LOGO VNBET
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY
KINH HOA NGHIÊM
(Bài giảng lớp Giảng sư Cao cấp 13-12-2002)
          Khi thuyết giảng các anh em nên tập hợp tư liệu đầy đủ và soạn dàn bài; kế đó, tập nói cho chính ta nghe, cho bạn đồng học cùng nghe hoặc ghi âm lại. Sau đó, nhờ huynh đệ góp ý về ngôn ngữ, cử chỉ, ý tứ của bài giảng. Làm như vậy để chúng ta sửa chữa những sai sót, dần dần khắc phục được nhược điểm, ta trở thành người có năng lực thực sự. Ngày xưa tôi cũng áp dụng phương pháp này và khi làm Trưởng ban Hoằng pháp, tôi cũng thường nghe bạn chỉ bảo thêm để hoàn thiện việc giảng dạy của mình. Hôm nay tôi nhắc các anh em ý này để tự phát triển năng lực.
Một phần khác không kém quan trọng là việc trình bày giáo nghĩa đòi hỏi sự chính xác càng nhiều càng tốt. Nếu nói theo ý của riêng mình mà sai thì nguy hiểm. Mộy Ni sinh đã trình bày về Thiện Trụ Tỳ kheo, nhưng chắc chắn là không ai hiểu rõ cô muốn nói gì, vì áp dụng khoa học vào bài giảng,

* Trang 99 *
device

nhưng trình bày khoa học không ra khoa học, giáo lý không ra giáo lý.
Mục tiêu của vấn đề chúng ta đưa ra phải chính xác và dễ hiểu, giúp người nghe tiếp thu được là thành công. Điển hình như đối với Thiền học đương nhiên rất khó, nhưng Hòa thượng Thanh Từ đã khéo léo giảng Thiền như sinh hoạt hàng ngày làm cho người nghe ở trình độ thấp cũng tiếp thu được.
Kinh Hoa Nghiêm hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa, khó hiểu; các anh em phải giảng cho dễ, cho người nghe được. Mở đầu chúng ta thấy Thiện Tài vân du cầu đạo, gặp Văn Thù khai ngộ. Văn Thù khai ngộ Thiện Tài mà không khai ngộ cho người khác là ý quan trọng cần giải thích. Chúng ta nên nói thêm rằng khi tu Thiền hay hành Bồ tát đạo thì tư cách của người hành các pháp này phải có. Điển hình kinh Hoa Nghiêm cho thấy Văn Thù giảng giáo lý cho 6.000 Tỳ kheo trước, nhưng nửa chừng Ngài không nói nữa; vì để chấm dứt phần tư tưởng dạy hướng giải thoát cá nhân thì đến đây là vừa. Tỳ kheo có ba nghĩa: Khất thực, phá ác, bố ma, nghĩa là tự độ làm chính, làm như vậy là đủ. Vì vậy, đến đây, Văn Thù chỉ gợi ý cho 6.000 Tỳ kheo nên phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo và Ngài nói với họ rằng Ngài phải đến độ Thiện Tài. Điều này nhằm dạy rằng người có đủ điều kiện mới hành Bồ tát pháp được, nên Văn Thù phải đi tìm Thiện Tài mà dạy.
Thiện Tài là người thế nào? Thiện Tài sinh ở Phước Thành, hay có nghĩa là lấy phước làm chính.

* Trang 100 *
device

Trong Phật giáo đề cao người có phước: Sống lâu, sức khỏe tốt, giàu có, thông minh, có nhiều quyến thuộc và nhất là tâm hồn an vui. Hành Bồ tát đạo đòi hỏi phải có những điều kiện này, đạo sư mới giúp chúng ta phát huy Bồ tát hạnh được, đó là khai ngộ. Người không có khả năng thì giúp cũng không được.
Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời, hay Đạt Ma Tổ sư phải vượt trùng dương đến Trung Quốc tìm người để độ, Tỳ Ni Đa Lưu Chi lặn lội sang Việt Nam cũng tìm người để độ, hoặc vua Trần Nhân Tông chỉ tìm Pháp Loa dù chỉ 23 tuổi để truyền pháp. Lý sâu sắc là ở đó.
Thực tế dễ hiểu là phải biết rõ người có khả năng hiểu biết, tiếp thu được thì mới truyền trao được. Đem trao cho người không có khả năng thì làm cách nào mà họ tiếp thu. Chúng ta nói việc thực tế là Thiện Tài có đủ điều kiện tiếp nhận Bồ tát pháp.
Thiện Tài là nhân vật giả tưởng trong kinh Hoa Nghiêm, có người cho đó là Bồ tát hiện thân hay nhân cách hóa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật đã được diễn tả dưới dạng khác, nhằm chỉ con người như vậy mới thành Phật được. Người không có sức khỏe phi thường hay không thông minh, ứng xử bén nhạy, hoặc không có quyến thuộc mà phải vượt qua 53 thành trên lộ trình cầu đạo, chắc chắn gặp vô số việc không đơn giản.
Đức Phật có quá trình hành đạo, tu học thì vấn đề sức khỏe và sống lâu là căn bản nhất. Học xong rồi chết thì chưa được gì. Các anh em học xong phải

* Trang 101 *
device

làm việc để phát triển khả năng. Riêng tôi đã trải qua thời gian học và làm việc, nay đến cuối đời thì không có gì quan trọng nữa. Tôi sợ nhất học rồi không làm được gì.
Có sức khỏe, tiếp thu nhanh và làm việc giỏi là những điều kiện giúp Thiện Tài vào đạo dễ dàng. Điều này gợi ý chúng ta việc chọn người xuất gia. Phật giáo chúng ta phạm sai lầm khi suy đồi là đã chọn người xuất gia không tốt, nên sinh ra những tệ nạn.
Khi Phật giáo suy đồi, người tu ra ngoài không làm được, bị xã hội đánh giá thấp vì trình độ kiến thức, sức khỏe, năng lực không có. Nhiều Hòa thượng nói sợ đệ tử học giỏi thì không tu nữa, các Ngài quan niệm dở, dốt, bệnh hoạn mới tu.
Kinh Hoa Nghiêm sửa đổi tư tưởng sai lầm trên bằng cách chọn thành phần ưu tú nhất của xã hội để làm nhà lãnh đạo tinh thần. Người bệnh hoạn, ngu dốt, nghèo đói đi tu đông chỉ có lượng mà không có phẩm, gây khó khăn nhiều hơn. Thực tế lịch sử chứng minhchỉ cần một pháp sư Ngô Chân Lưu, một Vạn Hạnh Thiền sư là xây dựng được cả triều đại. Kinh Hoa Nghiêm đưa ra mẫu người có khả năng hành Bồ tát đạo qua hình ảnh Thiện Tài đồng tử sinh ở Phước Thành.
Hoặc Đức Phật sinh dòng họ Thích, thừa hưởng di sản tổ tiên bảy đời làm vua hiền đức nổi tiếng ở Ấn Độ. Ngài sinh trong gia đình cao quý, bẩm chất thông minh, sức khỏe tuyệt vời, từ bi tâm vô hạn.

* Trang 102 *
device

Người như vậy tu thành Phật mới gánh vác được việc cứu nhân độ thế, làm Thầy của Trời người. Vì vậy, tiên A Tư Đà tiên đoán rằng nếu Ngài không tu thì đứng đầu thiên hạ làm Chuyển luân Thánh vương, tu thì làm Phật. Khẳng định vị trí người tu cao hơn vua chúa là kinh Hoa Nghiêm muốn giới thiệu một Đức Phật như thế.
Bắt đầu xuất gia học đạo, chúng ta phải làm gì trước? Tất nhiên phải có giới, định, huệ. Nhưng kinh Hoa Nghiêm dạy đức hạnh là căn bản, từ đây tiến lên phát triển tri thức. Có đức hạnh và tri thức rồi, mới gia công Thiền quán, đó là ba việc chính của Thầy tu. Không có ba việc này chưa đủ tư cách Thầy tu.
Thiền định của Thiện Trụ Tỳ kheo đặt nặng việc trụ tâm. Thật vậy, bắt đầu việc tu của chúng ta là không bị hoàn cảnh tác động. Vì vậy gọi Thầy tu là Samadhi, tức là người có sức tập trung cao, không bị hoàn cảnh chi phối. Các anh em phải luyện đức tánh này, không giận, không buồn, không bị mọi việc lôi cuốn.
Từ trụ tâm của Thiện Trụ Tỳ kheo là ý chính, chúng ta triển khai rằng Phật dạy người trụ tâm sẽ biết được tất cả là huệ. Người tán loạn hiểu cạn cợt, họ sống với võ não nên kiến thức họ chỉ chung chung. Đa số chúng ta sống như vậy, Thức là suy nghĩ của chúng ta do hiểu biết phân biệt, không phải của người tu. Phật dạy chế tâm nhứt xứ vô sự bất biện.

* Trang 103 *
device

Trụ tâm bằng cách nào? Có người trụ tâm ở sóng mũi hay một vật gì đó. Việc này dễ lạc, tu Thiền sai bị Tổ quở là cũi mục than nguội; vì chúng ta trụ ở sóng mũi hay vật làm tâm bị cứng ngắc. Thiền Lâm Tế dạy quán thoại đầu, Thiền sư ra một câu ẩn chứa tinh ba, Thiền sinh phải tìm được nội dung của câu đó để hiểu được lòng Thầy. Tu như vậy, một thời gian, Thầy trò hiểu nhau. Có thể một, hai năm hay chỉ một đêm Thiền quán mà nhận ra được ý của Thầy và trình cho Thầy chấp nhận. Chế tâm nhứt xứ ở đây là trụ tâm vào thoại đầu. Kinh Hoa Nghiêm có dạy như vậy không?
Kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta trụ tâm là đưa tâm vào pháp giới, tức bản thể sự vật, phải quán thẳng thật tướng các pháp. Bắt đầu tập trung tư tưởng để phân tích từng vật, cố tìm được gốc của vấn đề làm phát sinh ra các hiện tượng. Quán từ gốc nên biết được hiện tượng và biết được các pháp biến dịch trong trời đất là ngộ đạo.
Áp dụng pháp này, muốn nhớ gì, hiểu gì, tôi tập trung vô đó thì tất cả việc không tác động tôi, dù tôi đang ngồi chung với mọi người, nhưng không để ý. Vì vậy tôi hiểu được việc làm của Thiện Trụ là tập trung được, làm chủ được để thấy chính xác mọi vấn đề. Thầy tu hơn người đời là vậy, nhờ tập trung cao, có trực giác.
Trước khi gặp Thiện Trụ, Thiện Tài gặp Hải Vân Tỳ kheo tiêu biểu cho sự am hiểu giáo lý Phật, gọi là giáo pháp Pháp thân của Phật để lại cho

* Trang 104 *
device

chúng ta. Chúng ta có trầm mình vào giáo lý của Phật trước, rồi tập trung thì mới tập trung tư tưởng vô giáo lý Phật được, còn tập trung không thì được gì. Thiện Trụ tập trung trong giáo nghĩa Phật, nên hiểu Phật pháp sáng lần, nếu chúng ta tập trung cái khác, không dính líu gì đến Phật pháp không phải là Thầy tu.
Các anh em nên dành thì giờ đọc tụng kinh điển là tập trung vô giáo nghĩa, tự nhiên mở tầm nhìn sáng của chúng ta về giáo lý. Và muốn tập trung vô giáo nghĩa, đầu tiên phải là người đạo đức, không tội lỗi thể hiện qua hình ảnh Đức Vân là người đi trên mây, không có gì ràng buộc được. Người tu còn quan hệ thế gian không thể làm nên đạo nghiệp. Đức Vân không vướng bận cuộc đời, từ thanh thoát này mới học hiểu giáo lý và việc thứ ba mới là hành Thiền. Thiền của Phật giáo khác với Thiền ngoại đạo là vậy. Tập trung vào Phật pháp, giáo nghĩa sáng ra và theo giáo nghĩa đó nhìn cuộc đời ở khía cạnh nào cũng đẹp, cũng nhận ra mặt tốt của nó, như Thiện Tài đối thoại với Di Già là thương gia ở chợ hay trưởng giả Giải Thoát cũng thấy họ đáng quý.
Một số ý khác mà các Thầy cô trình bày về Bồ tát đạo. Có Thầy nói sơ địa Bồ tát lấy bố thí làm chính. Tuy nhiên, muốn bố thí thì phải có mới cho được. Vì vậy, trước khi tu sơ địa Bồ tát, anh em phải tu thập hồi hướng trước, nhưng tu thập hồi hướng mà thiếu thập hạnh thì hồi hướng trở thành không tưởng. Ta làm được bao nhiều việc lợi ích cho cuộc đời mới hồi

* Trang 105 *
device

hướng được, không có công đức mà hồi hướng chỉ là nói suông. Có làm một việc gì đó thì đem cho thành quả ấy mới được. Hồi hướng đủ, mới qua thập địa.
Hồi hướng là ba việc quan trọng chúng ta chuẩn bị để hành Bồ tát đạo. Trước tiên là hồi hướng Vô thượng Bồ đề quan trọng nhất. Đối với người tu, trí tuệ là sự nghiệp trên hết, phải đạt cho được. Chưa có trí tuệ chưa có gì. Quyền lợi, danh vọng, địa vị dẹp bỏ, nhưng trí tuệ phải có, vì có trí tuệ là có tất cả, những thứ khác chỉ là giả danh. Người tu luôn phát huy trí tuệ cho đến ngày đạt Vô thượng Bồ đề mới đạt đến cứu cánh. Nói cách khác, không có gì không biết hay không ai hiểu biết hơn ta mới được, cái gì chưa biết phải học. Có bao nhiêu công sức chúng ta dồn cho việc phát triển hiểu biết.
Hồi hướng Vô thượng Bồ đề để chúng ta có kiến thức sâu rộng mới làm lợi ích chúng sinh được. Vì vậy việc thứ hai là hồi hướng Pháp giới chúng sinh, vì hiểu biết mà không có quyến thuộc sống chết, ta không làm được. Trong truyện Tây du ký, Nhĩ Hầu vương biết chỗ của Tổ sư Bồ Đề, nhưng Nhĩ Hầu vương không đến học đạo, phải chỉ cho Mỹ Hầu vương đến học mới được. Biết nhưng không làm được vì không có quyến thuộc đồng hạnh nguyện, một lòng một dạ hợp tác thì không làm được việc lớn. Phải hồi hướng Pháp giới chúng sinh, tức xây dựng quyến thuộc trước, hành Bồ tát đạo sau.
Xây dựng bằng cách giúp đỡ quyến thuộc, lo cho bổn đạo của chúng ta trước. Không nên vắt cạn kiệt

* Trang 106 *
device

sức Phật tử, về sau không làm được. Phải bồi dưỡng sức người như Trần Hưng Đạo dạy vua Trần Thái Tông thì giặc tới mới sử dụng được. Bồi dưỡng sức người là hồi hướng Pháp giới chúng sinh, là nuôi người cho lớn mạnh. Mỗi người có sức hậu thuẫn quần chúng mới thành công, một mình không làm được gì.
Nuôi người, các anh em phải nghĩ dạy họ nên người. Nếu Phật tử theo ta giàu có, tài giỏi, thì dễ thành công việc lớn. Người theo bệnh hoạn, ngu dốt, thì việc làm còn giới hạn, khó khăn. Tuy nhiên, thực tế làm đạo, những người này thường đến với ta trước, ta không bỏ họ mà cố gắng nuôi dạy họ thành người tốt, họ nhớ ơn tế độ mới chết sống với ta. Thiết nghĩ một đời không làm được, phải nhiều đời. Phật dạy rằng phải xả thân cứu chúng sinh nhiều đời mới thành Vô thượng Chánh đẳng giác. Thấy người giàu, giỏi mà khởi tâm ham, kêu gọi, họ không theo đâu. Họ theo hết lòng là biết đời trước ta đã cưu mang họ. Còn người mới theo thì toàn là "nhờ Thầy cứu con, giúp con, nuôi con”, may ra sau này họ thành chánh khách lỗi lạc mới nghĩ đến Thầy sau.
Hồi hướng Pháp giới chúng sinh để hỗ trợ nhau hành Bồ tát đạo, kinh Hoa Nghiêm diễn tả Thầy trò cùng sinh chung một chỗ. Thiền sư Sato khuyên tôi về Việt Nam hành đạo vì Ngài nói quyến thuộc của tôi ở Việt Nam. Ở Nhật, giỏi tôi cũng chỉ là giáo sư, không khác được, vì không có quyến thuộc. Cần tìm chỗ có quyến thuộc để làm đạo.

* Trang 107 *
device

Có quyến thuộc rồi, chúng ta tu pháp hồi hướng thứ ba là hồi hướng Chơn như thật tướng, hay quán thật tướng các pháp. Quán các việc này từ đâu mà ra. Những người đến với ta, cần xem thái độ, cử chỉ, việc làm để biết họ và ta đã liên hệ trong quá khứ như thế nào. Đó mới chính là sự thật bề trong, không phải giả tưởng. Tại sao họ tốt với ta mà xấu với người khác, hay ngược lại. Phật dạy thấy được nhân duyên sinh các pháp là thấy thật tướng các pháp. Đức Phật độ người thành công hoàn toàn vì Ngài thấu rõ mối quan hệ này; thậm chí có người phải chờ cho họ đọa địa ngục mới độ được, không phải là đệ tử rồi độ được. Phải chờ đúng lúc, đúng chỗ, họ mới nghe và tu có kết quả. Có người và có việc, ta chỉ nên quan sát xem diễn tiến hiện tại cho đến tương lai, theo đó ta hành đạo để nuôi lớn Bồ đề tâm của họ.
Trên bước đường tu, cần rèn luyện ba pháp hồi hướng nói trên và bước chân vào đời, hành Bồ tát đạo, lấy đó sử dụng. Ta có sức người, sức của và vốn kiến thức mới đi vào phạm vi của sơ địa Bồ tát, làm việc bố thí cơm ăn, áo mặc, tri thức và bảo vệ an ninh cho người. Vua Trần Nhân Tông hiện thân tiểu vương bảo đảm cho người có được ba việc này, thường gọi là tài thí, pháp thí và vô uý thí.
Tất cả Bồ tát sơ địa đã có tài sản gởi trong kho tư lương từ lúc tu hành, có bao nhiêu công đức để sẵn và nay cần lấy ra từ ngân hàng của Phật. Thầy nào

* Trang 108 *
device

làm đạo được là nhờ như vậy, tay không, nhưng việc gì cũng được ; vì tiền để ở kho tư lương, chỉ cần nhìn việc chính xác và đem tiền sử dụng.
Bồ tát sơ địa hiện thân ở nhân gian khác với người thường hành bố thí. Phàm phu bố thí thì phải quyên góp, xin từng đồng mà không được bao nhiêu. Bồ tát có sẵn phước báo trong kho tư lương, không thể suy nghĩ biết được việc của họ. Thật vậy, nhờ Phật lực gia bị thì họ cần bao nhiêu để cứu giúp người, tự nhiên có người hảo tâm ủng hộ bấy nhiêu. Điểm thứ hai là về kiến thức của Bồ tát cũng khá lạ. Người có học vị hiểu biết là bình thường, nhưng người không học như lục Tổ Huệ Năng không biết chữ mà việc gì Ngài cũng thông hiểu chính xác. Không biết đọc chữ trong kinh Pháp Hoa, nhưng yếu nghĩa của kinh này Ngài lý giải tường tận.
Có thể nói Bồ tát khi gặp việc, biết rõ ngọn ngành và giải quyết êm đẹp; nhưng không có việc thì tâm lắng yên. Người trí thức bình thường chưa gặp việc tính toán đủ thứ, nhưng đụng việc lại không giải quyết được. Đối với Bồ tát, yếu tố Bồ đề có sẵn, tâm họ như tâm gương, những gì xảy đến là in bóng trên gương, họ biết rõ. Ta bị dầy đặc đủ thứ lăng xăng lộn xộn nên hình không hiện lên được. Bồ tát không cần thì tâm trống không là Không của Bồ tát, vạn vật không in bóng, thì không có gì, nhưng có muôn vật in bóng, đều thấy rõ. Yếu tố Bồ đề mới đóng vai trò quyết định đúng và mới dạy được người.

* Trang 109 *
device

Người theo ta, phải bảo đảm cuộc sống cho họ. Các anh em cân nhắc biết được người theo mình là biết họ có nhân duyên quá khứ với mình; nhưng không giúp được họ là tổn hại lớn. Bằng mọi cách phải bảo vệ người theo tu hành với chúng ta, đó là đạo lý. Làm được vậy, quyến thuộc đông thêm. Thầy tu mà bổn đạo xa lánh là biết đã sai đường. Đi đúng lộ trình của Phật, người chưa thương phải thương, người thương rồi phải thương nhiều hơn và họ tốt hơn nhờ chúng ta giúp đỡ, dạy dỗ. Thậm chí hành Bồ tát đạo, hy sinh mạng mình để cứu người, để đời sau họ phải nợ ơn mình. Bồ tát hy sinh, dấn thân vào đời, lấy thiệt mình, lợi người làm lẽ sống.
Hành Bồ tát đạo ở sơ địa, trong kinh Hoa Nghiêm, Phật nói Bồ tát thường hiện thân làm tiểu vương, vì phước đức, quyến thuộc chỉ chừng đó, nên chỉ làm được như vậy. Sơ địa Bồ tát chỉ nuôi dạy được một số người, chăm sóc họ được an toàn, có tri thức, có cuộc sống ổn định là tốt rồi.
Tôi nhắc thêm các Thầy một việc quan trọng. Có Thầy nói rằng bị thiếu ngôn từ khi diễn giảng. Nếu văn chương kém, thấy câu văn hay, bài kệ có ý nghĩa, nên tập họp lại và học thuộc lòng để bổ sung cho bài giảng. Hoặc trích những mẫu chuyện, nhưng phải tập kể chuyện cho hấp dẫn. Xưa kia Thượng tọa Hộ Giác thường đọc một chuyện tiền thân Phật và giải thích chuyện này là xong một thời giảng; đó là kể chuyện có sức hấp dẫn.

* Trang 110 *
device

Mỗi người muốn làm Giảng sư tương lai phải tập rèn luyện năng khiếu riêng của mình. Người có tài kể hay thì phát huy mặt này, tạo cho người nghe thích thú, say mê pháp Phật cũng thành công trong việc hoằng pháp.

* Trang 111 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì