vì hai mùa này ở đâu cũng tổ chức thuyết giảng mà Ban Hoằng pháp trung ương và các tỉnh không có đủ Giảng sư đảm nhận. Khả năng của ta còn yếu kém thì tìm thời gian nào mà người cần, chúng ta có cơ hội thực tập giảng dạy. Tôi chỉ chọn hai đề tài Vu lan và Phật đản để nghiên cứu cho việc thuyết giảng lúc đó. Theo kinh nghiệm của tôi, không nên nói rộng, nói nhiều, vì nói rộng khó trình bày cho hay và dễ nói sai.
Bước đầu, tôi sưu tầm tài liệu về hai đề tài Vu lan và Phật đản cho thật phong phú và tìm cách trình bày sao cho thật thuyết phục người nghe. Làm Giảng sư mà không nắm rõ tư liệu thì không thể nói chính xác. Sưu tầm tài liệu trong các kinh Nguyên thủy và Đại thừa. Đến giảng ở nơi đa số người theo Phật giáo nguyên thủy, ta có sẵn tư liệu và trình bày theo nguyên thủy thì họ mới chấp nhận được.

* Trang 35 *
device

Hoặc chúng ta tìm xem kinh điển Đại thừa nói thế nào về Vu lan thì theo đó mà trình bày.
Tinh thần của chúng hội đạo tràng hướng về Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa, chúng ta đều có tài liệu trình bày thích hợp với căn tánh hành nghiệp của họ, thì họ cho rằng chúng ta nói đúng chánh pháp. Cần ý thức rằng Phật pháp không tranh cãi, đừng bao giờ đứng ở góc độ Đại thừa mà nói cái sai của Nguyên thủy hay ngược lại khen Phật giáo nguyên thủy là chính gốc, chê Phật giáo Đại thừa không đúng. Một số Giảng sư có người theo, nhưng cũng bị không ít người chống đối là vì phạm sai lầm này. Chúng ta nói pháp để người trong Phật giáo chống đối lẫn nhau, chúng ta đã phạm tội lớn. Riêng Phật giáo Việt Nam có thêm phái Khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập. Theo tôi, muốn thuyết giảng ở các tịnh xá Khất sĩ, chúng ta phải nghiên cứu thêm bộ Chơn lý. Tôi giảng ở Trung Tâm tịnh xá hay Ngọc Phương được chấp nhận vì tôi không giảng những gì ngược với Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang.
Việc làm của chúng ta là kết hợp Phật giáo nguyên thủy, Đại thừa và Khất sĩ trong một ngôi nhà chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Gây mâu thuẫn trầm trọng thêm là phá pháp, rơi vào tà đạo, không phải tư cách của vị sứ giả Như Lai đang tuyên dương chánh pháp. Số người đến nghe pháp do tôi thuyết giảng đều có đủ thành phần theo Nguyên thủy, Đại thừa và Khất sĩ. Cả ba hình thức này đều

* Trang 36 *
device

là những nhân tố chính yếu quan trọng cho sinh hoạt vững mạnh của Giáo hội chúng ta. Dù mang màu áo nào, chúng ta cũng nhất định phải tôn trọng những pháp phương tiện riêng biệt khác nhau của mỗi hệ phái.
Ngoài ra, trong Phật giáo chúng ta còn có điều cần cân nhắc về hình thức khác nhau, đa dạng. Nếu đến thuyết pháp ở vùng mà nhiều Tăng Ni Phật tử theo Phật giáo cổ truyền, tức đa số quý Thầy có gia đình, chúng ta khai thác giáo lý bằng cách nào?
Chúng ta khích bác, nói rằng điều này trái với giáo lý; đương nhiên là nguy hiểm. Theo tôi, tấm lòng chúng ta cần mở rộng để bao dung, có một cái nhìn thoáng để không rơi vào thái độ cực đoan, một thái độ không bao giờ có trong đời sống của Đức Phật. Theo Phật cũng như theo kinh Pháp Hoa, không có một pháp cố định nào đưa chúng ta đến quả vị Phật. Nói cách khác, "Nhứt thiết thế gian tư sanh sự nghiệp”, nghĩa là tất cả pháp trong thế gian này không có cái nào không phải là Phật pháp. Nếu chúng ta biết, tất cả thế gian pháp biến thành Phật pháp, không biết thì biến Phật pháp thành tà pháp. Đa số phạm sai lầm này, tức chấp vào một lời nói nào đó của Phật hay chấp vào một bộ kinh, coi đó mới là chân lý, những cái còn lại đều sai. Ôm chặt lấy cái ta cho là chân lý thì từ đó phát sinh ra vấn đề chân lý của ta và chân lý của người đụng chạm nhau, dẫn đến đả phá lẫn nhau. Tìm mọi cách bảo vệ chân lý của riêng mình đến cuối cùng giết hại nhau.

* Trang 37 *
device

Giết nhau vì lý tưởng thì rõ ràng là tà pháp. Hoặc chánh pháp mà chúng ta thuyết giảng gây đau khổ cho người, tất nhiên cũng là tà pháp. Ai cũng biết pháp Phật nhằm mang lợi ích, an vui cho mọi loài; cứu cánh của đạo Phật chỉ là giải thoát an vui.
Có lần tôi vào thăm ngôi chùa cổ, vị Trụ trì giới thiệu với tôi hình các vị Hòa thượng trên bàn thờ Tổ rằng đây là ông nội con, ông ngoại con, ba con… Chúng ta phải biết đó là hệ phái cha truyền con nối trong đạo Phật ở Việt Nam. Nếu chúng ta bài bác, chống đối họ, ắt hẳn là nguy hiểm đến tánh mạng ta. Vị Trụ trì mặc quần đùi, nhưng thấy tôi trang nghiêm, ông mới mặc áo tràng vô. Và tôi rất bình tĩnh, thanh thản, tìm một lời khuyên thích hợp thì họ cũng nghe. Tôi thấm nhuần tinh thần Pháp Hoa dạy rằng tất cả là Phật pháp, nên hài hòa với tất cả. Đừng chống đối, thù nghịch, vì đó là thái độ của phàm phu ngàn đời ở trong sanh tử.
Có Thầy nói với tôi rằng "Tức lắm, họ vậy, ta vầy, đứng chung làm giảm uy tín ta”. Theo tôi, người đạo đức đứng chung với người ác xấu thì hào quang của người tốt tăng thêm, chớ không thể giảm bớt. Với tinh thần bao dung theo kinh Pháp Hoanhìn về người thì chỉ cần một câu, một kệ, một niệm tùy hỷ đều hướng đến Vô thượng bồ đề, được Đức Phật thọ ký.
Ở nước ta có nhiều người theo đạo Phật, các Thầy không thấy quý, chê bai họ. Nhưng có dịp đến một nước không có người theo đạo Phật, chỉ gặp

* Trang 38 *
device

được một người biết chắp tay xá, tôi thấy cũng quý vô cùng. Thật vậy, ba mươi năm trước, tôi vào trường đại học ở châu Âu, không ai biết gì về đạo Phật, lúc đó tìm được một người bạn biết đạo Phật, tôi thấy mình được an ủi. Tôi nhận ra ích lợi của một niệm tâm tùy hỷ. Chỉ cần người chấp nhận cách sống của ta không giống ai ở nơi đó, ta cũng cảm thấy quý biết bao.
Công việc hoằng pháp của chúng ta là tuyên dương chánh pháp của Phật, nhưng đừng làm đau nhức lòng người. Một số Thầy không thành công vì phạm sai lầm như sau. Họ nhờ tôi giới thiệu để đi thuyết pháp. Sau đó lại mang y về và thưa rằng bị người ta chống phá quá. Tôi dạy rằng chính Thầy phá, không phải người phá. Vì ban đầu họ thỉnh và tôi giới thiệu, người ta thỉnh là quý rồi, đâu có ai chống phá. Nhưng Thầy xử sự thế nào mà người ta không chịu nổi, thử hỏi như vậy là truyền bá đạo gì.
Mới đầu người ta chưa biết mình, chống mình thì Phật dạy Phú Lâu Na rằng người thuyết pháp trước tiên phải làm cho người hiểu mình và sau làm cho người thương, rồi mới được bỏ đi. Chỗ người đang mến đạo, có thỉnh đàng hoàng, nhưng thầy làm mất cảm tình tốt đẹp rồi bị họ đuổi đi, làm sao tôi giới thiệu đến chỗ khác được nữa. Thực hiện lời Phật dạy, họ chưa hiểu, phải làm cho họ hiểu ta là người tốt, đến không vì quyền lợi gì, chỉ vì người, chắc chắn họ phải thương ta.
Kinh nghiệm tôi tu hành từ nhỏ, không đến thì thôi, nhưng đến phải hoàn thành sứ mạng rồi mới

* Trang 39 *
device

trở về. Người chưa biết đạo, chưa kính Tăng, tôi làm cho họ hiểu đạo, trọng Tăng; thực hiện được mục đích này xong, ta về, họ còn thương tiếc và sau sẽ thỉnh ta giảng nữa. Không phải mới đến giảng thì được người ca ngợi và tiếp tục ở lại thì người chán, không muốn nghe. Ra đi để lòng họ còn tiếc nuối, gieo vào hạt giống từ bi cho họ, để sau này họ còn muốn tiếp tục nghe ta triển khai Phật pháp để thực hành trong cuộc sống của họ.
Khi tôi trưởng thành và ra trường, Hòa thượng Trí Thủ làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất. Ngài không biết tôi, vì ngài xuất thân ở Quảng Trị và truyền giáo ở miền Trung. Ngài vào miền Nam tìm Giảng sư để hợp tác làm việc trong ngành hoằng pháp. Hòa thượng Thiện Hoa là Trưởng ban Hoằng pháp miền Nam mới giới thiệu tôi với ngài. Lúc đó tôi mới thọ giới Tỳ kheo và cũng là thời kỳ giới Phật giáo chúng ta bị pháp nạn. Vì vậy, đối với công việc hoằng pháp, vừa cần Giảng sư lại vừa cần người vận động cho phong trào đấu tranh của Phật giáo. Lúc đó mà nói chuyện tu hành thuần túy thì không ai nghe, vì hoàn cảnh lịch sử đang ở trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Đối với tôi, đến đây bước sang giai đoạn mới, nên việc làm cũng phải đổi mới.
Trong thời kỳ này, tôi học được nhiều ở sinh viên, học sinh trong phong trào tranh đấu của thành phố Sài Gòn. Cái cũ không sử dụng được, tôi xếp lại, để yên và dùng cái mới. Lúc đó, sinh viên học sinh

* Trang 40 *
device

đang sôi sục máu căm hờn. Thuyết pháp của tôi là chống chính phủ Diệm. Thật sự giáo lý không dạy chúng ta chống đối, nhưng trước mắt, mọi người đều chống, mình không chống là bị loại bỏ liền. Các Hòa thượng Pháp sư nổi tiếng đều im hơi lặng tiếng, vì không ai nghe. Chỉ còn Thầy Giác Đức có hàng vạn người nghe, họ nghe tranh đấu, không phải nghe thuyết pháp! Ta chỉ còn cách hoặc là hội nhập phong trào, hai là kiếm chỗ ẩn tu.
Theo kinh nghiệm tôi ở giai đoạn hai, trên bước đường hoằng pháp, từ năm 1963 - 1965, tôi thuyết pháp theo phong trào, được quần chúng ủng hộ; nói ngược lại thì bị họ dập. Tôi phát hiện tinh thần bất biến tùy duyên và tùy duyên nhưng phải bất biến. Bất biến thì còn ở lại trong đạo, vì tùy duyên một lúc mà đánh mất tính chất bất biến trong chúng ta là đạo, chỉ còn căm thù như một số bạn đồng hành của tôi. Họ từ bất bạo động chuyển sang bạo động và ít lâu sau là cởi bỏ áo tu và từ bỏ nếp sống người tu. May mắn cho tôi, đến đây tôi tự nghĩ nếu đi theo con đường tranh đấu như thế này mãi, tôi cảm nhận mình đã tách rời khỏi Phật pháp khá xa rồi, đã bước ra khỏi nhà đạo rồi; vì sinh hoạt thật sự chỉ còn toàn phiền não, tham sân. Có thể tưởng tượng ví von như hình ảnh Tam Tạng đã bước ra ngoài vòng tròn an toàn của Tề Thiên vẽ để bảo vệ Thầy, nên phải thọ nạn!
Tôi nhận chân được điều ấy, nên sau khi Phật giáo thoát nạn, tôi sang Nhật Bản tu học tám năm. Ai

* Trang 41 *
device

hỏi gì về tình hình Phật giáo miền Nam, tôi đều trả lời không biết. Trải qua tám năm, tôi tự ép mình trong thư viện, trong Thiền viện, tu viện để rèn luyện tư chất người tu, xóa đi bụi bặm phiền não trần lao. Tôi chỉ làm bạn với những nhà nghiên cứu Phật học hay những Thiền sư để tìm hiểu nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật, để thăng hoa đời sống tâm linh và tri thức của mình. Theo kinh nghiệm làm Giảng sư của tôi, có những lúc xông pha với người, có lúc phải ẩn tu để bồi dưỡng những gì cao quý của đạo mà mình bị mất mát. Thiếu phần huân tu nội giới, chúng ta khó hành đạo. Cần nhớ rằng không phải lúc nào chúng ta cũng làm đạo được. Tham gia phong trào, tham dự học xứ của Bồ tát đều cho tôi kinh nghiệm khác nhau, giúp ích nhiều cho tôi trong việc hoằng pháp.
Nhờ tám năm ẩn tu, tôi mới hiểu được giáo lý sâu sắc và hoàn thành luận án về kinh Pháp Hoa và tôi chọn kinh này làm lẽ sống. Và cũng nhờ đó mà tôi thành tựu được một số Phật sự trong những thập niên gần đây. Đây là giai đoạn ba của việc hoằng pháp, tương đối chín chắn, tôi thực hiện được tinh thần tùy duyên bất biến. Trong việc hành đạo, tôi hài hòa, hợp tác được với người, cố gắng không làm mất lòng người và riêng bản thân tôi lấy việc giải thoát tu hành là chính. Còn việc hội nhập với cuộc đời, đóng góp được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Trải qua hai mươi lăm năm hành đạo (từ 1975-2000), bảy năm làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên và tám

* Trang 42 *
device

năm làm Trưởng ban Hoằng pháp, đều nhờ ứng dụng thành công pháp tùy duyên bất biến. Tùy duyên là sao? Thí dụ ở Cần Thơ, Ban Tôn giáo và Mặt trận tỉnh ủng hộ việc chúng ta tổ chức đào tạo Giảng sư cho các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long, cũng như Tăng Ni và Ban Trị sự tỉnh mong mỏi điều này. Như vậy đã đủ duyên thì Ban Hoằng pháp tổ chức nơi đó trước. Trong khi ở trung ương, ở thành phố Hồ Chí Minh chưa đủ điều kiện thì chúng ta chưa thể tổ chức được. Đừng nhất định phải làm ở chỗ này hay chỗ khác. Và sau khi khóa đào tạo Giảng sư ở miền Tây thành công thì thành quả này tác động lại cho thành phố Hồ Chí Minh và miền Bắc, miền Trung cũng lần lượt tổ chức được các khóa bồi dưỡng Giảng sư. Đủ duyên thì việc tự thành tựu, hết duyên thì ra đi, hãy để mọi việc tự thanh thản như vậy, đó là kinh nghiệm của tôi.
Đối với quần chúng Phật tử, từ năm 1975 cho đến nay, họ không muốn đấu tranh, nhưng ham thích tìm giáo nghĩa áp dụng trong cuộc sống để được an vui, giải thoát. Hòa thượng Thanh Từ là vị thành công nhất trong việc thuyết giảng. Ngài chỉ chuyên dạy cho người tu hành và được rất nhiều Tăng Ni Phật tử kính ngưỡng. Tôi về nước thấy rõ điều này, trước kia, ngài không giảng kinh, ở núi Lớn Vũng Tàu, nhưng người ở thành phố Hồ Chí Minh, thậm chí ở tận Qui Nhơn cũng bao xe đến nghe ngài giảng Thiền, vì họ tu theo ngài, cảm nhận được sự an lành.

* Trang 43 *
device

Theo tôi, trong hai mươi lăm năm vừa qua, vị nào giảng về nội tâm đều thành công, và đó mới là thực chất của đạo. Muốn vậy, ta phải có đời sống nội tâm, không phải chỉ giảng bằng ngôn ngữ, phân tích giáo lý để người hiểu theo động loạn của căn trần thức. Giảng Thiền đòi hỏi nội tâm yên tĩnh, càng yên tĩnh càng tác động vào cuộc đời một cách tốt đẹp. Thiền vô ngôn là vậy, việc giảng chỉ là phụ, thực chất là việc tu hành của chúng ta. Tâm chúng ta bình ổn đến đâu, ảnh hưởng cho người đến đó.
Với tư cách Trưởng ban Hoằng pháp thuyết pháp ở các giảng đường, nhưng chính yếu của tôi là truyền tâm hơn là truyền ngôn ngữ. Tôi không giảng nhiều, không nói những cái lạ thường, nhưng người theo nghe vì theo tâm thanh tịnh. Tâm tôi an vui, trong sáng thì người cũng hưởng được tốt lành đó. Tôi nhắc nhở các vị Giảng sư làm thế nào an ổn tâm hồn mình, mới truyền pháp được cho người. Tâm chúng ta đầy phiền não có thuyết giảng cũng chỉ là giảng phiền não, truyền cho họ buồn phiền, có nói pháp cũng thành tà pháp. Chánh pháp của Phật chỉ có với người thân tướng giải thoát và tâm thanh tịnh. Điển hình như Mã Thắng Tỳ kheo không nói, nhưng Xá Lợi Phất nhìn thấy chứng sơ quả, đó là pháp vô ngôn. Còn văn tự Pháp sư càng nói, người càng sanh nghi ngờ và phạm lỗi, buồn phiền, không phải pháp sư tuyên dương chánh pháp Phật.
Có thể kết luận rằng ở chừng mực nào đó, quý Thầy rèn luyện khả năng nói trước thính chúng;

* Trang 44 *
device

nhưng điều quan trọng hơn là rèn luyện tâm thật yên ổn, trong sáng trước mọi tình huống, xây dựng cho mình một hiểu biết càng cao càng tốt và đạo đức thánh thiện theo con đường Phật dạy. Thành tựu những tư chất như vậy, dù không nói, người cũng an vui theo ta, dễ dàng thực hiện công việc hoằng pháp lợi sanh đạt kết quả tốt đẹp.

* Trang 45 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì