LOGO VNBET
QUÝ VỊ LÀ THIỆN NAM TỬ THIỆN NỮ NHƠN PHẢI KHÔNG?
Bài nói chuyện tại Giảng đường Huệ Nhật
nhân ngày pháp hội Dược Sư, 14/11/ 2009
Trong kinh Phật giáo thường gọi “Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thiện nam tử, thiện nữ nhơn”, song đệ tử của Đức Phật, có phải tất cả người nam điều là thiện nam tử, còn tất cả người nữ đều là thiện nữ nhơn chăng? Kỳ thật không nhất định. Đã gọi là “thiện”, thì phải có đủ đặc tính của thiện. Trong “Đại Trí Độ Luận”[1] có đưa ra một số đặc tính của thiện, qua đó chúng ta xem lại: mình có phải là chơn chánh thiện nam, chơn chánh thiện nữ không?
“Đại Trí Độ Luận” quyển 35 ‘Phẩm 2 Báo Ứng’ nói:
“Đặc trưng của người thiện là có tâm từ bi, nhẫn chịu la mắng. Như trong (Kinh Pháp Cú phẩm La Mắng) nói: “Ai nhẫn được người khác la mắng, đó là người hơn người khác! Ví như con ngựa tốt, nhà vua dùng cỡi nó”.[2]



[1] “Đại Trí Độ Luận” quyển 35, ‘Phẩm 2 Báo Ứng’ Đại Chánh tập 25, trang 316a11~23.
[2] Đại Chánh tập 25, trang 316 a11~14.

* Trang 35 *
device

Trước hết “đặc trưng của người thiện là có tâm từ bi, nhẫn chịu la mắng”. Chúng ta có thể nhẫn được sự la mắng không, hay người khác nói nặng một chút, hoặc chỉ có cái nhìn thiếu thiện cảm, thì trong tâm đã cảm thấy vô cùng khó chịu. Như “Kinh Pháp Cú phẩm La Mắng” có dạy “ai nhẫn được người khác chửi mắng, đó là người hơn người khác!” Người như thế mới gọi là người hơn người khác. Vì vậy, chúng ta tôn xưng họ là “mỗ mỗ thượng nhân”, điều này có ý nghĩa họ có đức tính phẩm hạnh cao hơn chúng ta. “Ví như con ngựa tốt, nhà vua dùng cỡi nó” là loại ngựa đặc biệt tốt mới có thể đủ khả năng cho vua cỡi.
“Đại Độ Trí Luận” quyển 35 nói: Lại nữa, cho dù bị năm loại tà ngữ và đánh đập, bức hại, trói cột, cũng không làm hủy hoại được tâm họ, đó gọi là đặc tính của người thiện[1].
Và người thiện nam tử người thiện nữ nhơn cần có đầy đủ những đặc trưng của thiện: thì dù bị người khác đem năm loại tà ngữ nói lỗi lầm của chúng ta, hoặc mang dây trói cột,


[1] Đại Chánh tập 25, trang 316 a11~14.

* Trang 36 *
device

cho đến dùng cây gậy đánh đập, chúng ta vẫn không thay đổi chí hướng tu học Phật pháp, cũng không thay đổi quan điểm và hành động đúng đắn của chính mình, nếu được đầy đủ đức tính như vậy, mới xứng đáng là người thiện nam tử thiện nữ nhơn.
Năm loại tà ngữ là những gì? Thứ nhất là vọng ngữ nói lỗi của người khác, hai là ác khẩu nói điểm sai của người, ba là không thích hợp thời cơ để nói lỗi người mà đi nói lỗi của người, bốn là ác tâm nói lỗi, năm là nói lỗi không vì lợi ích.[1]
Chúng ta một mặt không vì năm loại tà ngữ của đối phương mà thối chí, mặt khác khi chúng ta chỉ ra lỗi lầm, hoặc khuyên dạy người khác, nên cần có đủ năm điều kiện quan trọng dưới đây[2]:



[1] Cưu-ma-la-thập dịch “Thiền Pháp Yếu Giải” quyển thượng: “Năm loại tà ngữ không thể tổn hoại đến tâm. Năm loại đó là: 1. Nói lỗi bằng cách dối trá, 2. Nói lỗi bằng lời thô ác, 3. Nói lỗi không đúng lúc, 4. Nói lỗi với ác tâm, 5. Nói lỗi không có lợi ích.” Đại Chánh tập 15, trang 290c19~21.
[2] “Kinh Tạp A-hàm” quyển 18, Kinh số 497, Đại Chánh tập 2, trang 129b28~c3. Đức Phật dạy Xá-lợi-phất:“Nếu Tỳ-kheo nào khiến tâm an trụ, có đủ năm pháp được cử tội người khác. Năm pháp đó là: Thật, chứ không phải không thật. Đúng thời, chứ không phải phi thời. Ích lợi, chứ chẳng phải không ích lợi. Nhu nhuyến, chứ không thô bạo. Từ tâm, chứ không sân hận. Này Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo nào muốn cử tội thì phải đủ năm pháp này mới được cử tội người khác.”

* Trang 37 *
device

Thứ nhất, người đó thực sự có phạm lỗi, chẳng phải do mình ác ý muốn hủy báng họ. Chúng ta cần xác nhận đối tượng phạm tội, điều đó là sự thật, nếu chưa rõ ràng đừng nên thêu dệt tội danh, càng không tự ý hủy báng.
Thứ hai, cần phải lựa chọn thời cơ thích hợp, nếu chưa phải lúc thì không nên nói. Vì như nói trong cơ hội chưa đúng, thì không những hiệu quả khó đạt được, mà còn có tác dụng ngược lại.
Thứ ba, có ý nghĩa lợi ích, đích thật vì lợi ích của người khác mà đến nhắc nhở, hy vọng người đó bỏ điều xấu làm việc thiện. Nhưng có khi chúng ta khuyên người khác, không phải vì lợi ích cho họ, mà tại mình cảm thấy vô cùng khó chịu, mượn cơ hội này trút giận cho bỏ ghét. Điều này tự mình nên phản tỉnh, đem tâm thái như vậy khuyên người khác có mang lại lợi ích chăng, hay chỉ đưa đến tác dụng phụ tạo thêm phiền não.
Thứ tư, thái độ ôn hòa, lời nói nhẹ nhàng, không nên chửi bới hay đem lời khắc khe mỉa mai mắng người. Chúng ta nói

* Trang 38 *
device

lỗi người khác, chủ yếu vì mục đích hy vọng họ thay đổi, chứ không phải để cho chúng ta trút giận. Nếu chúng ta thấy người khác sai phạm, mà tự mình rất bực bội, lại dùng lời mỉa mai làm tổn thương họ, như vậy càng không tốt.
Thứ năm, đem thiện tâm từ bi xuất phát trong lòng, không nên khởi ác tâm. Chúng ta nên tự phản tỉnh lúc chỉ bảo sai lầm cho người khác, có khởi thiện niệm không hay chỉ khởi ác niệm?
Chúng ta nghĩ lại mình có được đầy đủ các điều kiện như vậy không? Trong đạo tràng có người trả lời có, thật đáng mừng! Hy vọng, mọi người đạt được như thế.
Ngoài ra, “Đại Trí Độ Luận” quyển 35 lại dạy:
Lại nữa, ba nghiệp không có lỗi lầm, thích làm việc thiện, không hủy báng người khác làm thiện, không phô trương đức mình; tùy thuận mọi người, không nói lỗi người; không đắm trước cái vui thế gian, không cầu danh dự, tin tưởng vui thích niềm vui đạo đức; nghiệp mình thanh tịnh, không não hại chúng sanh; tâm quý trọng pháp chơn thật, xem nhẹ các việc thế sự, chỉ thích lời thẳng thắn, không theo người gian dối, vì niềm vui của tất cả chúng sanh, mà hy sinh niềm vui

* Trang 39 *
device

của mình, vì muốn tất cả chúng sanh được lìa khổ, dù cho đem thân mình thay thế.
“Ba nghiệp không có lỗi lầm”, thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp đều không có lỗi lầm. Chúng ta có lúc khởi tâm động niệm, muốn không có lỗi lầm, thật là việc không đơn giản. “Thích làm việc thiện”, chúng ta còn thích giúp đỡ hỗ trợ người khác. “Không hủy báng người khác làm thiện”, khi chúng ta thấy người khác làm việc thiện, phải tùy hỷ xưng dương tán thán, chứ chẳng cố ý đè bẹp họ, hoặc nói lời chê trách bóng bẩy v.v... “Không phô trương đức mình”, khi chính mình có sự tu dưỡng đức hạnh tốt, cũng không nên đặc biệt phô trương cao ngạo; “tùy thuận mọi người, không nói lỗi người”, không nên tùy tiện chê trách người khác; “không đắm trước cái vui thế gian, không cầu danh dự, tin tưởng vui thích niềm vui đạo đức”, không đắm trước niềm vui thế tục và ham cầu danh dự, chỉ mong thích niềm vui đạo đức; “nghiệp mình thanh tịnh”, nghiệp của chính mình (hành vi) thanh tịnh. “Không não hại chúng sanh”, phải phản tỉnh chính mình, khi tâm trong trạng thái không tốt, làm phiền phức người khác. Do đó, chúng ta tự mình có phiền não thì

* Trang 40 *
device

điều phục dần dần, không nên gây phiền hà chúng sanh; “tâm quý trọng pháp chơn thật, xem nhẹ các việc thế sự”, trong tâm của chúng ta tôn trọng thật tướng của các pháp, còn đối với việc thế sự thì xem nhẹ hơn; “chỉ thích lời thẳng thắn, không theo người gian dối”, chúng ta phải phân biệt chánh trực, làm người đáng tin cậy, không bị lời nói ngon ngọt hoa mỵ của người khác lừa dối, tự mình có trí huệ phán đoán; “vì niềm vui của tất cả chúng sanh, mà hy sinh niềm vui của mình, vì cho tất cả chúng sanh được lìa khổ, dù đem thân mình thay thế”, chính là xả kỷ vị tha, hy vọng tất cả chúng sanh lìa khổ được vui, thì chúng ta dù có chịu khổ thay thế cũng cam lòng. Như thế, đầy đủ rất nhiều điểm tốt này, “mới gọi là đặc trưng của người thiện”.
Phải có tâm từ bi, nhẫn chịu lời nói tà vọng, đánh đập của người khác; và ba nghiệp phải thanh tịnh, vui thích hỗ trợ người khác; kính trọng tôn sùng Phật pháp, không cần danh vọng hão huyền v.v...; không não loạn chúng sanh; khiến chúng sanh lìa khổ được vui, không chỉ vì một mình mong cầu an lạc. Nếu ai có các đặc điểm này chính người đó là thiện nam tử, thiện nữ nhơn.

* Trang 41 *
device

 
Phước Huệ Tập 1