LOGO VNBET
TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT1
Tỷ-kheo Thích Minh Châu
 
         Hôm nay là ngày rằm tháng Bảy âm lịch, ngày Vu-lan báo hiếu truyền thống của người Phật tử Việt Nam. Toàn thể Phật tử quang lâm Thiền viện Vạn Hạnh lễ Phật, nghe pháp và nỗ lực làm các công việc phước lành để tỏ lòng thành kính hướng về công ơn sinh thành dưỡng dục trời biển của cha mẹ. Chúng tôi xin có lời tán thán đạo tâm của quý Phật tử và nguyện cầu mười phương chư Phật chứng minh cho công đức và tấm lòng hiểu thảo của quý vị. Cầu chúc toàn thể gia quyến của quý vị, người còn cũng như kẻ khuất, đều nhờ hồng ân Tam Bảo mà sớm được giác ngộ, thừa hưởng phước lành an vui giải thoát.

1Bài thuyết Trình Đại Lễ Vu Lan. PL 2555 của HT. Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh

* Trang 24 *
device

Nhân mùa Vu Lan báo hiếu PL. 2555, chúng tôi thuyết trình đề tài “Tâm hiếu là tâm Phật”, cốt yếu nhấn mạnh quan niệm hiếu hạnh trong đạo Phật vốn được xem là một hạnh tu hết sức căn bản và quan trọng của người con Phật, đặc biệt tìm xem quan niệm ấy đã được vận dụng như thế nào trong bối cảnh đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.
         Là người Việt, chúng ta biết rất rõ rằng dân tộc Việt Nam có cả một kho tàng to lớn và phong phú về ca dao tục ngữ mà khi đọc lên ai cũng cảm thấy gần gũi thân quen, nghe như tâm hồn mình hòa quyện trôi chảy ở trong đó. Đó là cảm thức văn hóa của người Việt bộc lộ ra dưới hình thức ngôn từ nhằm mô tả hiện thực. Cái hiện thực của lịch sử dân tộc đó đôi khi thật thanh bình hiền hòa, đôi khi cũng ngang trái oái ăm. Tất cả đều được phản ánh và lưu giữ đầy đủ trong ký ức người Việt bao đời dưới hình thức câu ca dao tục ngữ. Đó là một pho lịch sử sống động của dân tộc.
         Trong giới hạn bài thuyết trình này, chúng tôi chỉ trích một số câu ca dao phản ánh tâm thức hướng thiện trôi chảy hết sức tự nhiên trong tâm hồn người Việt gắn với hình ảnh ngôi chùa thân thương, để chúng ta thấy rằng đạo Phật đã đi sâu vào lòng người, trở thành nền tảng của đời sống đạo đức và văn hóa Việt. Chẳng hạn, các câu sau đây mô tả khung cảnh

* Trang 25 *
device

quê hương hiền hòa và nếp sống hiền lương của cư dân đất Việt trong bối cảnh đất nước thái bình có mái chùa muôn đời làm linh hồn, với cuộc sống thật dung dị và thanh thản nhẹ trôi, giống như tiếng chuông chùa hôm sớm nhẹ buông khiến lòng người hiền lương hướng thiện:
Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng soi bóng, có chùa quanh năm.
Rủ nhau xuống biển mò cua,
Lên rừng hái củi về chùa nghe kinh.
Lên chùa lạy Phật quy y,
Cầu cho kẻ ở người đi an lành.
Hoặc nếp sống hiếu thảo của người Việt thể hiện trong đời sống hằng ngày, với tâm thức hằng mong cha mẹ được sống khỏe sống lâu để mình còn có dịp thể hiện phận làm con hôm sớm chăm lo hầu hạ cha mẹ, hay để “sớm thăm tối viếng mới đành dạ con”:
Đêm đêm khấn nguyện Phật trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Về quan niệm giữa lý đạo và tình đời, giữa Phật và hiếu, người Việt có câu nói rât hay phản ánh cảm thức hướng thiện thăng hoa vẹn cả đôi đường:

