LOGO VNBET
VÀI SUY NGHĨ VỀ HOẰNG PHÁP
TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
(Bài giảng cho các Giảng sư Cao cấp và Trung cấp nhân ngày lễ ra mắt Ban Hoằng pháp Trung ương ngày 14-8-2003)
 
         Giáo hội chúng ta thành lập được gần hai mươi hai năm, trải qua bốn nhiệm kỳ. Tôi làm Trưởng ban Hoằng pháp từ nhiệm kỳ 1 đến nay là nhiệm kỳ 5. Từ khi thành lập đến nay, các vị Hòa thượng lớn tuổi và những Phật tử hộ đạo thời kỳ ban đầu đã về Phật, hoặc một số vị lớn tuổi không tiếp tục tham gia vào Ban Hoằng pháp nữa. Trong nhiệm kỳ 5 hiện nay, chúng tôi cơ cấu thành phần Ban Hoằng pháp tương đối trẻ, vì chỉ có một mình tôi trên 60 tuổi, còn lại hàng giáo phẩm từ Thượng tọa đến Đại đức và các Ni sư, sư cô đa số còn trẻ tuổi. Ngoài ra, hôm nay còn có sự hiện diện của các Thầy cô thuộc hai khóa Giảng sư Trung cấp và Cao cấp của Ban Hoằng pháp.
Tôi dự định kết thúc khóa học Giảng sư năm nay để quý Thầy cô có điều kiện tham gia đoàn Giảng sư Trung ương hoặc cấp tỉnh thành, vì theo chương

* Trang 165 *
device

trình hoạt động năm 2004 của Ban Hoằng pháp, có quy định sự sinh hoạt của Đoàn Giảng sư chúng ta.
Theo tôi, chúng ta có nhiều việc phải làm. Một là đối tượng của công tác hoằng pháp là đồng bào Phật tử vùng sâu, vùng xa, vùng cao nguyên. Trình độ văn hóa của họ không cao, trình độ Phật học cũng chưa có. Tôi nghĩ quý Thầy cô đã trải qua nhiều năm ở trường lớp, có khả năng hướng dẫn Phật tử ở những vùng như thế. Vì vậy, quý vị cân nhắc điều này để tham gia vào công tác hoằng pháp ở những địa phương xa.
Nếu những Thầy cô tiếp tục ngồi ghế nhà trường thì đến 60 tuổi vẫn là học Tăng, nhưng nếu quý vị ra trường thì dù 20 tuổi vẫn làm Thầy được. Đó là kinh nghiệm của bản thân tôi. Thật vậy, từ khi tôi chưa được 20 tuổi, chưa thọ Đại giới mà đã đi thuyết giảng ở vùng xa. Nếu chúng ta học ở trường, chung quanh là bạn đồng trình độ và trên là Thầy, sẽ làm chúng ta khó thuyết giảng. Nhưng nếu về địa phương giảng dạy, trình độ văn hóa của người dân ở đó kém hơn ta, trình độ Phật pháp ít hơn ta, chắc chắn họ dễ nghe, dễ chấp nhận ta; nên ta dễ phát huy năng lực. Chúng ta làm việc như vậy, năng lực được phát triển lần, thì đến lúc 40, 50 tuổi, chúng ta có thể trưởng thành dễ dàng.
Khi đã tham gia vào ngành Hoằng pháp, chúng ta phải làm gì để trang bị những điều cần thiết, là điều tôi muốn nói hôm nay. Tôi còn nhớ Hòa thượng Thiện Hoa dạy rằng người hoằng pháp không sợ

* Trang 166 *
device

gian lao, không từ khó nhọc. Đó chính là ý nguyện của Giảng sư tương lai. Chúng ta thấy Đức Phật đã thể hiện rõ nét tinh thần "Không sợ gian lao, không từ khó nhọc”, sau khi thành đạo, nơi nào Ngài cũng đến thuyết pháp giáo hóa, người nào có duyên, Ngài cũng độ. Và các vị Tổ sư hành đạo cũng vậy. Các Ngài đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa, từ Trung Hoa lên đỉnh núi cao ở Tây Tạng, hoặc vượt qua sa mạc giá rét hay nóng cực độ để truyền bá chánh pháp ở nước Nga. Chỗ nào cần, các Ngài tới, không sợ gian lao không từ khó nhọc.
Và ngày nay, tiếp nối bước chân hoằng pháp của các Ngài, chúng ta dấn thân hành đạo như vậy, niềm tin của chúng ta đối với Phật pháp mới sâu sắc. Có sống gần gũi với sinh hoạt của thế gian, đồng thời tiếp cận được với thế giới tâm linh, giúp chúng ta tăng thêm niềm tin, tăng thêm ý chí quyết định dấn thân. Tôi thấy Đức Phật, chư vị Tổ sư và Thầy tôi như thế, nên tôi cũng dấn bước theo con đường này và đã thể nghiệm việc hoằng pháp trên 40 năm. Vì thế tôi muốn truyền trao kinh nghiệm của mình để quý Thầy cô cùng suy nghĩ, kế thừa được sự nghiệp của Phật, Tổ, của những người đi trước, làm rạng danh con nhà họ Thích.
Chúng ta phải có quyết tâm, không sợ gian lao, không từ khó nhọc. Bất cứ nơi nào cần, chúng ta đến, không phải chúng ta cần. Người hành đạo Bồ tát làm Giảng sư là đáp ứng yêu cầu của người khác. Ta không có yêu cầu nào trên cuộc đời này. Anh em

* Trang 167 *
device

phải có tinh thần vô ngã thực sự, điều này rất quan trọng trong cuộc đời tu hành. Đa số không thành công trên bước đường tu vì chấp ngã, chấp pháp; chưa lớn mà tự thấy mình lớn, rất nguy hiểm.
Từ ý thức không thấy mình lớn, cho đến không thấy có mình, là đạt vô ngã; thì chúng ta ít buồn lòng, khó chịu đối với bất cứ tình huống nào xảy ra cho ta. Vì chúng ta không có đòi hỏi nào cho bản thân, mà tùy hoàn cảnh giáo hóa; đó là kinh nghiệm của tôi. Khi còn ở lớp hay sau khi ra trường, tôi chưa giữ chức danh nào, nhưng đã làm việc rất tích cực. Lập trường dứt khoát của tôi là cần làm việc, nên khẩu hiệu tôi đề ra là lãnh việc, không lãnh chức. Theo tôi, chức danh là trở ngại lớn cho bước đường tu của chúng ta. Tôi làm được việc, giảng dạy tốt thì người biết đến tôi, không phải họ biết chức danh, nhưng biết tôi là người mà họ gần gũi, thân thương trên bước đường hoằng pháp.
Nhiều Thầy nghĩ rằng phải có chức vụ, danh phận mới làm được. Tuy nhiên, có chức, có danh nhưng không làm được thì càng xấu hổ hơn. Chúng ta không có chức danh, mà được quần chúng quý mến, tin tưởng, thì chúng ta được an ủi nhiều hơn và cũng được an lòng nhiều hơn.
Trên tinh thần vô ngã, ta không có chức danh, nên dễ đến với mọi người, với thành phần này ta không hoạt động được thì tìm thành phần khác, ở địa phương này không làm đạo được thì tìm nơi khác. Thiết nghĩ ai cũng có thể làm việc được. Chỉ vì

* Trang 168 *
device

chấp pháp, chấp ngã quá lớn, tự thấy mình lớn, hay đòi hỏi cho mình một số việc, thì suốt đời không làm được gì. Nếu chúng ta hướng đến yêu cầu của quần chúng, của xã hội, thì vẫn có thể phục vụ được.
Người sợ gian khổ, nguy hiểm, không dám đi vùng xa; nhưng riêng tôi, đến vùng xa thấy rõ ở đó, họ cần và quý trọng mình hơn. Giữa họ và mình có sự gắn bó thân thương hơn. Đó là kinh nghiệm hành đạo của tôi gần 40 năm trước, vùng Đồng Xoài là rừng núi chỉ có người di dân đến sinh sống, đương nhiên chùa và đô thị không có. Họ đến khai phá đất hoang và niềm tin tôn giáo, tin Trời Phật của họ rất mạnh, nên thấy bóng dáng Thầy tu, họ rất quý trọng. Từ đó, tôi hình dung được các vị Tổ sư truyền giáo cũng vậy. Các vị Tổ sư miền Trung nước ta cùng đi với đoàn di dân đến chỗ đất mới có nhiều khó khăn, sức người không vượt được. Vì vậy, họ tin tưởng thần linh, thì người tu là gạch nối giữa họ và thần linh và các chùa miền Nam bắt đầu mọc lên từ đây. Tôi đến Đồng Xoài thuyết pháp, ngày xưa phải đi từ sáng đến chiều mới tới vì đường sá rất xấu và xe hơi không tối tân như ngày nay, nên chạy chậm. Và muốn vào khu dân cư thuyết pháp, còn phải đi xe đạp. Tuy nhiên, càng đi xa vào những nơi đó, tôi thấy Phật tử càng thân thương, gần gũi hơn. Không có tâm hồn như thế, không làm nhà truyền giáo được. Vào đó giảng pháp, đối với đồng bào di dân thật thà, chất phác, tin tưởng trời Phật, nhà sư trở thành điểm tựa ấm cúng cho cuộc sống lầm than cơ cực của họ. Tôi ngồi trong chòi lá, không phải chùa,

* Trang 169 *
device

chỉ có bức tranh thờ Phật do họ vẽ đơn sơ, không có tượng như ngày nay; nhưng ở đó có tấm lòng thành, có niềm tin mãnh liệt. Tôi không thăng tòa thuyết pháp, tôi ngồi giữa và Phật tử ngồi chung quanh, nghe tôi truyền đạt những lời của Phật để giúp họ có cuộc sống an lạc hơn. Không có máy phóng thanh, tôi ráng nói cho cho vài chục người nghe, thời pháp chỉ có bấy nhiêu người thôi. Tuy nhiên, tôi còn nhớ thời đó ở Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang nổi tiếng mà một thời pháp của Hòa thượng Thiện Hoa cũng chỉ có khoảng 40, 50 người. Như vậy vẫn thuyết pháp độ được cũng quý. Nếu một buổi nói chuyện chỉ có 5, 10 người, theo tôi còn tốt hơn vì dễ cảm thông hơn. Thuyết pháp không nhứt thiết lên pháp tòa, quan trọng là sự cảm thông giữa tâm của người nói và người nghe. Niềm tin của chúng ta đối với Tam bảo truyền đạt cho người tin theo, tâm nguyện của chúng ta truyền cho người nghe, được họ chấp nhận và muốn cùng làm theo.
Đa số Giảng sư ngày nay thường nghĩ rằng phải thuyết giảng theo thời đại, nói cho nhiều người nghe, buộc người nghe. Có thể ở thời đại của các anh em suy nghĩ cách thích hợp nào đó, nhưng theo tôi, thực chất của đạo Phật là truyền tâm. Phật dạy rằng nói năng hay yên lặng cũng là chánh pháp, sử dụng tâm của chúng ta để truyền chánh pháp. Tâm này là niềm tin Phật và truyền niềm tin chân chánh đó cho người tin theo, làm theo Phật dạy là thành công.

* Trang 170 *
device

Nếu gặp năm, ba người dân chất phác, anh em có thể nói Phật pháp giúp họ phát tâm; đó là tùy duyên giáo hóa, không nhứt thiết hình thức nào. Nếu quý vị thấy khả năng mình hơn người ở vùng xa, chắc chắn về đó hướng dẫn được người. Những người có khiếu và phát nguyện về vùng xa thuyết giảng là thực hiện một trong những chủ trương của Ban Hoằng pháp, chúng tôi sẽ hỗ trợ. Giáo hội đang cần các Thầy cô tình nguyện về làm Phật sự ở vùng xa.
Ngoài ra, có những vị có thể hoạt động ở nơi khác, hoặc ở đô thị. Theo tôi, anh em thuộc thế hệ này, cần có suy nghĩ mới để thích hợp với thời đại mới của anh em. Tôi thuộc thế hệ trước, chỉ truyền trao hiểu biết cho anh em, rồi tôi về Phật. Thời đại ngày nay là thời đại khoa học kỹ thuật khác với thời thần quyền của tôi thì phát triển mạnh ở vùng nông thôn, rừng núi được. Nhưng thời đại văn minh khoa học kỹ thuật, thời đại đô thị hóa toàn cầu, tất cả các nước trên thế giới theo mô hình mới này. Vì cách sống của người văn minh ngày nay khác với cách sống người xưa. Thời xưa chủ yếu sống ở nông thôn, nhưng ngày nay chủ yếu sống ở đô thị. Người ta sinh hoạt tập trung thành khu dân cư đông đúc, không ở rải rác trong ruộng đồng như xưa và phải có tiện nghi. Thí dụ như khu đất chùa Huê Nghiêm này, khi Tổ đến khai sơn thì nơi đây còn hoang vu và sau đó biến thành ruộng vườn, nhưng trong tương lai, 10 năm hay 20 năm nữa, nơi đây trở thành khu đô thị theo quy hoạch của thành phố. Lúc ấy, bên phải của

* Trang 171 *
device

chùa chúng ta là khu chung cư, bên trái là khu biệt thự nhà vườn.
Người ta đã sinh hoạt theo mô hình đô thị hóa, thì chúng ta cũng phải có những hoạt động thích nghi. Trong 5 năm nữa, quận 2 không còn như vầy, nhà cửa sẽ mọc lên, những cơ sở hạ tầng được xây dựng trước, như trường học, bệnh viện, công viên, chợ, khu vui chơi giải trí, v.v… ; nói chung có đủ tiện nghi cho người dân sống trong thời hiện đại. Ai có hướng đi theo con đường hội nhập sinh hoạt đô thị hóa phải suy nghĩ để phát triển việc hoằng pháp của mình cho thích hợp.
Tôi đã tham quan Phật giáo Đài Loan, Nhật Bản, Hàn quốc, quan sát từng mô hình của họ, nên thấy rõ. Thí dụ Phật giáo Nhật đã hiện đại hóa Phật giáo trước khi đất nước họ áp dụng phương cách hiện đại hóa. Thật vậy, họ đã thể hiện được tinh thần đạo Phật là đạo trí tuệ, phải thấy và đi trước xã hội một bước. Xưa kia, chùa ở trên núi cao và người ta về đó tu. Nhưng Phật giáo Nhật đã phát triển chùa trong những khu dân cư khi mà đất nước họ hiện đại hóa, xây dựng nhiều nhà chung cư. Phật giáo tổ chức sinh hoạt tôn giáo ở những khu chung cư để Phật tử dễ đến chùa, vì họ không có thì giờ đi chùa xa như thời xưa lên núi tu một tuần lễ. Phật giáo Nhật đã đem chùa ở gần khu dân cư, đem chùa vào nhà dân cư.
Đem chùa vào khu dân cư là chúng ta phải có chùa ở khu đó để mọi người sau giờ làm việc, có thể

* Trang 172 *
device

dễ dàng ghé vào chùa tụng kinh. Nếu kéo dài thì giờ lễ bái, tụng niệm ở chùa thì chỉ có những người hưu trí, người lớn tuổi mới có thể tham dự. Ngày nay tình trạng này xảy ra ở đất nước chúng ta, hầu như chùa nào cũng có toàn người hưu trí, người già. Không khéo đạo Phật chúng ta trở thành đạo của người chuẩn bị từ bỏ cuộc đời này. Có sự tuyên truyền mạnh ở Nhật rằng cuộc đời của một người khi sanh ra thì đến đình thần, lớn lên thì đến nhà thờ, đến già, chết thì về chùa. Nếu phân chia sinh hoạt như vậy thì rõ ràng đạo Phật sẽ bị mất vị trí trong lòng người, trong xã hội. Phật giáo Nhật đã nhận thấy rõ nguy cơ này, nên đã phát triển hướng sinh hoạt của Phật giáo gắn liền với sinh hoạt của dân tộc họ. Họ cho trẻ em quy y từ trong thai mẹ. Đạo tràng Pháp Hoa của tôi có nhiều Phật tử cũng là nhờ phát triển theo hướng này. Thanh niên nam nữ lập gia đình thì được cha mẹ dẫn đến tôi chú nguyện trước. Tôi khuyên họ làm lành, tu phước, tụng kinh, v.v… để các vị Bồ tát muốn hiện hữu lại thế giới này có thể sanh vô gia đình họ làm quyến thuộc. Thật vậy, trung ấm thân của người chết không thấy bằng mắt, nhưng nghe âm thanh được, nên nghe chỗ nào có tụng kinh thì linh hồn họ đến để đầu thai vô gia đình đó. Thực tế có những em bé chưa biết nói, nhưng đã biết chắp tay, biết niệm Phật; vì đời trước đã là Phật tử hay tu sĩ. Tôi áp dụng ý này để hướng dẫn các Phật tử tại gia tu, quả tình thấy đúng như vậy. Gia đình nào mà cha mẹ có tín tâm, siêng tụng kinh thì họ sanh con dễ có tín

* Trang 173 *
device

tâm hơn. Các anh em nên suy nghĩ điều này để áp dụng trong việc hành đạo.
Chùa ở khu dân cư không cần lớn. Phật giáo Nhật thường xây dựng giảng đường vừa là nơi thờ Phật, tụng niệm, lễ bái, vừa giảng kinh, chiếu phim Phật pháp. Nơi nào cũng đưa Phật pháp đến được, theo tinh thần kinh Pháp Hoa dạy rằng thế gian tướng thường trụ, nghĩa là đem Tam bảo đặt vào niềm tin con người, đặt vào lòng người thì đạo Phật mới tồn tại và phát triển được.
Kế đến là đem Phật vào nhà. Phật giáo Nhật khuyến khích mỗi nhà nên có bàn thờ Phật, không cần bàn thờ lớn. Mỗi ngày họ có thể tập họp cả gia đình trước bàn Phật để tụng kinh, cầu nguyện. Thời kinh không thể tụng từ sáng đến chiều và không nên tụng chữ Hán vì không hiểu được. Nếu chúng ta tiếp tục tổ chức những khóa lễ rườm rà hình thức, mất thì giờ mà người nghe cũng không hiểu gì, chỉ mong cho hết giờ, thì e rằng chẳng bao lâu, những người trí thức ở thế hệ sau sẽ không đến với đạo Phật chúng ta nữa. Làm thế nào để kinh họ tụng dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đọc. Tôi soạn kinh Pháp hoa Bổn môn theo tinh thần này, nhờ vậy mà đạo tràng Pháp Hoa phát triển được. Tôi tụng bộ kinh Pháp Hoa 28 phẩm phải mất một ngày, nay tôi tóm gọn những ý chính của kinh này lại chỉ trong một thời khóa 20 phút, thì Phật tử tham dự dễ dàng và sau đó họ đi làm việc, hoặc về lo việc nhà. Đưa Phật giáo vào khu dân cư, đến

* Trang 174 *
device

từng nhà, thể hiện qua câu " Đạo pháp hoằng thông đến mọi nhà”.
Nếu chỉ đưa Phật pháp vào khu dân cư thôi cũng chưa đủ, phải đưa Phật pháp vào tâm hồn người, thì như vậy đạo Phật không bao giờ mất, vĩnh viễn tồn tại. Nhưng muốn Phật pháp phổ cập như vậy thì phải trong sáng hóa kinh điển, nghĩa là kinh phải dễ hiểu, dễ thuộc, dễ tụng.
Khi đạo Phật đi vào khu dân cư, đến từng nhà, thấm sâu vào tâm hồn người, tôi tin rằng họ gần chúng ta lúc còn sống và khi chết, họ cũng sẽ tái sanh chung với chúng ta. Đức Phật đã dạy rằng Thầy trò thường sanh chung một cõi là vậy. Vì Thầy trò cùng thể nghiệm một pháp tu, nên hiểu nhau, cảm thông với nhau, giải thoát được. Đức Phật sanh tiền giáo hóa nhiều người một cách đơn giản, nhẹ nhàng mà hàng ngoại đạo không thể hiểu được. Phật cho biết rằng Ngài thành tựu việc giáo hóa độ sanh dễ như vậy, vì những người này đã từng được Phật giáo hóa từ nhiều kiếp xa xưa trước.
Lúc tôi mới soạn Bổn môn Pháp Hoa, một số vị cũng không bằng lòng, cho rằng bộ kinh lớn mà rút gọn còn một tập mỏng. Nhưng đến nay, đã trải qua 27 năm, người tu theo đạo tràng mỗi ngày đông thêm, vì dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tụng. Đó là suy nghĩ và ứng dụng của tôi. Các anh em phải có suy nghĩ khác, ứng dụng khác mà thích nghi được với yêu cầu của thời đại các anh em. Làm thế nào quần chúng hiểu được, tin được và ưa thích áp dụng trong cuộc sống

* Trang 175 *
device

họ có kết quả tốt đẹp, là đã đem Phật vào đời, vào khu dân cư, đến từng nhà, sống trong từng tâm hồn. Không được như vậy, mà đem Phật về núi, không khéo làm đạo Phật tiêu mất. Thực tế của sinh hoạt Phật giáo Hàn quốc cho thấy điều này. Tôi sang thăm những ngôi chùa ở trên núi rất lớn, nổi tiếng của Hàn quốc. Những chùa này trải qua nhiều đời được nhà vua cấp đất cả mười mấy ngàn mẫu, rộng mênh mông. Vậy mà ngày nay, chùa chỉ còn là nơi tham quan của khách du lịch, không phải điểm sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng, vì chùa ở cách xa đô thị quá và sinh hoạt của đạo Phật không còn dính líu gì đến mọi người. Người du lịch tham quan chưa đi hết một vòng đã phải vội vàng lên xe về. Chùa ở nơi cách biệt với sinh hoạt của người dân, cộng với sự hành đạo cũng cách ly với nếp sống của họ, nên lần lần Phật giáo đã mất vị trí trong lòng xã hội. Trước kia, dân Hàn quốc theo đạo Phật nhiều, nhưng ngày nay, đến thành phố Seoul hay bất cứ chỗ nào cũng chỉ thấy nhà thờ Tin Lành, rất nhiềunhà thờ nhỏ hay nhà nguyện trong khu dân cư. Phật giáo Hàn quốc đang bị mai một vì các nhà sư lên núi tu, sống cách ly với cuộc đời thì làm sao người dân đến với đạo Phật được.
Việt Nam đang trên đường hội nhập thế giới, tất yếu Phật giáo phải hội nhập xã hội, nếu muốn tồn tại và phát triển. Hướng đi vào cuộc đời, vào xã hội có nhiều phương cách khác nhau, đó chính là phương tiện của chúng ta hành đạo. Tổ sư cũng từng dạy rằng " Đại dụng tại tiền, quyền tại thủ”.

* Trang 176 *
device

Quyền là phương tiện trong tay chúng ta phải nắm được, vận dụng vào cuộc sống sao cho gần gũi mọi người để hướng dẫn họ, làm gương tốt cho họ sống tốt đẹp theo.
Ở thế kỷ 21, đất nước chúng ta hướng đến đô thị hóa, các Giảng sư nào chọn con đường hội nhập, giáo hóa ở khu dân cư đô thị cần biết rõ đối tượng là ai, họ cần gì. Những người lớn tuổi, lớp thanh niên sinh hoạt như thế nào? Nếu chúng ta có những sinh hoạt Phật giáo thích hợp với giới thanh niên trẻ trong xã hội, họ có thể đến với chúng ta, vì thấy những gì chúng ta dạy không khác lạ với cuộc đời, nhưng có phần vượt trội là giúp họ thêm bình tỉnh, thêm sáng suốt, thêm nghị lực để phấn đấu, tồn tại tốt đẹp trong vòng quay tất bật, căng thẳng của nếp sống đô thị.
Mỗi anh em Giảng sư phải có cách suy nghĩ nhạy bén và thích nghi với từng nơi, không phải nơi nào cũng giống nhau, mỗi hoàn cảnh mỗi khác. Sử dụng cách thích ứng được với địa bàn của mình thuyết pháp giáo hóa thì thành công và phát triển được việc xiển dương chánh pháp. Đó là điều tôi mong ước các Giảng sư tương lai thực hiện được để giữ cho Phật giáo có vị trí trong lòng dân tộc mà những vị đi trước đã thành tựu.
Ngoài ra, có hai việc phụ thường xảy ra trong sinh hoạt Phật giáo mà tôi muốn nhắc nhở, một là trai Tăng cúng dường và hai là lễ dâng y. Phật tử Việt Nam thường quen nghĩ rằng trai Tăng cúng

* Trang 177 *
device

dường có phước nhiều, sanh lại đời sau không bị đói và cúng y để đời sau ở đâu cũng có quần áo mặc.
Nghĩ như vậy không đúng. Thế hệ anh em phải canh tân lại hai việc này. Mỗi năm các chùa đều tổ chức lễ dâng y, kêu gọi Phật tử mua sắm vải. Một y chúng ta mặc được năm, ba năm, nhưng nhận nhiều y của họ cúng thì chúng ta làm gì? Bán thì sợ tội, còn may mà để đó thì không nên. Trong luật Phật cũng dạy rằng chúng ta cần có y khác khi y bị mất, hay bị cháy, bị nước lụt lội cuốn trôi. Vì thời Phật ở Ấn Độ thường xảy ra nạn lụt, nhà sư bị mất y, nên mới khuyến khích cúng y. Và người cần y, may y mới thì phải xả y cũ. Chúng ta không cần mà cứ bảo người cúng là không nên.
Quý Thầy thường khuyên Phật tử cúng y cho tôi để được phước, nhưng tôi rất sợ. Mỗi mùa an cư, tôi có quá nhiều y. May không được, bỏ không nên, vô tình chúng ta biến việc này thành hủ tục, dạy Phật tử những điều sai trái. Chúng ta từ chối nhận y, nói với Phật tử rằng ta không xả y cũ, nên không được quyền nhận y mới. Phật tử đạo tràng Pháp Hoa không bao giờ cúng y cho tôi, vì tôi dạy như vậy. Không cần thiết mà chúng ta thọ nhận để Phật tử tốn kém vô ích, lãng phí. Ai cũng biết Phật dạy chúng ta tam thường bất túc, trong đó có việc mặc.
Thay vì cúng y cho chư Tăng, theo tôi, anh em thuyết giảng ở vùng xa nên vận động Phật tử tặng quần áo cho người nghèo ở vùng xa thì tốt hơn. Các Thầy cô trẻ nên suy nghĩ để thay đổi việc làm này

* Trang 178 *
device

trở thành giúp ích cho xã hội thì hiện hữu của chúng ta càng có ý nghĩa.
Thứ hai là vấn đề trai Tăng cúng dường cũng cần suy nghĩ. Nhiều chùa trong nội thành hẹp, nhưng mời nhiều người. Thức ăn dọn sẵn, nguội lạnh, không hợp vệ sinh. Tôi không đi trai Tăng là vậy và cũng không khuyến khích việc này. Vì nấu cho nhiều người dùng, nên phải thức đêm làm trước và dọn sẵn, trưa mới ăn mà từ sáng đã dọn ra, để trong không khí ô nhiễm, ăn nhằm chất độc rồi ngã bệnh. Đi trai Tăng nhiều, bệnh nhiều, phải uống thuốc, quả là không được lợi lạc.
Chúng ta nên đặt nhẹ vấn đề trai Tăng, nhưng dành nhiều thì giờ để lễ bái, cầu nguyện tốt hơn. Tôi ở Nhật Bản 8 năm không dự trai Tăng, vì họ không làm việc này, tôi tham dự nhiều buổi lễ cầu nguyện là chính. Họ thường mời chư Tăng cầu nguyện trước Tam bảo, việc này rất tốt. Tôi nghĩ rằng vừa tổ chức lễ cầu nguyện, vừa làm lễ hành chính, vừa tổ chức ăn uống như chúng ta vẫn thường làm, mà việc ăn uống mất nhiều thì giờ hơn và tốn kém hơn thì e rằng không thích hợp với xã hội mới. Anh em nên suy nghĩ và cải cách vấn đề này. Sinh hoạt hành chính, lễ cầu nguyện, việc ăn uống, việc nào ra việc đó, mới phù hợp với xã hội văn minh.
Trong lễ cúng dường, làm thức ăn ít thì coi không được. Nhưng tôi để ý các lễ trai Tăng, quý Thầy dùng nhiều chỉ đến một phần ba thức ăn dọn ra. Nếu đổ bỏ thức ăn thừa thì tội, nấu lại cho người khác ăn thì

* Trang 179 *
device

mất vệ sinh; xã hội thời nay không chấp nhận như vậy. Chỉ những người kém hiểu biết mới nghĩ rằng ăn đồ thừa của chư Tăng được phước. Ở Nhật, mỗi người có khẩu phần riêng, xã hội văn minh không chấp nhận việc gắp thức ăn chung vì vấn đề vệ sinh, tránh lây bệnh truyền nhiễm và bảo vệ được sức khỏe an toàn. Quý Thầy nên suy nghĩ để thay đổi những tập quán không tốt.
Phẩm vật tứ sự như các chùa thường tổ chức cúng dường, theo tôi cũng nên suy nghĩ lại. Vì cúng những gì cần thiết thì người nhận mới sử dụng được, không lãng phí. Theo tinh thần này, hôm nay Phật tử đạo tràng cúng dường quý Thầy cô tịnh tài dùng làm phương tiện đi lại, gọi là xa phí. Và tiệc chay gồm những món ăn tự chọn, bên ngoài gọi là tiệc buffet. Mỗi vị từ Thượng tọa trở xuống thích hợp với món ăn nào thì tự đến lấy món đó để vào một khay riêng và lấy vừa đủ ăn, không bỏ thức ăn thừa mứa.
Tôi đưa ra một số mô hình kiểu mẫu để gợi ý cho quý Thầy cô trẻ thấy được những điểm hay mà suy nghĩ, cải cách sinh hoạt Phật giáo cho thích hợp với thời đại của chính quý vị, ngõ hầu đạo Phật hiện diện trong mọi sinh hoạt xã hội, trong lòng mọi người, trong nếp sống đời thường của họ, để tạo thành một thế giới an lành trên thế gian này.

* Trang 180 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì