LOGO VNBET
Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
(Bài giảng tại đại giới đàn Quảng Đức,
do Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh tổ chức
tại chùa Phổ Quang, ngày 2-6-2001)
         Hôm nay tại giới đàn này, quý thầy phát tâm cần cầu giới pháp. Với tư cách là Hòa thượng tuyên Luật sư, tôi có đôi lời nhắc nhở các vị nên lưu tâm đến tinh thần cốt lõi của giới pháp để áp dụng đúng như Phật dạy trong cuộc sống tu hành.
Phải khẳng định rằng những người đi theo lộ trình của đức Phật mà không tôn trọng giới pháp thì không thể thành Phật được. Tính cách quan trọng và cao quý của giới theo Phật dạy được ví như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, như ma ni bảo châu, anh lạc châu.
Mặt trời, mặt trăng tỏa ánh sáng cho muôn loài sinh sống, phát triển. Thiếu hai thứ ánh sáng này tất cả sinh vật không thể tồn tại được. Cũng vậy, nhờ có giới pháp soi đường dẫn lối, chúng ta mới có thể tiến bước trên con đường đạo hạnh và nuôi lớn giới thân, huệ mạng của bản thân mình cũng như

* Trang 393 *
device

tỏa bóng mát an lành cho chúng sanh nương nhờ. Chính những thành quả ấy đưa chúng ta đến quả vị Hiền thánh.
Giới ví như ma ni bảo châu, tức người thọ lãnh và giữ gìn được giới thì họ sạch được nghiệp và còn tác động cho người có nhân duyên, căn lành gặp họ cũng tiêu trừ được nghiệp chướng.
Thứ ba là giới được ví như anh lạc châu, một thứ báu cao quý nhất, vượt hơn hẳn mọi thứ báu vật của thế gian. Ai tu hành có được anh lạc châu sẽ được Trời người cung kính, cúng dường.
Vì vậy, thể hiện được giới pháp của đức Phật là điều quý báu vô cùng đối với người tu. May mắn thay, chúng ta có được thân người, lại được xuất gia theo Phật, sắp được lãnh thọ chánh giới và trở thành trưởng tử của Như Lai, thay thế Ngài làm lợi ích cho chúng hữu tình trên cuộc đời này. Đó là trách nhiệm vô cùng quan trọng của người xuất gia. Nếu chúng ta không hiểu, không thọ được và không giữ được giới pháp, sẽ mang tội lớn không thể lường nổi. Thật vậy, người thường có phạm tội cũng còn nhẹ; chúng ta mặc áo Như Lai mà phạm sai lầm, tất nhiên phải gánh chịu tội vô cùng.
Quý vị may mắn được lãnh thọ giới pháp và cũng lãnh thọ trách nhiệm quan trọng của đức Phật giao phó. Tuy nhiên, tùy từng người, tùy từng hoàn cảnh mà sự lãnh thọ giới pháp có khác nhau. Từ đó, đức Phật đặt ra giới Sa di, Tỳ kheo, Thức

* Trang 394 *
device

xoa và Bồ tát giới để làm lợi ích chúng sanh. Vì vậy, có thể nói rằng tất cả giới pháp là phương tiện của Phật để giúp chúng ta tùy theo thân phận mà tiến tu đạo nghiệp, thành tựu quả vị Vô thượng bồ đề.
Giới pháp của đức Phật dạy cao siêu nhất là giới tánh, tức bản tánh thanh tịnh của chư Phật và chúng sanh cùng đồng một thể. Chúng ta cần phải ý thức rõ điều này. Chính vì vậy mà Đức Phật đã dạy rằng Ngài là Phật đã thành, chúng ta là Phật sẽ thành hay tất cả mọi người đều có khả năng thành Phật; đó là giới thể thanh tịnh.
Thật vậy, trước khi có mặt trên cuộc đời làm một chúng hữu tình, ta và Phật đồng nhau trên thể tánh. Nhưng từ khởi điểm tốt đẹp này, chúng ta lại bị vô minh vọng tưởng dẫn dắt đi vào sanh tử luân hồi và trải qua nhiều kiếp trôi lăn trong sanh tử như vậy, bản tánh sáng suốt ban đầu trở thành mờ tối. Từ đó, không biết chúng ta là Phật, mà tự nhận là người khổ đau đầy tham vọng.
Tuy nhiên, đức Phật dạy rằng trên cuộc đời không có sanh tử và khổ đau. Chỉ vì vô minh và vọng kiến thúc đẩy, mới có sanh tử, khổ đau. Hiện nay chúng ta là chúng sanh có khổ đau và vọng kiến vì vô minh, những thứ này ngăn che tánh sáng suốt của chúng ta vỗn đồng một thể với Phật.
Chính vì lý do đó mà đức Phật thường thị hiện làm người, để nói với mọi người rằng ai cũng