* Trang 26 *
device

Lên chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.
Phật và hiếu đổ đầy không gian văn hóa Việt, nuôi dưỡng cảm thức thần lương của cư dân đất Việt. Câu nói cho thấy người Việt nhận thức rất rõ giá trị hiền thiện của đạo Phật, có niềm tin mạnh mẽ đối với đường hướng tu tập giải thoát của đạo Phật, song vẫn rất nặng tình đối với ơn cù lao của cha mẹ. Đây là dòng tâm thức hướng thiện tuân chảy rất mạnh trong tâm hồn người Việt đã dẫn đến quan niệm “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”  trong nếp sống tu tập hàng ngày của người dân nước Việt. Người Việt hiểu rõ đạo lý giác ngộ của Phật, muốn đi theo bước chân giải thoát của Như Lai, nhưng luôn luôn xét kỹ hoàn cảnh thực tế để chọn lối tu thích hợp. Mình còn cha mẹ cần phải chẳm lo phụng dưỡng, còn ân cù lao cần phải nỗ lục đền đáp. Vì thế trong dân gian có câu “Tu đâu không bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là đường tu”.
 Chúng ta biết rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm. Sự hiện diện của của đạo Phật trên quê hương đất Việt giúp cũng cố và soi sáng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, khiến cho cái thiện càng có dịp ngấm sâu vào đất nước và tâm hồn Việt, góp phần tạo nên một nền văn hóa hiền thiện. Văn hóa

* Trang 27 *
device

hiền thiện kiến tạo con người thuần lương và xã hộ hiền thiện. Câu ca dao cho thấy cảm thức hướng thiện không ngừng trôi chảy trong tâm hồn người Việt. Cảm xúc hiền thiện được nuôi dưỡng và ấp ủ lâu ngày cứ chực tuân trào trong không gian văn hóa Việt, khiến khi đứng trước cảnh ngộ đối lập, cảm xúc ấy lập tức trào dâng tạo thành đôi dòng cảm thức. Thấy Phật tự nhiên muốn đi theo Phật liền. Nhưng ngoảnh lại nhìn mẹ thì thấy thương mẹ quá, không nỡ xa mẹ. Còn đôi chút phân vân giữa đôi đường hướng thiện. Giữa lý đạo và tình đời. Giữa Phật và hiếu. Nhưng không sao cả. Đường nào cũng đẹp. Hướng nào cũng thơm. Vì cả hai đều là thiện tâm, đều là Phật tâm. Phật không tách rời hiếu, hiếu chính là Phật. Chọn lối nào cũng là thiện, cũng gặp Phật cả. Đi tu gặp Phật, đã đành. Ở nhà thương kính mẹ cũng không xa Phật. Vì tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật.
Đó là quan niệm tu Phật của người Việt, cũng là quan niệm hiếu đạo của cư dân đất Việt. Phật và hiếu chỉ là một, không tách rời nhau. Đi tu theo Phật chính là thực thi tâm hiếu. Ở nhà hiếu kính cha mẹ cũng là thể hiện tâm Phật.
Đến đây, chúng tôi nhớ lại câu chuyện tiền thân ở trong kinh tạng Pàli nói về đôi bạn thâm giao

* Trang 28 *
device

là Jotipàla và Ghatìkàra cùng một lòng một dạ tu học theo Phật nhưng theo hai cách khác nhau. Thanh niên quý tộc Jotipàla gặp Phật thì liền xuất gia đi theo con đường của Phật, nhưng người thợ gốm Ghatìkàra thì chọn lối sống tại gia thực hành lời Phật dạy để tiện cho việc phụng dưỡng cha mẹ già yếu mù lòa. Jotipàla nhờ Ghatìkàra đưa đường dẫn lối mới được gặp Phật và được xuất gia, trong khi Ghatìkàra do hoàn cảnh phải nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa nên đành phải sống tại gia nỗ lực hành trì lời Phật dạy.
         Câu chuyện do Đức Phật kể cho Tôn giả Ànanda lưu ý với chúng ta về phương pháp tu tập hết sức căn bản và thực tế của đạo Phật mà bất cứ ai hoặc ở trong hoàn cảnh nào cũng có thể áp dụng. Vì việc tu Phật cốt yếu ở chỗ dụng tâm, thực hành nếp sống đạo đức hướng thiện. Thợ gốm Ghatìkàra trong câu chuyện là người tu Phật bằng cách thực thi đạo lý “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”  trong đời sống hằng ngày của người tại gia cư sĩ, chứng quả Bất lai, được Thế Tôn Kassapa (Ca Diếp) hết lòng tin tưởng và khen ngợi1. Chúng tôi trích câu chuyện ở đây để chúng ta thấy rằng cảm thức “Lên chùa thấy Phật muốn tu, về nhà thấy mẹ công phu chưa đành”  của người Việt không gì khác là hệ quả

1Kinh Ghatìkàra, Trung Bộ.

* Trang 29 *
device

của quan niệm “Tâm hiếu là tâm Phật”  được nói đến trong đạo Phật. Câu chuyện được kể như sau:
“… Rồi này Ànanda, sau nhiều lần nỗ lực thợ gốm Ghatìkàra thuyết phục được thanh niên Jotipàla cùng đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại Vebhalinga. Sau khi đến thợ gốm Ghatìkàra đảnh lễ Thế Tôn Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thợ gốm Ghatìkàra bạch Thế Tôn Kassapa:
“Bạch Thế Tôn, đây là thanh niệm Jotipàla, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.

Rồi Thế Tôn Kassapa với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatìkàra và thanh niên Jotipàla. Rồi thợ gốm Ghatìkàra và thanh niên Jotipàla, sau khi được Thế Tôn Kassapa với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Rồi thanh niệm Jotipàla nói với thợ gốm Ghatìkàra:
“Này bạn Ghatìkara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?”

* Trang 30 *
device

 “Này bạn Jotipàla, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa.”
“Vậy này bạn Ghatìkàra, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Rồi thợ gốm Ghatìkàra đưa thanh niện Jotipàla đến chỗ Thế Tôn Kassapa và thưa:
“Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipàla, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.
Và thanh niên Jotipàla được Thế Tôn Kassapa cho xuất gia, cho thọ đại giới.
Rồi Thế Tôn Kassapa, sau khi thanh niên Jotipàla xuất gia chưa bao lâu, liền du hành đi đến Bàrànasì. Lúc bấy giờ, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: “ Thế TônKassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đến Bàrànasì, Isipatana, vườn Lộc Uyển”. Rồi Kiki, vua nước Kasi sai thắng các cổ xe thù thắng để đi yết kiến Thế Tôn Kassapa. Thế Tôn Kassapa với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi. Rồi Kiki, vua xứ Kasi bạch Thế Tôn Kassapa:
“Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhân lời con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn Kassapa im lặng nhận lời.

* Trang 31 *
device

Rồi Thế Tôn Kassapa vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo và Thế Tôn Kassapa là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Kiki, vua xứ Kasi bạch Thế Tôn Kassapa:
“Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Bàrànasì; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
“Thôi vừa rồi, Đại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi”.
Rồi Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bàrànasì”, vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”
“Đại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đó có thợ gốm tên là Ghatìkàra. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng.

* Trang 32 *
device

Đại vương, Đại vương có suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bàrànasì”, do vậy, Đại vương cảm thấy thấy vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatìkàra không có như vậy, và không sợ như vậy.
Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra từ bỏ sát sanh, từ bỏ lất của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ rượu men, rượu nấu.
Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc.
Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra không có nghi ngờ đối với Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với  Con đường đưa đến khổ diệt.
Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra từ bỏ vàng và bạc. Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra không tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau:

* Trang 33 *
device

“Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que, từng nhúm các loại đậu hột, và có thể lấy cái gì mình muốn”.
Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra nôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa.
Này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa1.
Một thời, này Đại vương, Ta ở tại thị trấn Vebhalinga. Rồi này Đại vương, Ta buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatìkàra, sau khi đến, nói với cha mẹ thợ gốm Ghatìkàra:
“Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”
“Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dùng”.
Rồi ta, này Đại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Đại Vương, thợ gốm Ghatìkàra đi đến cha mẹ, sau khi đến, thưa với cha mẹ:

1Ngụ ý người này đã chứng quả Bất lai, Thánh quả thứ ba trong tứ Thánh quả giác ngộ theo quan niệm Phật giáo.

* Trang 34 *
device

“Thưa cha mẹ, ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”
“Này con, Thế Tôn Kassapa, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi”.
Rồi này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Đại vương, cho đến nữa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatìkàra, cho đến một tuần, hỷ lạc không rời khỏi cha mẹ người thợ gốm.
Một thời, này Đại vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Đại vương, gọi các Tỷ-kheo:
“Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatìkàra có cỏ hay không?”
Khi được nghe nói vậy, này Đại vương, các Tỷ-kheo thưa với ta:
“Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatìkàra không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.
“Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatìkàra”.

* Trang 35 *
device

Rồi này Đại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatìkàra. Này Đại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatìkàra nói với các Tỷ-kheo ấy:
“Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”
“Này Đại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa bị mưa dột”.
“Hãy lấy đi, chư Hiền Giả. Hãy lấy đi, chư Hiền Giả.”
Rồi Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra đi đến cha mẹ, sau khi đi đến, thưa với cha mẹ:
“Thưa cha mẹ, những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”
“Này con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thê Tôn Kassapa bị mưa dột”.
Rồi này Đại vương, thợ gốm Ghatìkàra suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Đại vương, cho đến nữa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatìkàra, cho đến một tuần, hỷ lạc không rời khỏi cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Đại vương, là người thợ gốm Ghatìkàra.

* Trang 36 *
device

“Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho người thợ gốm Ghatìkàra; thật khéo lợi ích thay cho người thợ gốm Ghatìkàra, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tin tưởng!”
Rồi Kiki, vua xứ Kasi, cho người cho người đưa đến thợ gốm Ghatìkàra khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn (để góp phần với thợ gốm Ghatìkàra trong việc hộ trì Thế Tôn Kassapa và chúng Tỷ-kheo an cư mùa mưa).
Này Ànanda, rất có thể Thầy suy nghĩ như sau: “Lúc bấy giờ, thanh niên Jotipàla có thể là một người khác”. Nhưng này Ànanda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipàla.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ànanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”
Chúng tôi dẫn câu chuyện người thợ gốm Ghatìkàra trong kinh tạng Pàli để giới thiệu với quý vị một bức trang hiếu hạnh hết sức bình dị mà đẹp đẽ thanh thoát của người con Phật. Thợ gốm Ghatìkàra là người hiểu sâu và hành sâu lời Phật dạy nhưng không xuất gia, vì còn bổn phận chăm lo phụng dưỡng cha mẹ già yếu và mù lòa. Thợ gốm Ghatìkàra chọn lối sống tại gia, thực thi nếp sông Bát Thánh đạo của người con Phật, có lòng kín tín Tam Bảo,

* Trang 37 *
device

giữ giới không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không nói láo, không uống rượu, sinh sống bằng nghề nghiệp lương thiện để nuôi dưỡng cha mẹ già yếu mù lòa và tích lũy công đức cúng dường, hộ trì Phật-Pháp-Tăng. Thợ gốm Ghatìkàra chuyên tâm hành trì Phật pháp, chứng quả Bất lai, trở thành người đàn tín tối thượng của Phật Kassapa (Ca Diếp), được Phật Kassapa hết lòng tin tưởng và ngợi khén. Đặc biệt, thái độ tôn kính Tam Bảo và những việc làm chơn chánh phụng sự Tam Bảo khiến cho thợ gốm Ghatìkàra có được nhiều hỷ lạc trong cuộc sống, khiến cho cha mẹ cũng hưởng được phúc lạc nhờ công đức tùy hỷ đối với thiện pháp. Cuộc đời thợ gốm Ghatìkàra, với tấm lòng hiếu kính cha mẹ, tôn kính Phật-Pháp-Tăng, xứng đáng cho mọi người con Phật học hỏi và noi gương. Tâm Pháp cú có câu nói mô tả cái tâm đầy hân hoan hỷ lạc của những người có tâm hiếu kinh giống như thợ gốm Ghatìkàra:
Vui thay hiếu kính mẹ!
Vui thay hiếu kính cha!
Vui thay kính Sa-môn!
Vui thay kính hiền Thánh!
Tâm hiếu kính cha mẹ là tâm vui sướng. Tâm tôn kính Tam Bảo là tâm an lạc. Cái thiện tâm ấy vẫn

* Trang 38 *
device

không ngừng trôi chảy trong tâm thức Phật tử Việt Nam, trong đời sống văn hóa truyền thống của người Việt, từ ngàn xưa cho đến ngày nay.
Ngày trước, người Việt lên chùa thì phát khởi cái tâm thương kính Phật, muốn đi theo con đường của Phật; về nhà thì sống với cái tâm thương kính mẹ, muốn đền đáp công ơn mẹ già:
Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.
Ngày nay, người Việt chúng ta đang sống với cái tâm hiếu kính tương tự, mà Đại lễ Vu Lan báo hiếu hôm nay là bằng chứng sinh động về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc tiếp tục được thắp sáng trên khắp mọi miền đất nước, trong niềm kính tín hân hoan của hàng triệu Phật tử Việt Nam chuyên tâm thực hành nếp sống “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”.
Kính chúc toàn thể quý vị một mùa Vu Lan thấm nhuần hỷ lạc trong nếp sống thể hiện tâm hiếu và hạnh hiếu của người con Phật.

* Trang 39 *
device

 
Pháp Vị