LOGO VNBET
NÓI CHO NGƯỜI BIẾT NGƯỜI THẤY
Nguyên Mai
 
Đức Phật tuyên bố rất rõ rằng Ngài đến với cuộc đời chỉ để làm sáng tỏ hai vấn đề: khổ và diệt khổ.“Này các Tỷ-kheo,  xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ”1. Có một ý nghĩa sâu xa và quan trọng trong lời tuyên bố của Phật. Tất cả những gì Ngài giảng dạy đều nhằm làm sáng tỏ sự khổ và cách thức diệt trừ khổ đau. Nói cách khác, mục đích của Phật là chỉ bày cho con người về sự thật khổ đau và con đường đi ra khỏi khổ đau. Phật không làm gì khác ngoài hai việc này. Người ta cũng không tìm thấy lời nào của Phật vượt ra ngoài hai phạm trù căn bản này.

1 Kinh Xà dụ, Trung Bộ.
 

* Trang 233 *
device

Để làm sáng tỏ sự khổ và diệt khổ, Phật vận dụng nhiều cách thức khác nhau. Cái khổ của nhân sinh là thực và muôn hình vạn trạng, thế nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra. Con người có khuynh hướng lờ đi những gì khiến gợi lên ý nghĩa khổ đau bằng cách cố tìm kiếm các cảm xúc đối lập nhằm chống lại cảm thức bị thương tổn. Có rất nhiều thú vui, những “bức rèm cảm xúc” mà cuộc đời không ngừng sáng tạo ra để giúp cho con người tránh bớt cảm thức bị bối rối thương tổn trước các sự thật trớ trêu của hiện hữu. Hẳn nhiên, có nhiều sự thật bị che mờ, nhưng phần lớn chúng ta thì cảm thấy an tâm trong một thế giới được che chắn mờ ảo bởi những thú vui giả tạm, những “bức rèm cảm xúc” như thế.
Khác với quan niệm của thế gian, Đức Phật không tạo thêm “bức rèm cảm xúc” nào nhằm  xoa dịu cảm thức bối rối của con người trước sự thật khổ đau trần thế. Ngài chủ trương giúp cho nhân loại thoát khỏi cội rễ khổ đau bằng cách nêu rõ bản chất bất toại của hiện hữu, đồng thời chỉ bày cho con người cách thức nhằm chấm dứt sự khổ. Ngài được xem là người “phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối”. Ngài xác nhận rất rõ rằng Ngài thuyết giảng sự diệt tận khổ đau cho người

* Trang 234 *
device

biết (jànàto) và người thấy (passato), chứ không phải cho người không biết (ajànàto), không thấy (apassato) 1. Nghĩa là cho người biết rõ và thấy rõ sự thật khổ đau và sẵn sàng đối diện với nó bằng một thái độ hiểu biết và tỉnh táo, chứ không có mơ hồ tìm kiếm các thú vui giả tạm hay các “bức rèm cảm xúc” nhằm  xoa dịu hay che giấu cảm thức bối rối sợ hãi. Chính vì thế mà người học Phật cần nuôi dưỡng  cái nhìn chín chắn và trưởng thành  về chính mình và về cuộc đời thì mới thấy hết cái hay cái lợi lạc của lời Phật dạy. Vậy Phật nói thế nào về cuộc đời này, trong ý nghĩa chỉ bày cho con người về sự thật khổ đau và cách thức diệt trừ sự khổ? Chúng ta xem qua ba luận đề sau đây do Phật đưa ra:
1. Vị ngọt của các dục (Assàda): Phật xác nhận cuộc đời có vị ngọt, nghĩa là có sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm,  vị ngon,  cảm  xúc êm  dịu làm say đắm  lòng người, khiến cho con người trở nên mê say, thích thú, nỗ lực tìm kiếm nhằm thỏa mãn lòng khao khát.
2. Sự nguy hiểm của các dục (Àdìnava): Bên cạnh vị ngọt khiến cho con người trở nên đam mê thích thú, Phật nói đến sự nguy hiểm của các dục hay lạc thú thế gian. Nghĩa là, vì để có được vị ngọt hay
___________________
1 Kinh Tất cả lậu hoặc, Trung Bộ

* Trang 235 *
device

để thỏa mãn các ham muốn dục lạc mà đôi khi con người phải trả những cái giá như thế này:
- Lao tâm khổ tứ trong cuộc sống, phải làm việc cật lực, thức khuya dậy sớm, chịu nắng chịu mưa.
- Rơi vào phiền muộn khổ não, nếu công ăn việc làm bị thất bại.
- Lo lắng tài sản bị tổn thất bởi nạn trộm cướp, bởi quan lại nhũng  nhiễu, bởi thiên tai hỏa hoạn hay bởi con cái phá tán.
- Rơi vào các việc làm xấu ác, vi phạm  pháp  luật khiến bị tù tội, chịu nhiều cực hình tra tấn khổ đau.
- Rơi vào tranh chấp cãi vã xâu xé lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em hay giữa bạn bè với nhau chỉ vì mục đích thỏa mãn dục vọng.
- Tranh chấp dòng  tộc, đấu tranh giai cấp dẫn đến đả thương, tàn sát lẫn nhau vì lý do danh vọng quyền lợi không được chia đều.
- Tranh chấp  lãnh thổ, xâm chiếm  đất  đai, chiếm đoạt  tài nguyên  giữa các quốc gia khiến chiến tranh xảy ra gây chết chóc khổ đau cho vô số người.
- Tạo các ác nghiệp về thân, về lời, về ý do duyên dục vọng nên sau khi thân  hoại mạng  chung, bị tái sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

* Trang 236 *
device

3. Sự xuất ly các dục (Nissarana): Nhận thức rõ các mối nguy hại tiềm ẩn của dục lạc hay các lạc thú thế gian, khởi tâm tìm kiếm một nếp sống an tịnh, thiểu dục tri túc, hạn chế và rời xa các ham muốn thế tục bằng cách ứng dụng phương pháp chuyển hóa và phát triển tâm thức, dần dần đạt đến khả năng tự chủ, chiến thắng lòng đam mê thái quá đối với dục lạc hay sự say đắm các lạc thú thế gian.
Ba luận đề trên là tiêu biểu cho cái nhìn của Đức Phật về nhân thế trong ý nghĩa chỉ bày cho con người về sự khổ và cách thức chấm dứt sự khổ. Hai luận đề đầu nói đến sự khổ và luận đề thứ ba nêu rõ cách thức chấm dứt sự khổ. Đức Phật chỉ nói lên sự thật, thông qua kinh nghiệm  giác ngộ của Ngài. Ngài nói đến  vị ngọt  của các dục và lòng đam mê các lạc thú thế gian là nguyên nhân của mọi rối loạn khổ đau và nêu rõ sự khắc phục lòng ham muốn dục lạc chính là con đường đi ra khỏi khổ đau. Đây hẳn là cái nhìn minh triết của bậc giác ngộ trong ý nghĩa khai mở con đường hạnh phúc an lạc cho nhân thế, một cái nhìn rất thực về ý nghĩa và giá trị nhân sinh rất đáng cho mọi người quan tâm suy ngẫm. Chúng ta chiêm nghiệm những lời dạy thiết thực của Phật 1:

1 Đại kinh Khổ uẩn, Trung Bộ.

* Trang 237 *
device

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các dục?
Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các sắc pháp do nhãn căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn; các tiếng do nhĩ căn nhận thức… các hương do tỷ căn nhận thức… các vị do thiệt căn nhận thức… các xúc do thân căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục như vậy. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các dục?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này các Tỷ- kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

* Trang 238 *
device

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả”. Này các Tỷ-kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục… là nguyên nhân của dục.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?”. Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… là nguyên nhân của dục.
 

* Trang 239 *
device

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lỵ tranh đoạt với Sát-đế- lỵ, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt, họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… là nguyên nhân của dục.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… là nguyên nhân của dục.

* Trang 240 *
device

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục… là nguyên nhân của dục.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình… hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa)… chúc thủ hình (đốt tay)… khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)… bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)… linh

* Trang 241 *
device

dương hình (hình phạt con dê núi)… câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)… tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)… khối trấp hình… chuyển hình… cao đạp đài… họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục… là nguyên nhân của dục.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân… do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các dục?
Này các Tỷ-kheo, đó là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục”.
Đáng chú ý rằng, về cách thức hay phương pháp khắc phục lòng đam mê dục lạc đưa đến chấm dứt sự

* Trang 242 *
device

khổ, Đức Phật nêu rõ một kinh nghiệm rất cụ thể mà chính Ngài đã trải qua, đó là hành Thiền hay thực tập chuyển hóa và phát triển nội tâm thông  qua thiền định1. Phật chủ trương hóa giải lòng đam mê dục lạc bằng  thiền định, vì theo kinh nghiệm của Phật thì hành thiền khiến tâm hồn con người trở nên thanh  cao hướng thượng do chứng nghiệm  được thiền lạc, tức các trạng huống hân hoan, an lạc và thanh thản nội tâm như “hỷ lạc do ly dục sanh”, “hỷ lạc do định sanh”, “xả niệm lạc trú”, “xả niệm thanh tịnh”. Chính các trạng huống hạnh phúc an lạc nội tâm sâu lắng và an tịnh như vậy mới có khả năng chuyển hóa cách nhìn hạn hẹp của con người về ý nghĩa và giá trị của sự sống, giúp con người thấy rõ sự hạn chế và nguy hại của dục lạc, tìm thấy sự hài hòa, thanh thản và tự do trong đời sống hàng ngày, không còn xem dục lạc là mục tiêu cứu cánh của nhân sinh, thoát khỏi mọi ám ảnh và không bị chi phối bởi dục vọng, không còn ham muốn thái quá đối với các lạc thú thế gian. Nói cách khác, chỉ có hành thiền hay thực tập chuyển hóa và phát triển nội tâm theo pháp môn Giới-Định-Tuệ của Phật thì lòng đam mê dục lạc mới dần dần được chế ngự, các phiền não khổ đau (chủ yếu do tham dục tạo ra) mới dần dần được khắc phục và loại trừ.

1 Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Màgandiya,  Đại kinh Saccaka, Trung Bộ.

* Trang 243 *
device

 
Pháp Vị