LOGO VNBET
CHỌN MỘT NIỀM VUI
Thanh Đào
 
Với kinh nghiệm của bậc giác ngộ, Đức Phật nói cho chúng ta biết rằng niềm vui có hai loại. Một loại có khổ đau, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, đưa đến tranh chấp (hữu tránh). Loại thứ hai không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, không đưa đến tranh chấp (vô tránh). Ngài khuyên chúng ta nên nhận thức rõ về hai loại niềm vui này để có sự lựa chọn thích đáng. Nguyên văn loài khuyên của Ngài: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc”.1
Lạc (sukha) có nghĩa là niềm vui, hạnh phúc, kinh nghiệm hài lòng riêng biệt của mỗi cá nhân.

1 Kinh Vô tránh phân biệt, Trung Bộ.

* Trang 254 *
device

Con người có chung thiên hướng là tìm kiếm niềm vui hay hạnh phúc. Ai cũng mong có được hạnh phúc. Trong bất kỳ hoàn cảnh hay điều kiện nào, con người đều tìm cách để có được niềm vui hay hạnh phúc, hoặc chỉ ít cảm thấy bằng lòng của chính mình. Chính vì thế mà niềm vui hay hạnh phúc là hết sức đa dạng trong thế giới loài người. Tùy thuộc vào điều kiện duyên nghiệp hay kinh nghiệm riêng biệt của mỗi cá nhân mà hạnh phúc được hiểu và được cảm nhận theo mỗi cách khác nhau. Đức Phật chứng nghiệm đầy đủ về các loại hình thái lạc hay hạnh phúc1. Ngài biết rõ các loại lạc có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, đưa đến tranh chấp và có loại lạc không có đau khổ, không có phiền lao, không có phiền lao, không có ưu nào, không có nhiệt não, không đưa đến tranh chấp. Vì vậy Ngài khuyên các đệ tử mình nên xem xét cân nhắc cho thật kỹ về hai loại lạc này và nên tìm kiếm nội lạc. Ngài tiếp tục giải thích:
“Khi được nói đến: "Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc", do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận

1 Kinh Đa thọ, Trung Bộ; Năm vật dụng, Tương Ưng Bộ.

* Trang 255 *
device

thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức,... ; các hương do mũi nhận thức,... ; các vị do lưỡi nhận thức... ; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự thọ lạc mà bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú” , chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.

* Trang 256 *
device

Khi được nói đến: "Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc, hãy chú tâm vào nội lạc", do chính duyên này được nói đến như vậy.”1
Như vậy, Đức Phật đã phân biệt rất rõ hai loại lạc hay niềm vui. Thứ nhất là dục lạc hay niềm vui phát sinh do nhận được sắc, thanh, hươngvị, xúc khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nói cách khác, đó là khoái cảm giác quan do sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu đem lại. Thứ hai là xuất ly lạc hay niềm vui phát sinh do từ bỏ hành vi bất thiện, rồi xa dục lạ hay khoái cảm giác quan, do tâm được luyện tập đạt đến an tịnh, định tĩnh, thuần tình, nhất tâm.
Loại thứ nhất – dục lạc (kàmasukha) hay sự thích thú mê say đối với các lạc thú thế gian như sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngọn, cảm xúc êm dịu (hay lòng thích thú đam mê đối với tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, thức ngon vật lạ, ngủ nghỉ), được xem là niềm vui làm ô uế tâm thức (mìhasukha); niềm vui của những kẻ hàm tực (puthujjanasukha); niềm vui không đưa đến thanh cao, giác ngộ (anariyasukha); niềm vui tiềm ẩn nhiều khổ đau, nhọc nhằn, phiền muộn, sầu não, bức bách, niềm vui có

1 Kinh Vô tránh phân biệt, Trung Bộ.

* Trang 257 *
device

nguy cơ đưa đến tranh chấp, giành giật, đấu tranh, cướp bóc, chiếm đoạt, chiến tranh, xâm lăng, tàn hại lẫn nhau.1 Vì sao? Vì đó là niềm vui làm tăng trưởng dục vọng nuôi lớn bản năng, nuôi lớn lòng ích kỷ; càng thích thú say đắm nó thì lòng ham muốn càng lớn mạnh, dục vọng càng gia tăng, càng khiến cho con người trở nên khao khát, thiếu thốn, nghèo đói, quay cuồn, điên đảo trong thế giới bon chen danh lợi, bị trói buộc, mất tự do, không còn tỉnh táo sáng suốt, không làm chủ được bản thân mình,2 rơi vào tranh chấp, giành giật, tàn hại lẫn nhau. Đức Phật thấy rõ sự nguy hại của loại lạc hay niềm vui này3 nên khuyên nhắc mọi người không nên tìm kiếm, không tích tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi và rời xa.
Trái lại, loại thứ hai – xuất ly lạc hay niềm vui của sự chuyển hóa và thăng tiến tâm thức, được xem là niềm vui của sự rời bỏ các hành vi xấu ác và lạc thú trên thế gian (nekkhammasukha); niềm vui của sự xả ly các dục vọng hay dục tưởng (pavivekasukha); niềm vui của sự an tịnh hay vắng lặng các cấu uế nội tâm như dục tầm, sân tầm, hại tầm, dục tư duy, sân tư

1 Đại kinh Khổ uẩn, Kình Xà dụ, Trung Bộ.
2 Kinh Màgandiya, Kinh Ratthapàla, Trung Bộ.
3 Xem sự mô tả chi tiết ở Đại kinh Khổ uẩn, Trung Bộ.

* Trang 258 *
device

duy, hại tư duy (upasamasukha); niềm vui đưa đến tâm giải thoát hay giác ngộ (sambodhasukha). Đó là niềm vui tự nội phát sinh cơ bản do hành trì thiền định, nghĩa là do tâm được tu tập chuyển hóa và phát triển trên cơ sở loại bỏ năm truyền cái (tham, sân, hôn, trầm thụy miên, trạo hối, nghi), thay thế bằng năm thiền chi (tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm), lần lượt đạt đến các trạng huống an lạc, thanh thản và thuần tịnh như “hỷ lạc do ly dục sanh”, “hỷ lạc do định sanh”, “xả niệm lạc trú”, “xả niệm thanh tịnh”. Kinh Phật gọi sự thực nghiệm các tình huống này là “hiện tại lạc trú” (ditthadhammasukhavihàra), tức sống an lạc ngay đây và bây giờ, với các mô tả:
“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không

* Trang 259 *
device

một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.1
Đức Phật gọi các niềm vui trên là Thiền lạc (jhànasukha) hay nội lạc (ajjhattasukha), tức niềm vui của tâm thức thanh tịnh, vắng lặng các cấu uế như tham dục, sân hận, giải đãi, dao động, hoan mang; niềm vui không mang lại đau khổ, nhọc nhằn, không phát sanh tranh chấp, không đưa đến sầu muộn, phiền não, bức bách, niềm vui chơn chánh đưa đến giải thoát, giác ngộ. Vì sao? Vì đó là niềm vui tự nội, thuần

1 Mã ấp đại kinh, Trung Bộ.

* Trang 260 *
device

tuý tâm thức, không liên hệ gì đến vật dục hay thế giới đến ngoài, vắng bặt mọi dục vọng hay dục tưởng, mọi kháo khát, tìm cầu, toan tính, hy vọng hay thất vọng. Đó là niềm vui của tâm thức siêu việt dục giới, vượt khỏi các ham muốn thế tục, không toan tính nghĩ suy, hoàn toàn tỉnh thức và buông xả; niềm vui của sự thanh lọc cảm thọ và chuyển hóa nội tâm dần dần đạt đến tĩnh lặng và trong sáng; niệm vui của cảm nghiệm Không tánh về tự thân và thế giới; niềm vui của tâm giải thoát, không luyến ái, không bám víu, không dinh mắc, không chấp thủ, không trói buộc. Do thấy rõ lợi ích của nội lạc hay lạc Thiền định này nên Đức Phật khuyến khích mọi người nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.
Tóm lại, Đức Phật thấy rõ bản chất ái lạc của chúng sinh nên khuyên chúng ta nhận thức cho thật đúng về sự hạn chế và nguy hại của dục lạc hay lạc thú thế gian và nên hiểu rõ về sự lợi ích an ổn của Thiền lạc hay niềm vui của tâm thức hướng thượng để định hướng cho cuộc sống của mình. Ngài nói đến hai loại lạc hay niềm vui, nêu rõ dục lạc hay niềm vui của lòng đam mê các lạc thú thế gian là thấp kém và đầy nguy hại so với tính chất cao thượng và an ổn của Thiền lạc hay niềm vui của tâm xuất ly hướng thượng. Ngài khuyên chúng ta nên hạn chế và

* Trang 261 *
device

tránh xa dục lạc hay lòng ham muốn thái quá với các lạc thú thế gian và nên thực nghiệm Thiền lạc hay niềm vui của nội tâm an tịnh thông qua hành Thiền, phát triển nội tâm.
Đức Phật khuyên chúng ta nên hạnh chế và tránh xa dục lạc và nên tập trung tìm kiếm nội lạc hay Thiền định, vì kinh nghiệm của Ngài thì dục lạc là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, đưa đến tranh chấp, trong khi Thiền lạc là pháp không khổ đau, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não, không đưa đến tranh chấp hơn thế dục lạc giam cầm con người trong phạm vi dục giới thấp kém với tâm thức bị dục ái gò bó, dục lạc trói buộc, không hướng thượng, không trong sáng, không thanh thản; trong khi Thiền lạc hướng con người đến các cảnh giới tâm thức cao thượng như sắc giới, vô sắc giới hay giải thoát tối hậu. Hẳn nhiên, những người học Phật biết rất rõ rằng tu Thiền không phải là để tìm kiếm an lạc nhất thời mà chính là để tâm dần dần được định tĩnh, trong sáng, thanh tịnh, nhờ đó trí tuệ giác ngộ hay tuệ giác giải thoát phát sinh đưa đến cắt đứt các kiết sử và lậu hoặc, chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đâu1. Tuy nhiên, như là

1 Kinh Cùlasakuludàyi, Trung Bộ.

* Trang 262 *
device

kết quả, hành Thiền thì tự nhiên chứng nghiệm được Thiền lạc hay sự thanh thản an lạc nội tâm và chính Thiền lạc hay các trạng huống an lạc thanh thản nội tâm này có khả năng đối trị lòng khao khát và đam mê dục lạc. Nói cách khác, Đức Phật khuyên chúng ta nên hành Thiền để chứng nghiệm Thiền lạc hay niềm vui nội tâm an tịnh, vừa có khả đối trị và thanh thế dục lạc vốn tìm ẩn nhiều nguy hại khổ đâu1, vừa nâng cao các phẩm chất đạo đức, tâm đức, tuệ đức, hướng đến mục đích giải thoát và giải thoát tri kiến2.

1 Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Màgandiya, Trung Bộ.
2 Đại kinh Saccaka, Mã ấp đại kinh, Trung Bộ.

* Trang 263 *
device

 
Pháp Vị