* Trang 395 *
device

thành Phật được và chỉ điều này rồi, Ngài xuất gia tu hành thành Phật. Việc Ngài nói và làm tương ưng với nhau, nên Ngài được tôn danh là bậc Minh Hạnh túc.
Theo Phật dạy, những người có Phật tánh tu hành đều thành Phật, trong khi các tôn giáo đương thời chủ trương rằng con người là sản phẩm của Thượng đế. Quyền quyết định của mình đem giao cho Thượng đế, việc thiện hay ác cũng là của Thượng đế.
Nhưng Phật dạy khác, vận mạng của con người do con người tự quyết định, không ai có thể quyết định thay. Ngài đã phủ nhận hoàn toàn quyền lực của Thượng đế.
Lời dạy của đức Phật đã thể hiện rõ nét trong cuộc sống của chính Ngài. Đầu tiên đức Phật đưa ra quyết định rằng tham vọng thế gian gọi là vọng kiến, vô minh làm cho con người đau khổ, trầm luân sanh tử.
Người ta thường nghĩ rằng tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp, ăn, ngủ là quyền lợi của con người. Đức Phật cho biết con người bị 5 thứ ham muốn này chi phối, nên không thấy đường ra khỏi sanh tử. Đức Phật đã hoàn toàn từ bỏ 5 điều ham muốn ấy. Chúng ta xuất gia cũng đi theo con đường của Phật khai thị. Từ đó, quyết tâm thứ nhất của chúng ta là từ bỏ 5 thứ ham muốn trên để dấn thân học đạo và tiến lên Hiền thánh.

* Trang 396 *
device

Đức Phật đã không vướng bận danh lợi thế gian và Ngài xuất gia học đạo, nhận chân được con người là tối linh trong muôn vật, có thể phát huy được năng lực của mình và vũ trụ. Hay nói cách khác, chính chúng ta tự quyết định được vận mạng của mình và Thượng đế chỉ là người ngoại cuộc.
Theo tinh thần cốt lõi trên của Phật dạy, bước theo dấu chân Phật, chúng ta phải vì đạo không tiếc thân mạng hay tiếc đạo Vô thượng hơn là tiếc mạng sống hữu hạn này. Các anh em hôm nay phát chí siêu phương, muốn làm Phật, làm Tổ, phải hết lòng vì đạo, mới có đạo và thành đạo. Còn hạng giá áo túi cơm không đi xa được trên con đường Hiền thánh.
Đức Phật xuất gia với quyết tâm không thành Vô thượng Đẳng giác hay không tìm ra chân lý, Ngài không trở lại cuộc đời. Từ quyết tâm đó, lập trường của Phật là không ăn cơm một nhà hai lần, thể hiện ý chí phải vươn lên. Ngày nay, chúng ta còn ăn cơm của nhà hôm qua là còn đứng lại, chưa tiến bộ.
Trên con đường vạn dặm đi đến chân lý, đệ tử Phật xuất gia cứ đi mãi, tiến mãi không dừng. Lập chí như vậy, chắc chắn sẽ thăng hoa cuộc sống tâm linh và phát huy đạo đức.
Trên bước đường thực hiện Bồ tát hạnh, đức Phật đã đi mãi như vậy mà không quan tâm đến việc ăn, ngủ. Đó là hạt nhân dẫn đến thành quả là Ngài đoạn tuyệt được lòng tham của con người.

* Trang 397 *
device

Chúng ta còn ưa thích ở nơi này, tu viện nọ, ăn cơm nhà này thấy ngon hơn, là còn kẹt tham ăn, ngủ và kế là kẹt tình cảm đối với tín đồ. Tất cả những thứ này ràng buộc chúng ta không đi xa được và tâm linh không phát triển được. Con đường đạo vì thế trở thành mờ mịt trước mắt chúng ta.
Có thể khẳng định rằng ai xuất gia tu hành đúng theo Phật dạy, từng bước thăng hoa; không đúng thì phải ngược chiều đi xuống.
Đức Phật đã nguyện không thành Phật thì không bao giờ trở lại với chúng sanh. Con đường đạo của chúng ta đi rõ ràng là đi thẳng. Các vị Tổ sư cũng dạy người xuất gia không quay lại con đường thế gian ví như người nhổ nước bọt, không ăn lại nước bọt đã nhổ ra. Không tu thì thôi, đã tu thì phải tu cho đắc đạo.
Đức Phật đã có lúc nỗ lực tu hành đến mức không ăn, không ngủ nghỉ, chỉ còn da bọc xương mà Ngài vẫn không thay đổi quyết tâm kiên cố ấy.
Vì đạo đến độ quên ăn, mới tìm được pháp thực và không ngủ mới đi sâu vào thiền định. Đức Phật sử dụng thiền định thay cho ngủ nghỉ, Ngài đã tiến gần đến Vô thượng đẳng giác và mấp mé bờ đạo, Ngài mới ngồi ở cây bồ đề thâm nhập đại thiền định, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh. Nói cách khác, vô minh tan thì minh hiện là điều quan trọng nhất của người tu.
Tam minh hay tâm trí sáng, thì phiền não trần lao nhứt thời bị đốt cháy. Chứng được túc mạng

* Trang 398 *
device

minh, đức Phật biết rõ mối tương quan tương duyên giữa Ngài và người thì mọi thứ ân oán của cuộc đời không còn chi phối được Ngài. Người xấu hay tốt đến với Phật, Ngài đều biết tường tận. Đức Phật đã khẳng định rằng Đề Bà Đạt Đa chẳng những phá hại Ngài đời này, mà từ nhiều đời trước, khi Ngài phát tâm hành đạo Bồ tát, Đề Bà đã dùng nhiều cách xấu ác để hại Ngài. Nhưng đức Phật vẫn nương theo sự phá hại ấy mà thăng hoa trên con đường Hiền thánh.
Trên bước đường tu, chúng ta biết mối tương quan tương duyên giữa mình và người, mới từng bước tháo gỡ được. Tôi cũng theo lời Phật dạy xem bạn đồng học, đồng tu đối xử với tôi như thế nào. Gặp người oán thì tôi biết mình đã gieo oán thù với họ trong kiếp quá khứ hay gặp người có thiện cảm, hỗ trợ tôi trong việc Phật sự thì cũng biết mình đã từng tốt với họ.
Chính nhờ biết rõ sự quan hệ của Phật với người từ nhiều kiếp cho đến đời này, nên trên bước đường độ sanh, đức Phật đến nơi nào cũng đều sử dụng được pháp tương ưng với tình cảm, ước mơ, hay suy nghĩ... của họ. Vì vậy, Ngài thành công dễ dàng trong việc giáo hóa người.
Kế đến, nhờ chứng Thiên nhãn minh, đức Phật biết được mọi việc xảy đến cho người trong hiện tại, mới uốn nắn được họ đi theo con đường thiện. Và tam minh thứ ba là Ngài thấu suốt diễn biến tương lai của mọi loài hữu tình, tức lậu tận minh.

