LOGO VNBET
Tam pháp ấn
(Bài giảng tại lễ bế giảng khóa bồi dưỡng trụ trì, chùa Khánh Sơn,
Sóc Trăng, ngày 22-7-2001)
          Hôm nay tôi đến thăm trường hạ tỉnh Sóc Trăng và dự lễ bế giảng khóa bồi dưỡng trụ trì của tỉnh nhà. Nhân đây, tôi đóng góp một số kinh nghiệm quý báu để chúng ta cùng nhau bảo vệ chánh pháp.
Phật giáo đã có trên 2500 năm do đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập và truyền bá đến nay gần như khắp năm châu bốn biển, nơi nào cũng có đạo Phật hiện diện.
Điều cao quý nhất của đạo Phật là với bề dày lịch sử lâu xa như vậy, nhưng chưa hề gây chiến tranh tôn giáo. Kế đến là dù truyền bá dưới hình thức Nam truyền hay Bắc truyền, đạo Phật đến bất cứ nơi nào cũng chỉ nhằm làm lợi ích cho chúng hữu tình, mang an vui cho nhiều người.
Có thể khẳng định rằng với mục tiêu cao cả và thành quả tốt đẹp sâu xa của đạo Phật như vậy chính

* Trang 317 *
device

là niềm vinh hạnh của hàng đệ tử Phật. Mặc dù xét về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội..., giới Phật giáo chúng ta có thể yếu hơn các tôn giáo khác; nhưng về mặt thăng hoa tâm linh, phải nói Phật giáo đứng hàng đầu.
Một số nước phát triển đứng đầu thế giới đã bắt đầu nghiên cứu từng lời Phật dạy. Riêng đất nước Việt Nam, ngoài nền tảng Phật giáo đã xây dựng vững chắc từ lâu đời, chúng ta may mắn hơn nữa là có được Giáo hội hợp nhất nhiều hệ phái của đạo Phật. Ở miền Tây thuộc đồng bằng sông Cửu Long, ban đầu chủ yếu theo hệ Phật giáo Nam truyền từ Campuchia truyền sang, sau có thêm Phật giáo Bắc tông do người Trung Hoa mang đến. Và sau năm 1945, có thêm Phật giáo Khất sĩ và hội Tịnh độ cư sĩ.
Phật giáo Khmer đến tỉnh nhà trước, chúng ta coi là đàn anh. Dù dưới hình thức Phật giáo Nam truyền, Bắc truyền, Khất sĩ, người Hoa... đều là đạo Phật có chung một đấnggiáo chủ Thích Ca Mâu Ni, là con một nhà, cùng thờ một vị cha lành. Không có lý do nào mà chúng ta không bảo vệ nhau là điều tôi muốn nhắc Tăng Ni Phật tử. Nhất định chúng ta phải đoàn kết để bảo vệ nền giáo lý trong sáng, không thể chấp nhận Phật giáo bị chia cắt. Đó là chủ trương của Giáo hội chúng ta với khẩu hiệu thống nhất tổ chức và lãnh đạo, nhưng pháp tu biệt truyền vẫn được tôn trọng; đó là nguyên tắc để chúng ta sinh hoạt chung. Đức Phật cũng đã dạy

* Trang 318 *
device

nhiều pháp tu thích hợp từng chỗ, từng lúc, từng người khác nhau, miễn đạt được giải thoát. Kinh Phật thường nói nước bốn biển chỉ có một vị mặn, giáo pháp Phật cũng vậy, có tám muôn bốn ngàn pháp môn để ứng với tám muôn bốn ngàn phiền não trần lao của chúng sanh, nhưng cũng chỉ có một vị giải thoát. Dù tu pháp nào, chúng ta cũng nhớ phải giải thoát, nếu không giải thoát thì không đi trên lộ trình Hiền thánh.
Muốn được giải thoát, đức Phật dạy chúng ta phải phá phiền não ác và tu tạo các công đức lành. Bước đầu, phá phiền não là chính, nhất là giới xuất gia từ bỏ thế tục, chúng ta cũng phải bỏ luôn phiền não ác. Xuất gia nhưng mang phiền não ác vào chùa là mang đời vào đạo, làm hư đạo, làm người trong chùa phiền não theo mình và truyền bá phiền não cho Phật tử lây nhiễm theo. Như vậy là mặc áo Phật, làm việc ma, phải đọa. Tăng Ni cần ý thức sâu sắc điều này.
Phá phiền não ác như Phật dạy, chúng ta phải nhớ ba việc: không, vô tác, vô nguyện. Đã tu hành, cuộc đời này đối với chúng ta không có ý nghĩa gì, vì nhận thức được cuộc đời là giả tạm, chết rồi không đem theo được gì. Vì vậy, người tu không bao giờ lưu tâm đến sự nghiệp vật chất thế gian; còn bị vật chất khống chế và phiền não, không phải sa môn. Phải quyết tâm tu, theo Phật từng bước an vui giải thoát, cửa Niết bàn càng gần chúng ta hơn.

* Trang 319 *
device

Biết rõ tất cả đều phải vứt bỏ, chúng ta thực hiện bước thứ hai là vô tác. Tác là hành động bằng tay chân và việc làm bằng tâm. Về hành động mà bên ngoài nhận biết được, đức Phật dạy người tu không được kinh doanh, không làm ruộng, không làm chính trị; vì những việc này buộc chúng ta nô lệ cuộc sống. Người xuất gia đúng nghĩa chỉ khất thực để không tạo cho mình có cuộc sống vật chất. Phật dạy rõ là cuộc sống của Tỳ kheo chính yếu với một bình bát, ăn cơm ngàn nhà. Hôm nay sống, không biết ngày mai ăn gì và đến với ai. Còn tính ngày mai đến đâu, có quyền lợi gì, không phải người tu.
Cuộc sống của người tu do thập phương tín thí hiến cúng. Không sống như vậy, nhưng chọn đời sống tích lũy, là đã thế tục hóa đạo Phật; gây ra sự đụng chạm với các thầy là sai đạo. Phải coi tất cả tài sản tạo được là của thường trụ tam bảo. Chùa không phải của trụ trì. Thầy trụ trì là một cán bộ của Giáo hội, được chư Tăng phân công quản lý chùa, không phải của riêng mình.
Khi một vị Thượng tọa đến ở chùa nào đó, không phải do thầy này tạo ra, cũng không phải của ông cha cho; nhưng là của Phật để lại từ quá khứ dẫn đến hiện tại và mãi trong tương lai, đều là của Phật. Nếu là thường trụ Tăng thì được hưởng những quyền lợi phát sinh từ chùa; ngày nào ra đi, thì người khác quản lý. Đừng nghĩ tài sản của ta.
Một số trụ trì kém đạo đức, được Giáo hội phân công trụ trì, liền nghĩ chùa của mình. Như

* Trang 320 *
device

vậy có khác gì người đời có nhà của họ. Nhà của họ, của ông cha họ để lại, do mồ hôi nước mắt họ tạo dựng thì còn được. Nhưng chùa là của đàn na tín thí dâng cúng, mà lại dám nghĩ của mình thì quả là sai lầm lớn.
Thật vậy, xây chùa hay cúng dường tam bảo để Phật pháp cửu trụ, lợi ích cho số đông là mục tiêu của đàn na tín thí dâng cúng. Cúng cho Phật, nhưng thầy trụ trì nghĩ của mình là phạm tội gian tham, trộm cắp của thường trụ, của tam bảo, của Phật. Đó là phạm giới căn bản trong bốn trọng tội, phải đọa địa ngục. Nợ một người còn trả được, nợ của thập phương thường trụ không thể trả nổi. Thầy trụ trì có ý niệm sai như vậy và phạm đại tội thì chỉ còn hình thức người tu, thực chất tâm của người tu biến mất, là điều nguy hại nhất.
Vì thực chất không phải là Tăng, nhưng mang hình thức tu sĩ, Hộ pháp và chư Phật không thể hộ niệm; thầy trụ trì sẽ gặp tai ương không lường được. Trước nhất, Phật tử cúng dường vì tam bảo. Thầy trụ trì muốn chiếm hữu làm của riêng, thì họ phải bất bình và kiếm chuyện.
Một số chùa ở thành phố Hồ Chí Minh do tôi quản lý, luôn bị thưa kiện vì những chùa này là của tổ tiên họ cúng cho tam bảo, biến nhà thành chùa. Nay con cháu thưa kiện đòi lại.
Việc này nếu không giải thích theo đạo, chúng ta không hiểu được. Tại sao trước cúng, nay đòi lại? Theo tôi, họ cúng vì thấy Tỳ kheo chân chính tu

* Trang 321 *
device

hành. Vị này chưa có chùa, tâm hồn hoàn toàn trong sáng. Họ mới cảm đức, phát tâm hiến cúng đất và tiền xây chùa để cầu nguyện cho tổ tiên của họ. Phần lớn các chùa đều ở dạng này và các nhà truyền giáo cũng truyền ở dạng này; nhưng thường thì chỉ trải qua ba đời, khó giữ được lâu. Thật vậy, vị Tổ sư rất thánh thiện, đến đời thầy thì còn được, nhưng đến đời đệ tử là hư. Vì đời thứ nhất, Tổ tu hành đúng với nghĩa giải thoát, y bát là chính, tức chân truyền. Chúng ta đều biết đức Phật cũng chỉ truyền y bát, không giao nhà cửa, tiền bạc... Giữ chân truyền như vậy thì đi khắp thiên hạ, nơi nào cũng được cung kính cúng dường, thủ hộ.
Nhưng đến đời thứ hai, có chùa rồi, thầy trụ trì bắt đầu quan sát xem chùa lớn hay nhỏ, quyền lợi nhiều hay ít, phiền não bắt đầu phát sinh. Tuy nhiên, chỉ một ít phiền thôi, nên Phật tử còn tín nhiệm và thầy trụ trì này ráng sửa sang chùa cho lớn hơn.
Và đến đời thứ ba, đệ tử ôm chùa lớn này mà hưởng, ai động đến thì phải bước qua xác chết của thầy. Đến đây trụ trì đã lạc khỏi con đường đạo, nghĩ rằng chùa này của mình, thì con cháu của người cúng xưa kia cũng nói tài sản này là của ông bà tổ tiên họ để lại. Tranh chấp này đành phải đưa ra luật pháp xét xử và họ đã xử rằng con cháu đúng vì của tổ tiên họ, không phải của thầy trụ trì. Nếu chùa của Phật, của Giáo hội, Nhà nước phải bảo vệ. Thực tế cho thấy các chùa của Nam tông, của Khmer

* Trang 322 *
device

không bao giờ bị mất vì tu sĩ coi chùa là của chung, của Phật. Nhưng một số chùa Bắc tông thường biến của chung thành của riêng, thì luật pháp và cả Hộ pháp không bảo hộ, con cháu sẽ đòi. Người tu luôn nghĩ rằng chùa là của thường trụ tam bảo thì sẽ trường tồn.
Tôi làm việc với Nhà nước, họ dứt khoát rằng chùa là của Giáo hội, của thập phương Tăng và tín đồ, không của riêng ai. Chùa được phân công cho các thầy quản lý. Tính cách pháp nhân và pháp lý của chùa thuộc về Giáo hội và Thành hội, Tỉnh hội Phật giáo quản lý tất cả chùa và Tăng Ni tỉnh nhà.
Khi Tăng Ni và tự viện thuộc Giáo hội thì luật pháp phải bảo hộ, vì tài sản của Giáo hội là của chung, do đàn na tín thí cúng dường, nên được miễn một số thuế. Thí dụ chúng ta xây chùa chính thức của Giáo hội, Nhà nước miễn thuế. Tăng Ni thuộc Giáo hội quản lý cũng được miễn trừ ngày lao động công ích. Chúng ta giữ đúng điều này, Nhà nước phải tôn trọng.
Trở lại pháp ấn theo Phật dạy về vô tác. Tác là lao động tay chân hay tài sản tạo tác thấy được bằng mắt và tác ý là làm bằng tâm quan trọng hơn. Vì vậy, mặc dù chúng ta không quản lý cơ sở vật chất, nhưng nghĩ nó là của ta thì cũng sai phạm.
Phật dạy người tu để tâm vọng động được vắng lặng, vì biết nó thuộc phiền não. Tâm yên tĩnh là đạo, là thiện. Tâm vọng động là ác. Người tính toán mưu mô thuộc ác. Người vô tâm, vô tư là thiện.

* Trang 323 *
device

Chúng ta tu tập thiền định đưa đến diệt tận định là để tâm đứng yên. Người thấy Tỳ kheo như vậy thì kính trọng; nhưng thấy Tỳ kheo tác ý, khởi nghĩ đủ thứ, họ xem thường.
Tâm của Tăng như mặt nước hồ thu trong suốt, không vẫn bợn. Những gì người đời nghĩ, người đời làm, chúng ta không nghĩ, không làm, là sa môn.
Pháp ấn thứ ba của Tỳ kheo là vô nguyện. Đức Phật dạy chúng ta không có mong muốn gì ở cuộc đời này, vì mong muốn nào cũng dẫn chúng ta đến buồn phiền; mà có muốn nào được thỏa mãn đâu, cứ tăng trưởng lòng tham không đáy.
Nghiệm lại chúng ta thấy rõ, mới tu thì cần am tranh thôi, nhưng có am rồi, lại muốn thỉnh Phật và có tượng Phật này, chúng ta lại muốn thỉnh tượng khác đẹp hơn. Chùa có quá nhiều tượng Phật, phải xây thêm cho rộng hơn để có chỗ thờ.
Đức Phật dạy chúng ta tri túc là vậy. Bản thân chúng ta càng tham, càng suy tính, sẽ không bao giời tới với Phật được, vì càng tham, tâm càng vọng động, càng cách Phật xa. Tâm người tu không bị sóng tình gợn dậy, luôn phẳng lặng, trong sáng thì Phật mới hiện vào được và thuyết được pháp Phật. Tâm không yên tĩnh, vọng động, có thuyết, người cũng không nghe và dù có thuyết chánh pháp cũng thành tà pháp.
Tâm thanh tịnh, người thấy giải thoát của ta liền phát tâm. Tâm vọng động, ham muốn, buồn phiền

* Trang 324 *
device

thì người cũng ham muốn, buồn phiền; kết quả là nghiệp đụng với nghiệp, sanh ra phải trái hơn thua, thể hiện bộ mặt trần gian khổ lụy.
Quan trọng của Tăng Ni tu hành là phải sống đúng chánh pháp, trở thành người tiêu biểu ở thế gian, không kẹt tham, sân, phiền não. Phật dạy người xuất gia gặp việc đáng giận, đáng buồn, đáng ham muốn, nhưng chúng ta không giận, không buồn, không ham muốn, là sa môn. Người tu không được quyền nói tôi khổ quá, buồn quá.
Ai muốn hết khổ thì đến gặp sa môn giải thoát. Điển hình như đại luận sư Xá Lợi Phất giỏi nhất, nhưng vì phiền não trí, biết quá nhiều, nên thành quá khổ. Gặp Mã Thắng tâm trong sáng, Ngài thấy mát lòng, chứng sơ quả. Hoặc vua Trần Thái Tôn bị bao phiền hà của Trần Thủ Độ tạo ra. Vua bỏ lên Yên Tử, gặp Phù Vân quốc sư, ông cảm thấy an lành lập tức.
Rõ ràng là ở cuộc đời này làm bao nhiêu việc để phá phiền não, nhưng phiền não không hết mà lại tăng thêm. Đến khi gặp bậc chân tu, không có ý đối phó, tâm hồn tự thanh thản.
Trên bước đường tu, tinh thần này rất quan trọng, tâm chúng ta lắng yên, hết phiền não, người thấy tự nhiên nhẹ nhàng theo. Đó là cách truyền đạo bằng tâm thanh tịnh mới là chánh đạo.
Theo Phật, không phá phiền não ác, không phải sa môn. Ý nghĩa của Tỳ kheo là vô sanh, phá ác,

* Trang 325 *
device

bố ma. Ma thua ta không phải vì ta đánh được nó. Ma vương có đủ quyền tự vệ bằng cách ra tay trước, đánh, giết người. Chúng ta thọ giới Tỳ kheo có ba pháp bất hoại, nghĩa là người đánh, chửi, nói xấu ta, ta cũng không làm lại như vậy. Người chưa nói xấu mà mình rêu rao trước thì sai từ căn bản, có tu cũng không được gì.
Đức Phật dạy rằng ác ma nói xấu, ta không nói xấu lại, nhưng để cho họ tự nói lại, nói cách khác, phải thể hiện rõ là ta không sai, mà họ sai. Xưa kia, thời kỳ tôi mới xuất gia, các thầy tu thường thất học, nên người thường khi dễ thầy chùa dốt. Tôi nghe vậy rất khó chịu, nỗ lực học, có bằng cấp thì họ không dám nói vậy nữa. Chúng ta khiêm tốn, không khoe, nhưng tự người thấy ta giỏi. Còn vỗ ngực xưng danh giỏi là tăng thượng mạn, người sẽ ghét liền. Lúc chưa xuất gia, tôi là cậu bé mục đồng, nay đỗ đạt thì khác và tu hành có công đức, họ phải thấy khác nữa.
Trên bước đường tu, phải tự rèn luyện năng lực thành Hiền thánh, thiên hạ phê bình gì, ta lóng nghe để tự sửa mình. Trong luận Bảo Vương tam muội có dạy oan ức không cần biện minh, vì biện minh thì ác nghiệp càng tăng trưởng.
Cầu mong chư Tăng tỉnh nhà an trú trong chánh pháp để được an lạc giải thoát, thăng hoa đạo nghiệp trong mùa An cư.
 

* Trang 326 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì