LOGO VNBET
PHÁP TU CỦA BẬC HỮU HỌC
Chúc Diên

Đạo Phật dùng khái niệm hữu học (sekha) và vô học (asekha) để chỉ hai hạng người xuất gia tầm cầu giác ngộ. Hạng thứ nhất-hữu học, chỉ cho các Tỷ-kheo đang nỗ lực học tập và hành trì giáo pháp của Phật nhằm mục đích đoạn trừ các kiết sử, thành tựu quả vị A-la-hán hay chứng đắc cứu cánh giải thoát, chấm dứt tái sanh hay sanh tử luôn hồi. Họ được gọi là những người đang nỗ lực cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách – Niết-bàn. Hạng thứ hại-vô học, chỉ cho các Tỷ-kheo đã hoàn tất mục tiêu tu học lời Phật dạy, đã đạt đến đích giải thoát, đã chứng Niết-bàn, thành tựu quả vị A-la-hán, không còn tái sanh hay sanh tử luân hồi. Theo kinh văn truyền thống, họ được mô tả: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc

* Trang 114 *
device

cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái sanh tử này nữa”.
Trong sự phân loại về bốn Thánh đạo (Ariyamagga) và bốn Thánh quả (Ariyaphala), hạng hữu học (sekha) bao gồm những vị đang ở trên đại lộ hướng đến quả Dự lưu (Sotàpattimagga), hoặc những vị đã chứng quả Dự lưu (Sotàpanna), hoặc những vị đang ở trên đại lộ hướng đến quả Nhất lai (Sakadàgàmimagga), hoặc những vị đã chứng Nhất lai (Sakadàgàmì), hoặc những vị đang ở trên đại lộ chứng quả Bất lai (Anàgàmimagga), hoặc những vị đã chứng quả Bất lai (Anàgàmì), hoặc những vị đang ở trên đại lộ hướng đến quả A-la-hán (Arahattamagga); trong khi hạng vô học (asekha) gồm những vị đã chứng quả A-la-hán (Arahanta).
Như vậy, trừ những vị đã thành tựu quả vị A-la-hán gọi là vô học (asekha), tất cả các Tỷ-kheo đang nỗ lực tu tập lời Phật dạy nhằm đạt đến mục đích cứu cánh giải thoát hay hay chứng đắc quả vị A-la-hán thì được gọi là những vị hữu học (sekha). Họ còn phải nỗ lực học hỏi và tu tập vì chưa đạt đến cứu cánh giải thoát, đang ở bờ này, chưa đến bờ kìa, chưa chứng đắc quả vị giác ngộ. Vậy các vị hữu học cần phải học hỏi và tu tập thế nào để cho việc tu học của mình được tiến triển thuận lợi và sau cùng đạt
 

* Trang 115 *
device

Đến mục đích cứu cánh giải thoát? Theo lời dạy của Đức Phật thì các Tỷ-kheo hữu học cần phải chuyên tâm thực hành các pháp dành cho bậc hữu học (sekhapatipadà) và cần tránh các hoạt động mang tính thế tục hoặc liên hệ đến thế tục. Sau đây là các pháp thực hành dành cho các bậc hữu học, do tôn giả Ànada thay Đức Thế Tôn giảng cho các vị thuộc dòng Thích Ca (Sakya)1:
Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử, thành tựu giới hạnh, hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, thành tựu bảy diệu pháp, hiện tại lạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức.
Và này Mahànàma, thế nào là vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh? Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học các học pháp.
Và này Mahànàma, thế nào là vị Thánh đệ tử hộ trì các căn? Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung,

1 Kinh Hữu Học, Trung Bộ.

* Trang 116 *
device

không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Và này Mahànàma, thế nào là vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống? Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử chơn chánh giác sát, thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Và này Mahànàma, thế nào là vị Thánh đệ tử chú tâm cảnh giác? Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại

* Trang 117 *
device

pháp, ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh giữa, vị này nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp.
Và này Mahànàma, thế nào là vị Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp? Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử có lòng tin, có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị này có lòng tàm, tự xấu hổ vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, tự xấu hổ vì thành tựu ác, bất thiện pháp. Vị này có lòng quý, tự sợ hãi vì thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, tự sợ hãi vì thành tựu ác, bất thiện pháp. Vị này là vị đa văn, nhớ nghĩ những điều đã nghe, tích tụ những điều đã nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đọc tụng bằng lời,

* Trang 118 *
device

được ý suy tư, được chánh kiến thể nhập. Vị ấy sống tinh cần tinh tấn, trừ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, nhớ lại, nhớ lại nhiều lần những gì đã làm từ lâu, đã nói từ lâu. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
Và này, Mahànàma, thế nào là vị Thánh đệ tử hiện tại lạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức? Ở đây, này Mahànàma, (vị ấy) ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này Mahànàma, khi một vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh như vậy, hộ trì các căn như vậy, biết tiết độ trong ăn uống như vậy, chú tâm cảnh giác

* Trang 119 *
device

như vậy, đầy đủ bảy diệu pháp như vậy, hiện tại lạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức như vậy, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại, có khả năng phá vỡ, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các ách phược.”
Bên cạnh việc chuyên tâm hành trì hữu học đạo (sekhapatipadà) mà căn bản là hành sâu về giới học và định học như được nhấn mạnh trong các văn đoạn trên, các Tỷ-kheo hữu học cần hạn chế các sinh hoạt mang tính thế gian để bảo đảm việc tu học của mình tiến triển thuận lợi, không bị ngưng trệ hay thối chuyển. Đức Phật lưu nhắc :
“Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, khiến Tỷ-kheo hữu học thối chuyển. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo hữu học có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm, khéo léo trong công việc phải làm, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ nhất khiến Tỷ-kheo hữu học thối chuyển.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học suốt ngày làm những công việc nhỏ nhặt, từ bỏ độc

* Trang 120 *
device

cư Thiền tịnh, không có chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ hai khiến vị Tỷ-kheo hữu học thối chuyển.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học sống liên hệ nhiều với các vị tại gia và xuất gia, hệ lụy với các sự việc tại gia không thích đáng, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ ba khiến Tỷ-kheo hữu học thối chuyển.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo hữu học đi vào làng quá sớm, từ giã làng quá muộn, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ tư khiến vị Tỷ-kheo hữu học thối chuyển.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo hữu học đối với các câu chuyện nghiêm trang, khai tâm như các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không hội họp, câu chuyện về tinh cần, tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến. Các câu chuyện ấy, vị ấy có được có khó khăn, có được có mệt nhọc, có được có phí sức. Vị ấy từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào

* Trang 121 *
device

nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ năm khiến vị Tỷ-kheo hữu học thối chuyển.”1
Nhìn chung, người xuất gia có đầy đủ lý tưởng và đường hướng để thực hiện mục tiêu tu học của mình một cách tốt đẹp, đúng như bậc Đạo sư hằng mong mỏi. Trừ những vị đã chứng giải thoát, ưu tiên hàng đầy đối với các Tỷ-kheo hữu học vẫn là dành nhiều thời gian và tâm huyết cho việc thực hành sâu về giới đức và thiền định để chứng đạt chánh trí và chánh giải thoát. Người xuất gia có lý tưởng và hướng đi của người xuất gia. Lý tưởng và hướng đi đã được bậc Đạo sư phân định rõ ràng. Còn lại, việc lựa chọn và quyết định là của mỗi người chúng ta.

1 Kinh Hữu Học, Tăng Chi Bộ.

* Trang 122 *
device

 
Pháp Vị