* Trang 399 *
device

Với sự hiểu biết hoàn toàn sáng suốt của tam minh, đức Phật đi vào pháp giới trùng trùng duyên khởi, nghĩa là tương quan tương duyên giữa các loài chúng sanh và giữa các hành tinh. Đó là các pháp sanh diệt mà Ngài đã thông suốt, lúc ấy Ngài giáo hóa Bồ tát siêu hình trong mười phương. Giáo hóa những vị này thuần thục rồi, đức Phật mới trở lại thực tế cuộc sống của con người; tức Ngài từ thế giới thanh tịnh vì lòng bi mẫn mà sanh lại thế gian này với mục đích duy nhất là giáo hóa người.
Thực tế cho thấy đức Phật từ Bồ đề đạotràng thành Vô thượng đẳng giác và Ngài xuống Lộc Uyển độ 5 anh em Kiều Trần Như. Vì Phật biết rõ túc mạng và căn tánh của 5 vị này, nên Ngài giáo dưỡng họ, đều đắc quả vị La hán. Từ nơi đây, đức Phật mới bắt đầu lập giáo khai tông.
Có thể hiểu rằng ở Bồ đề đạo tràng, một môi trường hoàn toàn sáng suốt của bậc đại giác ngộ, thì chắc chắn giới tánh thanh tịnh, đức Phật không cần nói giới. Nhưng ở Lộc Uyển, để độ con người còn nhiều lỗi lầm, đức Phật mới đưa ra những điều không nên làm để họ nương theo, thành tựu được những việc thánh thiện. Đó là thời kỳ mà giới tướng khởi sự hình thành và bắt đầu với ba pháp quy y. Ngoài ba pháp quy y ở Lộc Uyển, không có giới điều nào khác.
Đức Phật quy định rằng ai muốn thành đệ tử Ngài phải tuân thủ ba pháp quy y. Nghe qua điều này thấy đơn giản, nhưng suy nghĩ sâu xa mới thấy

* Trang 400 *
device

tính quan trọng của ba pháp quy y. Chúng ta thường đọc tụng hằng ngày ba pháp quy y, nhưng thử hỏi quý vị đã quy y được thực sự hay không. Trong đời tôi thường suy nghĩ và cân nhắc tinh ba của pháp quy y để tiến tu đạo nghiệp.
Đầu tiên, quy y Phật là hướng về Vô thượng bồ đề. Pháp này rất quan trọng, vì trong cuộc đời tu học, còn điều gì chưa biết thì còn phải học; đó là quy y Phật đối với tôi. Thật vậy, Phật nghĩa là trí tuệ sáng suốt hoàn toàn, hiểu biết bao trùm muôn sự, muôn vật. Vậy chúng ta theo Phật để học Phật, biết như Phật.
Quy y Phật để biết việc xảy ra trên cuộc đời, thấu rõ mối tương quan giữa ta và người và giải quyết được mọi việc một cách tốt đẹp trong hiện tại cùng muôn kiếp về sau. Ngày nào chúng ta chưa đạt được túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh, thì còn phải nỗ lực tu học để phát huy tam minh của chính mình.
Thứ hai là quy y pháp. Pháp là nguyên tắc sống. Trong cuộc sống, chúng ta thường bị hai thế lực thiên nhiên và xã hội chi phối. Mọi phiền não đều phát sinh từ hai tác động này. Thử nghĩ xem mọi người buồn giận, khổ lo hay bị lục dục thất tình sai khiến cũng chỉ vì chịu sự tác động của xã hội, của loài người. Chúng ta tu hành cố thoát được lực chi phối của xã hội, của lục dục thất tình.
Ngoài ra, con người còn bị thiên nhiên hay nói khác là trời đất, khí hậu, nóng lạnh ảnh hưởng

* Trang 401 *
device

đến thân tứ đại. Nếu thân này không tương ưng được với sự thay đổi của khí hậu, không chịu nổi sự ô nhiễm của trời đất thì bệnh tật sẽ từ đó phát sinh, đó là thân bệnh. Nếu tình cảm không hợp với những gì xã hội quy định, phiền não cũng phát sinh, là tâm bệnh.
Chúng ta tu hành, quy y pháp là tuân thủ định luật tự nhiên và xã hội. Không theo được hai định luật này, nhất định luôn luôn khổ sở. Sống ở xã hội này mà mơ ước được như xã hội khác, làm sao toại nguyện được, phải khổ thôi. Vì không muốn nhưng bị áp đặt, nên người ta thường than thở là sao cứ phải làm cái không muốn! Như vậy là không hiểu pháp, không tuân thủ pháp.
Đối với tôi, chỉ làm những gì tôi muốn là quyết tâm tụng kinh, lạy Phật, khổ hạnh, thiền định, v.v... Vì vậy, quy y pháp rồi, chúng ta không còn kẹt sự chi phối theo nguyên lý của trời đất, không còn vướng bận với nguyên tắc sống của xã hội. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta bất cần nguyên tắc sống của thiên nhiên và xã hội.
Đức Phật dạy chúng ta tu hành thuận theo pháp thế gian nếu còn sống trong xã hội để giáo hóa độ sanh, thuận theo trời đất thì thân không bệnh, tâm không buồn, được tự tại giải thoát.
Quy y Tăng, theo tôi là quan trọng nhất. Từ ngày xuất gia cho đến nay hơn 50 năm, tôi vẫn nguyện từ đời này cho đến nhiều kiếp về sau, vẫn luôn sống trong tập thể Tăng. Muốn được như vậy, phải tùy thuận

* Trang 402 *
device

Tăng chúng. Chúng ta không có quyết định riêng, nhưng lấy quyết định của chư Tăng và các bậc tôn đức lãnh đạo Giáo hội làm quyết định của mình, thì chúng ta không bị chống trái. Bằng mọi cách, chúng ta phải hòa hợp với cuộc sống của chúng Tăng.
Từ đó, cần ý thức rằng tu mà không được chúng thương mến, đến nơi khác, đại chúng cũng không ưa thích chúng ta, là không phải đệ tử Phật.
Đức Phật dạy Tăng nghĩa là hòa hợp, ở đâu cũng mang tính hòa hợp. Vì thế, tâm Tăng được ví như nước, cái gì nước cũng hòa được. Không hòa hợp thì không là Tăng. Dù có tu, nhưng tâm vẫn buồn phiền, tranh giành, chống phá là đọa.
Người thế gian đọa không đáng kể, nhưng mặc áo sa môn mà bất mãn, buồn phiền thì đáng thương hại nhất. Các thầy xuất gia, đắp y phải nghĩ bằng mọi cách sống hài hòa với chùa, với chúng, với Giáo hội. Giáo hội cử làm việc gì, chúng ta không từ chối. Đối với tôi, Tăng sai thì làm, không từ khó nhọc, không nề gian lao, lấy Tăng chúng và Giáo hội làm lẽ sống.
Thực hiện được cốt lõi của ba pháp quy y, mới tròn được giới hạnh căn bản của Phật. Trong 12 năm đầu theo Phật kể từ khi Ngài bắt đầu lập giáo khai tông, muốn trở thành Thánh hiền, chỉ cần ba pháp quy y như vậy.
Tuy nhiên, gặp Phật tử tại gia phát tâm theo Phật, Ngài khuyên nên giữ 5 giới cấm. Đối với đệ tử

* Trang 403 *
device

Tỳ kheo, Ngài nói thêm 250 giới hoặc có người trẻ tuổi tập sự tu hành, Phật mới dạy 10 giới Sa di. Tùy người, tùy chỗ mà thuyết giới không đồng, để tương ưng với nghiệp duyên của người, giúp họ có thể tiến tu được. Và đối với Bồ tát, Phật mới dạy 10 giới vô tận tạng.
Dù là giới của cư sĩ, Sa di hay Tỳ kheo, Bồ tát..., quan trọng nhất vẫn là không được phạm tứ trọng tội : sát, đạo, dâm, vọng. Vì vậy, người xuất gia muốn trưởng dưỡng đạo tâm, đi đến Hiền thánh cũng phải cố gắng gìn giữ, không cho sai phạm bốn trọng tội ấy.
Như vừa nói, trong các giới của Bồ tát, Tỳ kheo, Sa di hay cư sĩ đều có giới điều về bốn trọng tội : sát, đạo, dâm, vọng. Tuy nhiên, cũng tùy trường hợp, tùy từng người mà giới điều trên được triển khai rộng hẹp khác nhau. Giới đàn này có đủ thành phần Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Bồ tát xuất gia và tại gia, nên quý vị cần giữ giới tâm thanh tịnh do giới sư truyền trao.
Nhờ quyết tâm thọ lãnh và giữ gìn giới pháp, tâm sẽ lần lần thanh tịnh hơn, bồ đề sẽ mỗi ngày sáng hơn và chắc chắn quý vị sẽ vượt qua 500 do tuần đường hiểm, đạt đến quả vị Vô thượng đẳng giác.
Chúng tôi mong quý vị nên trân trọng giới pháp của Phật dạy, lãnh thọ và hành trì được giới pháp. Cầu nguyện cho tất cả giới tử giới châu thanh tịnh, đạo quả viên thành.

* Trang 404 *
device

 
Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì