LOGO VNBET
TÂM NIỆM CÙNG NGHIỆP BÁO
 
I. Lời nói đầu
Giữa tâm niệm và nghiệp báo có mối liên quan rất mật thiết, có sức ảnh hưởng quan trọng đối với tương lai của chúng ta, vì vậy, đáng để tư duy nghiên cứu, về những nhân tố chính nhân tố phụ nào ảnh hưởng đến nghiệp báo?
Ví dụ: cùng là tội “sát hại” nhưng sát hại Phật, A-la-hán, cha mẹ hoặc súc sanh, do đối tượng sát hại không đồng, nên quả báo nhận lấy cũng khác. Ngoài ra, do động cơ, hành vi thủ đoạn phương pháp v.v... khác nhau nên tạo thành nghiệp báo cũng không giống nhau.
Cùng làm một việc, nhưng thế nào để năng lực bỏ ra ít mà thành tích hiệu quả cao, tăng thêm lợi ích cho chúng sanh, và tiêu trừ phiền não của chính mình, người hiểu thì hiểu sâu, còn người chưa hiểu thì nhìn nhận cạn cợt hơn. Chúng ta vốn đều vui vẻ phát tâm làm việc thiện nguyện, nhưng ngày đó trải qua lâu rồi, có người bắt đầu khởi phiền não, đối với công việc được phân chia thì kén chọn, có lúc đang làm thì trong tâm lại khởi lên rất nhiều tạp niệm, như là tâm tham, tâm kiêu mạn, khiến cho chính mình càng làm

* Trang 74 *
device

càng không vui. Nếu như chúng ta học tập trong công việc, rèn luyện ý chí của chính mình, mọi lúc mọi nơi đều quán sát tâm niệm, phát hiện khuyết điểm, đoạn trừ các loại phiền não tâm tham lam, kiêu mạn. Với chí hướng làm việc như vậy thì mới thật là lợi mình lợi người.
II. Như thế nào là nghiệp và báo?
Muốn hiểu được sự quan hệ giữa “tâm niệm và nghiệp báo” thì trước tiên chúng ta phải hiểu thế nào là nghiệp, thế nào là báo?
1. Nghiệp: hành vi, tạo tác.
Do hoạt động của thân, khẩu, ý mà chiêu cảm năng lực tiềm ẩn đưa đến quả báo.
“Nghiệp” là động tác hành vi. Cái gì do lực ý chí phát động đều là nghiệp. Ở đây nói “nghiệp” chủ yếu chỉ về ý niệm khởi lên trong tâm chúng ta, miệng phát ngôn, thân hành động, dẫn đến phát sinh ra một động lực; mà động lực này tương lai có thể chiêu cảm một loại quả báo nào đó. Ví dụ như: có người nổi giận, la mắng, thậm chí còn đánh người. Động tác như vậy, nó chiêu cảm đến quả báo ác nào đó. Hơn nữa, không phải là nói thành lời ra động tác mới tính, ngay

* Trang 75 *
device

cả nội tại của hoạt động ý niệm “nổi giận” này cũng chiêu cảm quả báo! Phàm hoạt động của thân, khẩu, ý có một loại chiêu cảm năng lực tiềm ẩn của quả báo trong tương lai; đó gọi là “nghiệp”
2. “ Báo”: quả báo, dị thục
“Quả báo” do nghiệp lực chiêu cảm, lại gọi là “dị thục quả”, tức “dị loại nhi thục”. Tại sao gọi là “dị loại nhi thục”? Có nghĩa là chúng ta làm việc thiện thì chiêu cảm quả báo thiện, tạo nghiệp ác thì chiêu cảm quả báo ác. Mọi người thường nghe “thiện có thiện báo, ác có ác báo”, thật ra đây là cách nhận định thông thường, chính xác thì “thiện có quả báo an vui, ác có quả báo khổ đau”. Trước khi nghiệp chưa chiêu cảm báo, nếu không tu tập chứng đắc giải thoát, thì năng lực tiềm ẩn của nghiệp vẫn tồn tại, dù trải qua trăm ngàn kiếp, nghiệp lực vẫn không mất. Chỉ cần nhân duyên hội đủ, thì nghiệp lực sẽ chiêu cảm quả báo.
Tuy nhiên, không phải vừa tạo nghiệp lập tức cảm quả. Từ lúc tạo nghiệp đến cảm quả cần thời gian, thời gian này dài ngắn khác nhau, có người đời này tạo nghiệp thì liền cảm quả “hiện báo nghiệp”, có người đời này tạo nghiệp đời sau

* Trang 76 *
device

mới thọ báo “sanh báo nghiệp” có người đời này tạo nghiệp, cách một đời hoặc nhiều đời mới thọ báo “hậu báo nghiệp”. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ, nghiệp giống như hạt giống, có loại khi trồng xuống nửa năm ra hoa kết quả, có loại trồng một năm, có loại trồng hơn một năm mới trổ quả.
Hạt giống sau khi trồng thì nhất định có kết quả hay sao? Điều này cũng không nhất định, vì trong thời gian trổ quả cần nhiều điều kiện, như ánh sáng, nước, đất, chất dinh dưỡng v.v... Chúng ta gieo xuống hạt giống xấu, nếu cắt hết tất cả trợ duyên thì nó sẽ hư hoại mầm mống. Cũng như, chúng ta tạo ác nghiệp cũng cần các loại trợ duyên mới kết quả, trợ duyên này là gì? Đó là phiền não. Nếu chúng ta đoạn tận phiền não, nhân duyên thiếu, quả ác không thành thục. Cho nên, điều cốt yếu của việc tu hành chẳng phải tiêu diệt báo khổ trong thân, mà không tạo ác nghiệp, quan trọng nhất là đoạn trừ phiền não.
III. Các loại nghiệp
Sau khi tìm hiểu sơ lược tính chất của nghiệp, tiếp đến  chúng ta phân loại nghiệp.
1. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp

* Trang 77 *
device

Trước tiên, từ đối tượng để nghiệp căn cứ, thì chia thành ba loại nghiệp “thân, ngữ và ý”. Hoặc có người nghĩ: “nghiệp biểu hiện ra bên ngoài từ thân và ngữ mới nặng, còn nếu chỉ là trong tâm suy nghĩ linh tinh chắc không có gì đáng lo ngại”. Kỳ thật không như thế, ý niệm mới là chủ yếu nhất, bởi vì ý nghĩ từ nội tâm sẽ quyết định nghiệp đó tạo ra thiện hay ác; nhẹ hoặc nặng. Như trong “Thành Thật Luận” quyển 9 ‘Phẩm Ba Nghiệp Nặng Nhẹ thứ 119’:
Trong ba nghiệp, nghiệp nào nặng hơn? Thân nhiệp, khẩu nghiệp hay ý nghiệp? ... Đáp: ... Trong Kinh Đức Phật dạy: “tâm là gốc các pháp, tâm cao tột, tâm dẫn đường, tâm nghĩ thiện ác, tức nói tức làm”. Cho nên biết ý nghiệp là nặng ...
Lại nghiệp của ý hơn nghiệp của thân và khẩu, như trong “Kinh Hòa Lợi” dạy: “Ngoại đạo thần tiên, một khi nổi giận lên liền tiêu diệt nước Na-la-vu-đà”.[1]
“Kinh Hòa Lợi” dẫn chứng trên tương hợp với “Trung A Hàm” quyển 32 (Kinh số 133) “Kinh Ưu Ba Ly”[2].



[1] Đại Chánh tập 32, trang 307a5~b24.
[2]  “Kinh Trung A-hàm” quyển 32, (kinh 133) Đại Chánh tập 1, trang 628b24~630a1:
        Ni-kiền Trường Khổ Hạnh hỏi: “Thưa Cù-đàm, ba nghiệp này tương tự như vậy, Ngài chủ trương nghiệp nào nặng nhất để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp? Là thân nghiệp chăng? Khẩu nghiệp chăng? Ý nghiệp chăng?”
        Thế Tôn lại đáp: “Này Khổ Hạnh, ba nghiệp này tương tự như vậy, Ta giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Thân nghiệp và khẩu nghiệp thì không phải vậy.”
        Cư sĩ, ông nghĩ sao, giả sử có người cầm dao bén tới đây, người ấy nói rằng: ‘Trong một ngày tôi chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh ở trong xứ Na-nan-đà này chất thành đống thịt, làm thành khối thịt’. Cư sĩ, ông nghĩ sao, người ấy có thể trong một ngày mà chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh ở xứ Na-nan-đà này chất thành đống thịt, làm thành một khối thịt không?”
        Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp: “Không thể. Vì sao như vậy? Xứ Na-nan-đà này quá giàu có an vui, nhân dân đông đúc, cho nên người ấy chắc chắn không thể trong một ngày mà chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh chất thành đống thịt, làm thành khối thịt được. Thưa Cù-đàm, người ấy chỉ gây phiền nhọc vô ích.”
        Đức Thế Tôn bảo: “Cư sĩ, ông nghĩ sao, nếu có Sa-môn, Phạm chí đến, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, người ấy nói như vầy: ‘Ta chỉ khởi một niệm sân, làm cho cả xứ Na-nan-đà này thiêu rụi thành tro’. Này Cư sĩ, ông nghĩ sao? Sa-môn, Phạm chí ấy có thể làm cho cả Na-nan-đà này thiêu rụi thành tro không?”
        Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp: “Thưa Cù-đàm, đâu phải chỉ một Na-nan-đà, đâu phải chỉ hai hoặc ba, hoặc bốn; mà thưa Cù-đàm, Sa-môn Phạm chí kia có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, nếu khởi lên niệm sân thì có thể làm cho hết thảy các nước, hết thảy nhân dân thiêu rụi thành tro, sá gì một Na-nan-đà?”
 

* Trang 78 *
device

Trong Kinh nói: giả sử có người cầm dao thật bén giết chúng sanh trong nước Na-nan-đà từ tối đến sáng, dù cho giết cả ngày cũng không hết; nhưng có người tu thiền định, phát khởi tâm sân họ sử dụng lực thần thông làm cho chúng

* Trang 79 *
device

sanh trong nước ấy có thể thành tro bụi! Vậy trong ba nghiệp thân, khẩu và ý, thì ý nghiệp là nặng nhất.
2. Thiện nghiệp, ác nghiệp, vô ký nghiệp
Trên nguyên tắc, thiện bao hàm hai tầng ý nghĩa: một là chúng ta phát tâm hành thiện, hai là làm cho người khác được lợi ích. Nếu như chu toàn đến hai ý nghĩa này thì đương nhiên tốt nhất. Như ở trước đã nói: “thiện nghiệp chiêu cảm quả báo an vui, ác nghiệp chiêu cảm quả báo khổ đau”. Ngoài thiện nghiệp, ác nghiệp ra, còn có một loại không thiện không ác, đó là “vô ký nghiệp”.
Ngoài ra, còn có “bất động nghiệp” loại nghiệp này tương ưng với thiền định, cõi sắc giới định hoặc vô sắc giới định, nên đây là thiện. Do đặc trưng của thiền định là bất động nên nghiệp tạo thành cũng “bất động nghiệp”. Mà loại này có thể chiêu cảm đến sanh tử của cõi sắc giới, vô sắc giới; còn nghiệp thiện nghiệp ác là nghiệp lực cảm quả sanh tử ở cõi dục giới.
3. Định nghiệp, bất định nghiệp
Như thế nào gọi là định nghiệp? Là sức mạnh cố ý tạo tác của nghiệp nhất định dẫn đến loại quả báo nào đó. Trong

* Trang 80 *
device

“Kinh Trung A hàm, Kinh Tư”[1] ghi chép, nếu cố ý tạo nghiệp, Đức Phật nói nhất định thọ báo; nếu không cố ý tạo tác, thì không nhất định thọ báo.
Trên sự thật, nhất định thọ báo và không nhất định thọ báo của nghiệp, có khi xem chúng ta có đủ thời gian hối cải hay không, như “Kinh Trung A Hàm”[2] nói: ví có một bao muối nặng 1 kg và một bao 20 kg, nếu như đem 1 kg muối bỏ vào ly nước, 20 kg muối đổ xuống sông lớn thì nước ở đâu mặn hơn? Đương nhiên là nước trong ly mặn hơn, nhưng muối ở đâu nhiều hơn? Muối bỏ trong sông lớn nhiều hơn. Đây muốn nói, dù cho nghiệp ác nặng, có đủ thời gian hối cải, như là thọ mạng dài, lại gặp được thiện tri thức, tinh tấn học tập Phật pháp, chuyên cần tu giới định huệ, thì nghiệp nặng thành nhẹ hoặc trở thành bất định nghiệp. Ngược lại, cố ý tạo


[1] “Kinh Trung A-hàm” quyển 3, (kinh thứ 15) ‘Kinh Tư’: “Nếu ai cố ý tạo nghiệp, ta nói rằng kẻ ấy phải thọ lấy quả báo, hoặc thọ trong đời hiện tại, hoặc thọ ở đời sau. Nếu tạo nghiệp mà không cố ý, ta nói rằng người ấy không nhất thiết phải thọ báo”. Đại Chánh tập 1, trang 437b.
[2] “Kinh Trung A-hàm” quyển 3, (kinh thứ 11) “Kinh Diêm Dụ” Đại Chánh tập 1, trang 433a~434a.

* Trang 81 *
device

ác lại không hối cải, hoặc là hoàn toàn không biết ăn năn, như vậy nhất định thọ quả báo khổ.
Trong “Kinh Kim Cang” có đoạn: “Nếu có người thiện nam thiện nữ nào, thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, nên biết người này do tội nghiệp đời trước,  lẽ ra phải đọa trong đường ác, cho nên đời này bị người khác khinh chê, khi nào tội nghiệp đời trước được tiêu trừ, người ấy sẽ thành tựu quả vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”[1]
Có người sau khi tụng trì “Kinh Kim Cang”, ngược lại bị người khác khinh dễ sỉ nhục. Người ấy nghĩ: “Mình không tụng Kinh vẫn tốt, đã tụng mà lại bị khinh dễ, sỉ nhục, dứt khoát không cần trì tụng nữa”! Thật ra, nếu ai cũng suy nghĩ như vậy là không đúng. Ý của “Kinh Kim Cang” là do cá nhân đời trước tạo nghiệp ác, lẽ ra đọa vào đường xấu trong cõi địa ngục, súc sanh, ác quỷ, nhưng do công đức đọc tụng “Kinh Kim Cang” làm cho quả báo nhẹ, hiện tại chỉ bị người khác coi thường, nhưng đời sau khỏi bị chiêu cảm quả báo


[1] Đại Chánh tập 8, trang 750c24~27.

* Trang 82 *
device

của ba đường ác đạo!
4. Cộng nghiệp, bất cộng nghiệp
Bất cộng nghiệp là nghiệp mà tự bản thân mình chịu ảnh hưởng, cũng gọi là biệt nghiệp; cùng một lúc mà mình và người khác ảnh hưởng thì gọi là cộng nghiệp. Ví dụ như, một nhà có ba người con gái, hoàn cảnh trưởng thành trước khi lập gia đình đều giống nhau. Nhưng sau khi lớn lên thì mỗi người được gả vào một gia đình khác, mỗi người có sự nghiệp phát triển không đồng, đây gọi là bất cộng nghiệp của mỗi người.
Cộng nghiệp của mọi người, ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau, hình thành mối quan hệ rất phức tạp. Giống như chúng ta đối với mọi người luôn nở nụ cười tươi, thì họ sẽ có ấn tượng tốt với chúng ta; còn ngược lại lúc nào mặt mày nhăn nhó khó chịu, thì người khác không vui, mọi trường hợp đều có mối quan hệ lẫn nhau.
Nếu có thể hiểu biết sâu sắc giáo lý cộng nghiệp của Phật giáo, thì tìm ra nguyên nhân để đối phó, tùy bệnh cho thuốc điều trị, sẽ kịp thời xoay chuyển cộng nghiệp của mọi người. Như môi trường sinh sống ô nhiễm, rác chất thành đống

* Trang 83 *
device

khắp nơi, vi trùng sinh sôi nảy nở, tạo nguyên nhân gây bệnh sốt rét. Muốn giải quyết triệt để loại bệnh này, đâu chỉ làm sạch sẽ đồ chứa nước của mỗi nhà mà có thể được, cần toàn thể xã hội, cho đến thôn xóm làng xã huyện thị cùng giữ gìn môi trường trong sạch, thì mới có thể tiêu diệt các mầm bệnh lây lan này.
Theo nguyên tắc “cùng làm cùng chịu”, cộng nghiệp của mọi người, thì phải đồng tâm hiệp lực thay đổi, nếu không, cho dù Thánh nhân cũng đành bất lực. Bồ-tát muốn thiết lập tịnh độ trong nhân gian, song tịnh độ chân chánh, không chỉ tịnh hoá thân tâm chính mình thôi, mà cần làm trong sạch nội tâm của chúng sanh, thì cõi Phật mới chân chánh thanh tịnh.
5. Dẫn nghiệp, mãn nghiệp
Dẫn nghiệp là một loại nghiệp lực đặc biệt mạnh, dẫn dắt chúng sanh đến thọ một quả báo tổng thể, trở thành trời, người, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục một trong năm cõi, nghiệp này đặc biệt mạnh nên gọi là “dẫn nghiệp”. Ví dụ: Đề-bà-đạt-đa chuyên tâm trì giới, tu tập khổ hạnh, cũng đắc thiền định đủ thần thông, nhưng vì ác tâm làm thân Phật chảy máu, ác nghiệp như vậy rất nặng nên dẫn đến đọa địa

* Trang 84 *
device

ngục.
Ngoài ra còn có mãn nghiệp. Nghiệp này không mạnh bằng dẫn nghiệp, tuy không dẫn dắt chúng sanh chiêu cảm quả báo tổng thể, nhưng ảnh hưởng báo thân của chúng ta viên mãn hay không. Ví dụ, sáu căn đầy đủ, tướng mạo trang nghiêm, âm thanh dịu dàng hay không, ảnh hướng đến điều này là mãn nghiệp.
Trong “Câu Xá Luận”[1] đưa ra ví dụ, có nhà họa sĩ, trước tiên dùng một màu vẽ ra hình tượng, sau khi hoàn thành việc này, thì điểm tô thêm nhiều màu sắc. “Dẫn nghiệp” là đồng một màu vẽ ra một hình người hoặc một con vật; “mãn nghiệp” như bức hình tô điểm nhiều màu sắc. Chúng ta cùng là con người, nhưng tướng mạo, tư chất, âm thanh cho đến tri thức của mỗi người không giống nhau. Đây gọi là mãn nghiệp.
IV. Sự khác biệt giữa người và người là do nghiệp nào tạo thành



[1] “A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận” quyển 17, Đại Chánh tập 29, trang 92b.

* Trang 85 *
device

Chúng ta đều là con người nhưng giữa con người có những loại khác biệt, điều này do những nhân tố nào hình thành? Quy nạp các yếu tố đó thì có ba loại chính:
(1) Mãn nghiệp từ đời quá khứ
(2) Biệt nghiệp của đời hiện tại
(3) Cộng nghiệp trong hiện tại
1. Mãn nghiệp từ đời quá khứ
Chúng ta là người, đời quá khứ tạo qua những dẫn nghiệp đưa đến làm người, bất luận là người da đen, người da trắng nhưng một đôi mắt, một lỗ mũi, đều giống nhau. Nhưng kiểu dáng đẹp xấu không đồng, tức là do ảnh hưởng của mãn nghiệp ở quá khứ.
Từ “dẫn nghiệp” mà nói: đầu thai vào làm người tốt hơn đường súc sanh, nhưng làm người nhất định có phước báo hơn súc sanh không? Điều này không nhất định, có người sanh nơi chiến tranh loạn lạc, cuộc sống khó khăn đói khát, thân người gầy ốm còn da bọc xương; còn có người nuông chiều súc vật, tuy súc sanh nhưng hưởng thụ cuộc sống rất tốt, chủ nhân không chỉ chuẩn bị rất nhiều món ăn ngon mà

* Trang 86 *
device

còn tắm rửa, dẫn dắt đi chơi. Vì vậy, động vật được nuôi dưỡng này dẫn nghiệp trong đời quá khứ tuy không tốt giống người, nhưng đối với mãn nghiệp ngược lại rất có phước báo nhận được sự quan tâm của chủ nhân.
Ví như mọi người cùng bố thí, thực hành bố thí được quả báo nhân thiên, đại thể giống nhau, nhưng mãn nghiệp khác nhau rất lớn. Có người lúc bố thí khởi tâm kiêu mạn tự cao gây khó chịu cho người nhận, có người cung kính tận tay bố thí; có người đợi giàu có mới bố thí, có người nghèo khó có thể bố thí. Mãn nghiệp này có các loại không đồng, quả báo tự nhiên cảm được cũng có khác biệt! Cùng là người giàu, có người rất nhàn nhã, nguồn thu nhập của cải không ngừng, mọi người đối xử rất tốt, còn người cũng giàu có nhưng bận rộn âu lo, cạnh tranh quyết liệt, mọi người khắp nơi oán trách, luôn sợ bị người khác cướp bóc, hay bỏ thuốc độc ám hại. Vì vậy, chúng ta nên lưu ý: cùng làm một việc, song tâm niệm phát sanh bên trong và hành vi của thân khẩu, khác biệt từng li từng tí, tất cả đều đưa đến chiêu cảm quả báo không đồng!
2. Biệt nghiệp của đời hiện tại

* Trang 87 *
device

Mục thứ hai này đặc biệt quan trọng “biệt nghiệp của đời hiện tại (bất cộng nghiệp)”. Vì mãn nghiệp trong đời quá khứ, tuy nghiệp ở quá khứ quyết định một phần của đời sống, nhưng nếu đời hiện tại hoàn cảnh không giống nhau, hoặc là nỗ lực của mỗi người không giống nhau, nhân duyên vẫn thay đổi được! Như anh em sinh đôi, tướng mạo thể hình đều tương tự, nhưng một người sống có quy luật, chú trọng bảo vệ giữ gìn sức khỏe. Ngược lại người kia cách sống hoàn toàn ngược lại, như vậy kết quả của họ dẫn đến không giống nhau.
Có người sống cuộc đời không mấy như ý, nhưng nghiệp trong đời quá khứ đã tạo, hết cách cải đổi, chỉ buồn rầu cũng đâu có ý nghĩa, như vậy chúng ta phải bắt đầu làm lại từ đâu? Thật ra, điều mà cần nỗ lực chính đó là “biệt nghiệp của đời hiện tại”!
Trước đây, có một người già đến tham quan miếu Khổng Tử, người này cảm nhận các phương diện như học vấn, đức hạnh, giáo dục của Khổng tử rất tuyệt vời, xứng đáng là “Chí Thánh Tiên Sư”. Nhân đó ông cụ rất ngưỡng mộ, lập chí học theo Thánh nhân, song mọi người lại chế giễu ông rằng: “Đã

* Trang 88 *
device

già 70, 80 tuổi rồi mà vẫn muốn học Thánh nhân? Khổng tử 15 tuổi chuyên tâm vào việc học, 30 tuổi thì có thể tự lập, 40 tuổi mới có thể hiểu thấu mọi sự lý trong xã hội, 50 tuổi có thể thông suốt chân lý của tạo hoá hiểu được mệnh trời, 60 tuổi thì mới không cảm thấy chướng ngại mê mờ, 70 tuổi làm việc gì thì tự nhiên thể hiện đúng với chủ tâm của mình. Ông tuổi đã cao mà lại còn muốn mô phỏng Khổng Tử thì há không dễ lắm sao?” Ông ta trả lời rằng: “Mặc dù tôi chạy không nhanh bằng Khổng Tử, nhưng đuổi theo vài bước cũng tốt rồi”
“Đuổi theo vài bước cũng tốt” thật là có chí khí! Bỏ nhiều thời gian tinh thần tìm về quá khứ, không bằng trong đời hiện tại siêng năng dụng tâm!
3. Cộng nghiệp trong đời hiện tại
Mục thứ ba là “cộng nghiệp trong đời hiện tại”. Dù tự mình rất nỗ lực, có lúc vẫn không chống lại sự khắc nghiệt của hoàn cảnh bên ngoài. Giống như có người rất siêng năng làm việc muốn kiếm được nhiều tiền, nếu nền kinh tế chung không được thuận lợi thì nguyện vọng khó mà thành hiện thực. Như nói tư chất tối ưu của trẻ em, không phải trời sanh

* Trang 89 *
device

bộ não tốt là nhất định thành tựu. Tư chất tối ưu của trẻ em muốn thành tựu thì cần rất nhiều yếu tố như: cha mẹ là người biết nhìn xa trông rộng và hiểu được con, chọn đúng chí hướng giáo dục cho con, có thầy cô giỏi giảng dạy hướng dẫn. Vả lại, muốn trở thành người tài đức cũng không phải một bước là có thể thành công, cần trải qua thời gian dài bồi dưỡng, vì vậy cần có thể lực, nhẫn nại, kiên trì thì mới được.
Có người lúc nào cũng ảo não buồn rầu nghiệp chướng nặng, đem những nguyên nhân tạo nên các chuyện không như ý, đều đổ thừa cho về đời trước. Kỳ thật, ba loại nghiệp đó quyết định cuộc sống hiện tại của mình, nghiệp tạo từ quá khứ chỉ đóng một phần nhỏ, chẳng phải toàn bộ. Nghiệp tạo từ quá khứ đã trở thành quá khứ, còn muốn thay đổi thì chỉ có cách từ biệt nghiệp của chúng ta trong đời hiện tại, thứ đến là cộng nghiệp của chúng sanh. Chỉ có hiện tại nỗ lực sửa đổi “biệt nghiệp của cá nhân” và “cộng nghiệp của chúng sanh”, thì mới có khả năng giải quyết trực tiếp vấn đề. Vì vậy, thay vì ão não buồn rầu quá khứ tại sao không thực hiện tốt, thì đâu bằng nỗ lực cố gắng trên nhiều phương diện trong hiện tại! Nhờ hiểu nhân quả nghiệp báo, và học tập

* Trang 90 *
device

chánh tri chánh kiến của Phật pháp, thì có thể đối bệnh kê thuốc.
V. Tùy nghiệp thọ báo
Chúng ta trong một đời tạo nghiệp rất nhiều, thiện có, ác cũng có. Tạo thiện nghiệp được quả báo nhân thiên; tạo nghiệp ác đọa vào ba đường ác: súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Chúng ta tạo nhiều thiện nghiệp và ác nghiệp, cuối cùng theo những nghiệp nào, đầu thai vào đường nào? Nói cho cùng, theo nghiệp thọ báo chủ yếu có ba loại: tuỳ nghiệp nặng, tùy tập tính, tùy ức niệm.
1. Tùy nghiệp nặng
“Tùy nghiệp nặng” tức bất luận là nghiệp thiện, ác nhưng trong đó có nghiệp lực đặc biệt mạnh, như tạo nghiệp thiện nhiều hay tạo nghiệp ác mạnh, sau khi thân mạng kết thúc lập tức đi thọ báo. Đối với người tạo nghiệp thiện mạnh thì dù chúng ta không hộ niệm giúp người này nhưng người này cũng sớm sanh lên cõi trời, hoặc chuyển kiếp đến nhân gian.
2. Tùy tập tính
Tùy tập tính là tùy thuộc vào thói quen, do thói quen thiện

* Trang 91 *
device

hay ác mà hình thành một loại ảnh hưởng của quán tánh. Trong “Kinh Tạp A Hàm”[1] ghi lại câu chuyện của một vị trưởng lão nổi tiếng, trong đó nói rõ thói quen chủ yếu thường ngày phải nuôi dưỡng tập tính tánh thiện. Vị trưởng lão này hằng ngày niệm Phật một cách thành kính, có một ngày ông ta thỉnh cầu Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nếu có


[1]  “Kinh Tạp-a-hàm”, quyển 33, (kinh 930) Đại Chánh tập 2, trang 237b~c.
        Một thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ. Bấy giờ, Ma-ha-nam họ Thích đến chỗ Phật cuối đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nước Ca-tỳ-la-vệ này, đang an ổn thịnh vượng, nhân dân phát đạt. Mỗi khi con ra vào người vật theo hai bên, nào voi điên, người điên, xe điên, thường cùng đi với chúng. Con tự sợ là mình cùng sống, cùng chết với bọn điên cuồng này mà quên niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tỳ-kheo Tăng. Con tự nghĩ sau khi mạng chung sanh vào thế giới nào?
        Phật bảo Ma-ha-nam: “Đừng sợ hãi, đừng sợ hãi, Sau khi chết ông không sanh vào đường dữ, cũng không chết dữ. Ví như cây lớn thuận gió, nghiêng xuống, chúi xuống, nếu chặt gốc rễ sẽ ngã về nơi nào?
        Ma-ha-nam bạch Phật: “về phía thuận gió, nghiêng xuống, chúi xuống”
        Phật bảo Ma-ha-nam: “Ma-ha-nam cũng như vậy, khi mạng chung không sanh đường dữ, cũng không chết đường dữ. Vì sao, vì ông đã lâu dài nhất tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tỳ-kheo Tăng, nên sau khi mạng chung thân này bị hoả thiêu, hay bỏ ngoài nghĩa địa, bị gió táp, nắng thiêu lâu ngày thành tro bụi, nhưng vì tâm ý thức từ trước được huân tập bởi chánh tín, bởi tịnh giới, bố thí, đa văn, trí huệ nên thần thức hướng lên cõi an lạc, đời sau sanh về cõi trời’.
        Sau khi Ma-ha-nam nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ rồi lui ra.
 

* Trang 92 *
device

một ngày con đang đi trên ngã tư đường không cẩn thận nên bị tai nạn , lúc đó con không kịp niệm Phật, thế thì con có bị đọa địa ngục không? Hay các con đường ác đạo không? Đức Phật trả lời: “Ông sanh thời có tập tính thiện, ông yên tâm, khi đó không kịp niệm Phật, thì vẫn được vãng sanh đến con đường thiện, giống như cây cổ thụ sanh trưởng theo hướng về phía Đông Nam khi đổ gãy vẫn theo hướng Đông Nam mà ngã.”
 Vì vậy, hằng ngày giữ gìn cho tâm trong sạch thanh tịnh, thì lúc này chánh niệm sanh khởi, đã có tập tính thiện thì sẽ sanh vào đường lành. Ngược lại, thường ngày nuôi dưỡng tập tánh tham, đến khi xả bỏ thân mạng, cảnh tượng huyễn hóa hiện ra, thì một niệm chấp trước đi theo đầu thai vào đường súc sanh hoặc đường ác đạo.
3. Tùy ức niệm
Tùy ức niệm là tùy thuộc vào tâm niệm hồi tưởng trong lúc lâm chung. Nếu như, đời trước không tạo nghiệp thiện, ác đặc biệt lớn, cũng không có tập tánh thiện hay tập tánh ác đặc biệt mạnh, lúc này muốn vãng sanh nơi nào đều có thể! Nếu lúc mạng chung hồi tưởng việc thiện, thì nghiệp thiện

* Trang 93 *
device

dẫn dắt sanh vào đường nhân thiên; hồi tưởng việc ác thì nghiệp ác dẫn dắt vào ba đường ác đạo. “Hộ niệm lúc lâm chung” chủ yếu là hướng vào người đó mà hộ niệm trợ giúp cho phần nào đó. Nhưng người này nghiệp ác quá nặng, hoặc là hằng ngày có tập tính ác quá sâu dày, thì cho dù có người trợ niệm, người này không dễ thọ nhận được!
VI. Lâm chung nhất niệm
Trong “Đại Trí Độ Luận” khi nói về nhân duyên nghiệp báo, lấy ví như người họa sĩ, nhấn mạnh người tạo nghiệp chân chánh thì được quả báo tốt; ngược lại, người tạo nghiệp tà vạy thì nhận quả báo xấu. Như “Đại Trí Độ Luận” quyển 24 nói:
“Khi mạng chung nghiệp ấy đến phủ kín tâm người này, như bóng râm của ngọn núi lớn che mọi vật. Nghiệp ấy hay cho các loại thân, như thợ vẽ, vẽ các hình tượng. Nếu người nào hành nghiệp chánh hạnh thì quả báo tốt, còn nếu hành nghiệp tà hạnh thì có quả báo xấu. Như người làm việc cho nhà vua, thì theo công việc mà được thù đáp. Như vậy là phân biệt quả báo của các nghiệp chướng.
Lại nữa, như trong “Kinh Phân Biệt Nghiệp”, Phật bảo

* Trang 94 *
device

A-nan: “người làm ác sanh nơi tốt, người làm thiện sanh nơi xấu”.
A-nan thưa: “Việc ấy như thế nào?”
Phật dạy: “Người ác tội nghiệp đời này chưa chín, mà nghiệp lành đời trước đã chín, do nhân duyên đó, mà đời này tuy ác mà sanh nơi tốt, hoặc khi sắp chết tâm tâm số pháp lành phát sanh, do nhân duyên ấy cũng sanh được nơi tốt. Người làm lành sanh chỗ xấu, vì nghiệp lành đời này chưa chín mà nghiệp ác đời trước đã chín muồi, do nhân duyên ấy mà đời nay làm lành mà sanh nơi xấu, hoặc khi chết tâm tâm số pháp bất thiện phát sanh, do nhân ấy nên cũng sanh chỗ xấu.”[1]
Người họa sĩ là chỉ những người biết vẽ hình người, hình cảnh vật. Thật ra, làm cho thọ nhận thân người hoặc súc sanh đều do nghiệp của chúng ta tự tạo ra. Như trong “Đại Trí Độ Luận” trích dẫn “Kinh Phân Biệt Nghiệp” tường thuật lại Đức Phật đã từng nói với A-nan rằng: “Người làm ác, nhưng sanh vào nơi tốt, người làm lành mà sanh vào nơi


[1] Đại Chánh tập 25, trang 238b11~23.

* Trang 95 *
device

xấu”.
A-nan cảm thấy rất kỳ lạ, điều này trái với câu nói thường ngày “thiện có thiện báo (quả báo vui), ác có ác báo (quả báo khổ)” trái lại sao?
Đức Phật trả lời: người làm ác, đầu thai vào nơi tốt, có hai nguyên nhân: một là vì người ác này tội nghiệp đời này vẫn chưa thành thục, nghiệp thiện đời quá khứ đã thành thục rồi; hai là khi sắp chết, sanh khởi tâm tâm sở pháp thiện mạnh.
Ngược lại, người làm lành đầu thai vào chỗ không tốt, cũng có hai nguyên nhân: những người này thiện căn đời nay vẫn chưa thành thục, mà nghiệp ác trong đời quá khứ đã thành thục; hai là khi sắp chết khởi tâm tâm sở bất thiện pháp mạnh.
Tiếp theo “Đại Trí Độ Luận” lại có một đoạn nghi vấn thật thâm thuý:
Hỏi: Nghiệp chín chưa chín có thể như vậy, còn tâm phát sanh trong thời gian ngắn ngủi khi sắp chết làm sao thắng được nghiệp lực gây ra suốt cả đời?

* Trang 96 *
device

Đáp: Tâm ấy tuy trong thời gian khoảnh khắc, mà tâm lực mãnh liệt, như lửa như chất độc, tuy ít nhưng có tác dụng rất lớn. Trong khi sắp chết, tâm đó quyết định mãnh liệt kiên cố, cho nên thắng nghiệp lực tạo ra trong trăm năm.[1]
Có người hỏi: nếu nói tội nghiệp thành thục hoặc chưa thành thục dẫn tới nơi nào thọ báo, cách này tôi đồng ý; nhưng mà, lúc lâm chung tâm niệm rất ngắn, làm sao có thể chống chọi cho được nghiệp thiện hoặc nghiệp ác trong một đời?
Giống như trong “Đại Trí Độ Luận” trả lời, Bồ-tát Long Thọ nói: Tâm niệm này tuy rất ngắn nhưng sức mạnh mãnh liệt như lửa, như độc. Giống như lửa vô minh có thể thiêu sạch cả rừng công đức. Cho dù chúng ta trải qua nhiều năm làm thiện tạo ra công đức, nhưng chỉ trong một niệm sân khởi lên có thể đốt cháy hết tất cả! Thử nghĩ xem, một người cần lao khổ nhọc trong ba năm đốn cây chất đầy nhà, rồi đem một ngọn lửa đốt nó thì có cần ba năm mới cháy


[1] Đại Chánh tập 25, trang 238b23~27.

* Trang 97 *
device

hết không? Chắc chắn là không, mà ngược lại chỉ trong một khoảnh khắc thôi đã cháy tan thành tro bụi. Còn chất độc? Cũng như vậy, tuy liều lượng rất ít, chẳng cần ăn tới no, chỉ một giọt nhỏ cũng đủ lấy đi thân mạng. Nếu như trước khi lâm chung, tâm niệm vững mạnh giống như ngọn lửa, thuốc độc, “quyết định mãnh liệt kiên cố, cho nên thắng nghiệp lực tạo ra trong trăm năm.”
Bởi vậy, cùng là một niệm cuối trước khi lâm chung, xem chúng ta là niệm thiện hay niệm ác, niệm cuối cùng này có sức mạnh như thế nào. Nếu niệm này đặc biệt mạnh đến nỗi chống lại được những nghiệp thông thường, mà khiến chúng ta đi thọ báo theo niệm này trước, vấn đề đó chúng ta cần lưu ý!
VII. Tội phước đều do “tâm” sanh phân biệt
Cùng thực hiện một việc, nhưng do phát tâm không giống nhau, nên quả báo nhận được tội phước khác nhau. Như “Thành Thật Luận” quyển 7 nói:
Do có tâm phân biệt nên thành ra có tội, nếu không có thì cũng không, tất cả các nghiệp đều do tâm sai biệt mà có cao thấp. Nếu đã không có tâm phân biệt thì cao thấp từ

* Trang 98 *
device

đâu sanh? Giống như lương y hay không phải lương y đều làm người khổ, do tâm lực mà sanh ra tội phước sai khác; lại giống như đứa trẻ bú sữa mẹ thì không có tội gì cả, vì nó không có tâm ô nhiễm. Ngược lại thì có tội, thế nên biết rằng tội phước đều do tâm mà sanh ra.[1]
Nếu cố ý làm việc ác nên có tội, ngược lại không ác tâm thì không nhất định có tội. “Cố ý tạo nghiệp” và tùy vào tâm niệm thiện ác mạnh hay yếu mà quả báo có sự khác biệt. Ví như Lương y trị bệnh cho bệnh nhân, có lúc dùng kim chích, xoa bóp hoặc bó xương v.v..., làm cho bệnh nhân tiếng khóc đau buồn, nhưng lương y vì trị bệnh cho bệnh nhân; ngoài ra có người không phải lương y nhưng lại có ác ý muốn hại người, làm cho người đau khổ nói không nên lời. Ở đây là do sự phát tâm không đồng, mục đích không giống nhau, lương y trị bệnh cho người thì được phước, không phải lương y mà lại tâm ác hại người thì có tội. Cũng như trẻ em bú sữa mẹ với tâm không ô nhiễm nên không có tội, nếu như người ngoài có tâm ô nhiễm thì đương nhiên có tội. Vì vậy, tội phước không phải đem hành


[1] Đại Chánh tập 32, trang 294a18~23.

* Trang 99 *
device

vi của thân, khẩu xét đoán, chủ yếu là nơi tâm, tâm thiện ác, hoặc là cố ý, không có ý mà quyết định tội phước.
“Thành Thật Luận” quyển 7 lại ghi rằng:
“Như có ba người cùng nhiễu tháp: người thứ nhất là có muốn có công đức niệm Phật, người thứ hai phạm tội trộm cắp, người thứ ba là hóng mát. Tuy thân nghiệp giống nhau, mà thiện, bất thiện, vô ký khác biệt là ở trong tâm”.[1]
Ví dụ nói ba người cùng đi nhiễu tháp, người thứ nhất là vì công đức niệm Phật; người thứ hai là vì muốn lấy trộm tiền trong thùng công đức; người thứ ba là không phải khởi tâm niệm thiện ác đặc biệt mà chỉ vì muốn đến nơi thờ Phật trong sạch này để đi hóng mát. Ba người này tuy thân nghiệp giống nhau nhưng tâm niệm thì khác, do đó có thiện, bất thiện và vô ký khác nhau. Nhưng biết được tội phước là do tâm mà tạo ra sự khác biệt, tâm niệm rất quan trọng!
VIII. Do năm nhân duyên quyết định sự khác nhau phạm tội thượng, trung, hạ phẩm
“Tâm” quyết định rất nhiều yếu tố thọ báo nặng nhẹ,


[1] Đại Chánh tập 32, trang 294b2~4.

* Trang 100 *
device

nhưng tội nghiệp nặng nhẹ có khác, vậy do những yếu tố nào quyết định? Theo nghiệp ác mà nói, trong “ Du Già Sư Địa Luận” quyển 99 đưa ra năm loại nhân duyên:
Do năm nhân duyên, mà biết được phạm tội thượng, trung, hạ phẩm khác nhau. Thế nào là năm? Một là do tự tánh, hai là do hủy phạm, ba là do ý thích, bốn là do sự việc, năm là do tích tập.
1. Do tự tánh (tánh tội) là: Tha tánh tội là Thượng phẩm tội; Chúng dư tội tụ là Trung phẩm tội; Sở dư tội tụ là Hạ phẩm tội.
Lại có sự khác nhau, Bỉ thắng và Chúng dư là Trọng phẩm tội; Vẫn trụy và Biệt hối là Trung phẩm tội; Ác tác tội tụ là Khinh phẩm tội. Nên biết như vậy, do vì tự tánh, mà phạm tội Thượng, Trung, Hạ khác nhau.
2. Do hủy phạm: Phạm tội do vô tri và phóng dật là Hạ phẩm tội; do vì phiền não mạnh là Trung phẩm tội; do vì khinh mạn, là Thượng phẩm tội. Nên biết như vậy, do vì hủy phạm, mà phạm tội Thượng, Trung, Hạ phẩm khác nhau.
3. Do ý thích: Phạm tội do vì hạ phẩm tham, sân, si

* Trang 101 *
device

triền, là Hạ phẩm tội; nếu do trung phẩm thì Trung phẩm tội; do vì thượng phẩm, là Thượng phẩm tội. Nên biết như vậy, do vì ý thích, mà phạm tội Thượng, Trung, Hạ phẩm khác nhau.
4. Do vì sự việc: Tuy là phạm tội tương tợ với phần ý thích, nhưng do sự việc không giống nhau, nên biết phạm đó hình thành thượng trung hạ khác biệt. Do vì sân triền cố ý sát hại chúng sanh, thì phạm Vẫn trụy tội; cũng vì sân triền mà giết hại người khác không phải cha mẹ, thì phạm Tha thắng tội, không bị vô gián tội; cũng vì sân triền mà giết hại cha mẹ, thì phạm Tha thắng tội và vô gián tội. Nên biết như vậy, do vì sự việc, mà phạm tội Thượng, Trung, Hạ phẩm khác nhau.
5. Do tích tập: Phạm một tội không như pháp sớm sám hối, hoặc phạm hai cho đến năm tội, nên biết, do tích tập như thế, trở thành Hạ phẩm tội. Từ đó về sau, nếu phạm mười, hai mươi, ba mươi, rất nhiều lần, không như pháp sớm sám hối, nên biết, do tích tập như thế, trở thành Trung phẩm tội. Nếu phạm số lượng không thể tính hết, nên biết,

* Trang 102 *
device

do tích tập như thế, trở thành Thượng phẩm tội.[1]
“Du Già Sư Địa Luận” nói: có năm nhân duyên quyết định tội mà phạm Hạ phẩm tội, Trung phẩm tội, Thượng phẩm tội: do tự tánh, hủy phạm, ý thích, sự việc, và do tích tập, dưới đây giải thích cụ thể.
1. Nhân duyên thứ nhất: “do tự tánh”
Phần “Tự tánh” có 2 cách lý giải:
A. Cách thứ nhất:
a. Thượng phẩm tội: “Tha thắng tội tụ”, lại gọi là “Ba-la-di”, thuộc tội nặng nhất, như cố ý phạm tội sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc cố ý đại vọng ngữ: không chứng đắc thiền định mà nói là đã chứng đắc; không chứng quả mà cố ý nói chứng quả. Những loại tội tương tự như vậy đều phạm tội rất nặng, đây gọi là thượng phẩm tội.
b. Trung phẩm tội: “Chúng dư tội tụ” lại gọi là “Tăng tàn”, “chúng” là “tăng”, “dư” là xót lại (tàn), đây là tội trọng thứ hai trong giới luật của người xuất


[1] Đại Chánh tập 30, trang 870b7~c9.

* Trang 103 *
device

gia.
c. Hạ phẩm tội: “Sở dư tội tụ” tức là ngoài tội Ba-la-di và Tăng tàn. Như tiểu vọng ngữ, giết súc sanh, hoặc tội khác nữa.
B. Cách thứ 2:
a. Thượng phẩm tội: “Tha thắng tội tụ”, “chúng dư tội tụ”. Đây là tội nặng thứ nhất cùng tội nặng thứ hai trong giới luật của Tỳ-kheo.
b. Trung phẩm tội: “Vẫn trụy”, “biệt hối”, đây là loại tội “Ba-dật-đề” và “Ba-la-đề-đề-xá-ni” trong luật. Như Phật quy định trong chúng xuất gia mỗi người chỉ được cất giữ một cái bát, nhưng có người tâm tham lam cất giữ nhiều cái, thì phạm tội này.
c. Hạ phẩm tội: “Ác tác tội tụ”. Như ăn mặc không nghiêm túc, đi đứng nằm ngồi không có oai nghi v.v.., đây là hạ phẩm.
Do giới pháp không đồng, như vậy mà tội nặng nhẹ khác nhau. Đây gọi là “do tự tánh”, tội phạm thành thượng, trung, hạ phẩm khác nhau.

* Trang 104 *
device

2. Nhân duyên thứ hai: “Do hủy phạm”
A. Thượng phẩm tội: Khinh mạn, tâm nghi ngờ, hận thù, tức là coi thường, nghi ngờ hận thù chúng sanh. Bổn phận của Bồ-tát là từ bi tiếp dẫn chúng sanh, nhưng ngược lại chúng sanh có tâm coi thường, nghi hoặc, hận thù, các loại này vi phạm nghiêm trọng đến tinh thần của Bồ-tát. Vì thế bỏ rơi chúng sanh, đây thuộc về thượng phẩm tội.
B. Trung phẩm tội: Phiền não mãnh liệt. Tuy đối với chúng sanh không nảy sanh tâm khinh mạn, nghi ngờ, hận thù, nhưng phiền não còn hẫy hừng, não loạn chúng sanh, khiến chúng sanh khởi phiền não, đây là trung phẩm tội.
C. Hạ phẩm tội: Vô tri, phóng dật. Do không có trí huệ, lười biếng giải đãi tạo ra sai lầm.
Cùng làm hành động giống nhau, nhưng tâm niệm huỷ phạm không giống, thì tội báo nặng nhẹ khác nhau.
3. Nhân duyên thứ 3: “Do ý thích”
A. Thượng phẩm tội: tham, sân, si phiền não thượng phẩm.
B. Trung phẩm tội: tham, sân, si phiền não trung

* Trang 105 *
device

phẩm.
C. Hạ phẩm tội: tham, sân, si phiền não hạ phẩm.
Ví như, cùng là phiền não của sân, nhưng có sự khác biệt thượng phẩm sân, trung phẩm sân, hạ phẩm sân.
Sân thượng phẩm, tâm sân hận rất mạnh, dài lâu không dứt, thậm chí đến đời sau, đợi đủ cơ hội báo thù, niệm sân này mạnh lại dài lâu nên tội báo rất nặng.
Sân trung phẩm, tâm sân hận không mạnh mẽ, kéo dài giống thượng phẩm, nhưng đối trước người này sám hối, họ vẫn không tha thứ.
Sân hạ phẩm, tâm sân này mới khởi lên, trải qua không lâu thì biến mất.
4. Nhân duyên thứ 4: “Do sự việc”
A. Thượng phẩm tội: như đem tâm sân hận cố ý giết cha mẹ, sư trưởng, Thánh nhân, là phạm Tha thắng tội (Ba-la-di) cho đến vô gián tội.
B.Trung phẩm tội: Tâm sân hận cố ý giết người trừ cha mẹ, sư trưởng, Thánh nhân, là phạm Tha thắng tội (Ba-la-di).

* Trang 106 *
device

C. Hạ phẩm tội: Tâm sân hận cố ý giết súc sanh, tội Vẫn trụy (Ba-dật-đề).
Cùng là phiền não giống nhau, nhưng đối tượng gây hại không giống nhau, nên tội nặng nhẹ khác.
5. Nhân duyên thứ 5: “do tích tập”
A. Thượng phẩm tội: Phạm tội nhiều vô lượng.
B. Trung phẩm tội: Phạm một vài lần rồi dừng. (Như ăn trộm vài lần rồi dừng).
C. Hạ phẩm tội: phạm ít thì dừng.
“Tích tập”, nói số lượng phạm tội mà chúng ta đã mắc phải. Có người nghĩ: Ta đã trộm cắp rồi, một thì không làm, hai đã làm rồi thì không dừng lại, tiếp tục trộm cắp nữa! Hoặc có người nghĩ rằng: giết người thì sẽ bị chém đầu, nhưng giết rồi, thì giết thêm nhiều người nữa cũng vậy, đây là tà kiến! Họ chỉ thấy kết quả hiện tiền của hành vi giết người là bị tử hình, chứ không thấy được hậu quả của nó là phải bị sa đọa vào ác đạo và trong tương lai còn bị trầm luân nơi thế giới khổ đau, suy nghĩ của họ thật nông cạn.
Ví dụ rằng, giống như áo quần vừa làm dơ chút, lập tức đi

* Trang 107 *
device

giặt liền thì mau sạch; nếu làm dơ nhiều mà lại để lâu mới giặt thì khó sạch. Có hai người rất lười biếng, một người nói: “Tôi chuẩn bị vớ mặc trong hai tuần, bên phải mặc rồi, thì lật qua bên trái mặc tiếp”. Người còn lại nói: “Như vậy chưa là gì! Tôi đem áo quần ngâm, đợi khi tôi nghĩ tới là đã khô rồi!” Nghĩ thử xem, áo quần mà ngâm trong nước xà phòng, để đến lúc khô rồi thì như thế nào? Vẫn có thể mặc được không? Áo quần dơ ít thì rất dễ giặt, dơ nhiều thì rất khó giặt. Đồ dơ mà lập tức giặt tẩy cùng với đồ mà sau khi ô-xy hoá rồi mới giặt thì bao nhiêu sức lực bỏ ra không giống nhau.
IX. Giai đoạn từ đầu, đương lúc và sau đó
Giai đoạn đầu của Kinh điển đại thừa, như “Kinh Đại Phẩm Bát-nhã”, “Kinh Hoa Nghiêm” đều nói đến sáu loại Ba-la-mật hay mười loại Ba-la-mật, trong đó “Thi-la Ba-la-mật” là giới hạnh của Bồ-tát, mà trong những Kinh này nói giới Bồ-tát chủ yếu là “Thập thiện đạo”. Thập thiện đạo là: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm (chúng xuất gia là không dâm dục), không vọng ngữ, không nói hai lời, không nói lời ác khẩu, không ỷ ngữ, không tham lam, không sân giận, không tà kiến (chánh kiến).

* Trang 108 *
device

Có người đưa ra câu hỏi: Thập thiện đạo gồm mười giới điều, còn “không uống rượu”, “không ăn phi thời”, “không dùng gậy đánh chúng sanh” những điều giới trong Thập thiện đạo không có bao hàm, nếu nói chỉ có Thập thiện đạo là Thi-la Ba-la-mật của Bồ-tát thì không phải là quá ít sao? Như “Đại Trí Độ Luận” quyển 46 ghi:
Hỏi rằng: Thi-la Ba-la-mật tức là bao gồm tất cả giới pháp, giống như các sông đều chảy ra biển lớn, cho nên giới không uống rượu, không ăn phi thời, không dùng gậy đánh chúng sanh, trong thập thiện đạo không nói đến, tại sao chỉ nói thập thiện thôi?[1]
“Đại Trí Độ Luận” trả lời vấn đề này như sau:  
Ðáp: Phật nói tổng tướng Ba-la-mật, mười thiện là tổng tướng giới, biệt tướng có vô lượng giới. Không uống rượu, không ăn quá ngọ... xếp vào trong điều thiện không tham; không giết hại chúng sinh xếp vào trong điều thiện không giận; các việc khác tùy nghĩa mà xếp theo sau.[2]



[1] Đại Chánh tập 25, trang 395b18~21.
[2] Đại Chánh tập 25, trang 395 b21~29.

* Trang 109 *
device

Giới là nhiếp vào bảy thiện đạo, thân nghiệp có ba, khẩu nghiệp có bốn.
Mười thiện đạo và đầu cuối, như khởi tâm muốn giết, khi ấy khởi phương tiện miệng nói dữ, đánh đập, cho đến sắp chết, đều thuộc giai đoạn từ đầu. Sau khi chết bắt đầu ăn uống, vui mừng đều gọi là giai đoạn lúc sau. Cướp mạng sống là điều căn bản; ba việc ấy hòa hợp chung gọi là bất thiện đạo về sát. Vì vậy nên biết nói mười thiện đạo thời thu nhiếp hết thảy giới.
“Không uống rượu” và “không ăn quá ngọ” giới điều trong Thập thiện đạo không nói, nhưng nó được hàm nhiếp trong giới “không tham”; “không giết hại chúng sanh” được hàm nhiếp trong “không sân”, còn giới sát sanh là không phải giới hạn trong “cướp thân mạng chúng sanh” mà thôi, vì thân, khẩu, ý trước khi sát sanh và sau khi sát sanh đều bao hàm trong tội “cướp thân mạng chúng sanh”. Trước khi sát sanh thì tâm sát sanh khởi lên trước (tâm nghiệp), ác khẩu, chửi mắng (khẩu nghiệp), đánh đập hành hạ (thân nghiệp); cho đến sau khi chúng sanh chết lại vui mừng (tâm nghiệp), tán thán (khẩu nghiệp), ăn thịt đánh

* Trang 110 *
device

xác chết (thân nghiệp) v.v… đều bao hàm trong giới sát sanh. Như vậy, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ đối với “đương lúc” “từ đầu” cho “sau đó” kết thúc đều là như vậy. “Từ đầu, đương lúc và sau đó” ở trên vừa nói, theo Ngài Huyền Trang dịch là “Gia Hành, Căn bổn, Hậu khởi”.
“Luận Đại Tỳ Bà Sa”[1] tường thuật cụ thể sự liên quan của ba quá trình này trong Thập bất thiện đạo, ở đây chỉ đơn cử giới cấm sát sanh, trộm cắp, dâm dục “Đại Tỳ Bà Sa Luận” quyển 113 ghi rằng:
Hiện tại đề cập đến ba khía cạnh khác nhau từ đầu, đương lúc và sau đó của Thập bất thiện nghiệp. Người làm việc giết hại trải qua ba giai đoạn: Nghĩa là khi muốn giết một con dê, trước tiên anh ta đến chỗ nuôi dê, hoặc mua, hoặc trói buộc, hoặc đánh đập cho đến gần chết. Giai đoạn này, nếu có những hành vi hay lời nói liên quan tới việc giết hại đều thuộc về giai đoạn “từ đầu” của việc giết hại. Đang lúc đem tâm giết hại, dùng biểu nghiệp, trong thời


[1] “Đại Tỳ Bà Sa Luận” quyển 113, Đại Chánh tập 27, 583b~584a ; “Câu Xá Luận” quyển 16, Đại Chánh tập 29, trang 84c~85a ; “Kinh Ưu-bà-tắc Giới” quyển 6, Đại Chánh tập 24, trang 1067a~c.

* Trang 111 *
device

gian sát-na nghiệp đó, đoạn thân mạng gọi là “đương lúc”. Từ đó về sau, phàm những việc lột da, xẻ thịt, hoặc bán, hoặc ăn cho đến những biểu nghiệp hay vô biểu nghiệp liên quan đến thân và miệng đều thuộc về giai đoạn “sau đó” của việc giết hại.[1]
 “Luận Đai Tỳ Bà Sa” quyển 113 lại nói:
Giới không cho mà lấy có ba giai đoạn: chẳng hạn như khi mới khởi tâm trộm cắp nhưng thân đang ở nơi khác, đang lên kế hoạch, dò thám, khoét vách, mở khóa, trộm lấy tài vật của người cho đến lấy được vật song chưa di dời chỗ khác. Những hành vi bất thiện về thân miệng, trong giai đoạn này đều thuộc giai đoạn “từ đầu” của giới không cho mà lấy. Nếu dùng tâm trộm cắp mà lấy vật của người rồi di dời đi nơi khác thì tất cả những hành vi thuộc về biểu nghiệp hay vô biểu nghiệp của thân ý cho đến khoảnh khắc của một sát-na trong giai đoạn này gọi là “đương lúc” của tội trộm cắp. Từ đó về sau, hoặc là vật chủ biết được, cho đến bắt nhốt, giam cầm, hoặc giết hại vật chủ, thì phạm “đương lúc”


[1] Đại Chánh 27, trang 583b12~19.

* Trang 112 *
device

giới sát sanh và “sau đó” giới trộm cắp, hoặc vật chủ không biết, rồi phân chia sử dụng những hành vi đó dù thuộc về biểu nghiệp hay vô biểu nghiệp của thân và miệng thì đều được gọi là giai đoạn “sau đó” của việc trộm cắp.[1]
“Luận Đại Tỳ Bà Sa” quyển 113 lại ghi:
Giới tà dâm chia ra ba giai đoạn: nghĩa là do bị lửa ái dục thiêu đốt, hoặc thông qua thư từ, tranh vẽ, thức ăn uống, tài vật mà biểu hiện lòng khát ái của mình rồi đụng chạm, cho đến chưa giao cấu với đối tượng đó, những hành vi bất thiện của thân miệng ấy đều thuộc giai đoạn “từ đầu” của giới tà dâm. Nếu ở những thời điểm nào đó, thực hiện những hành vi bất thiện về thân, hoặc là giao cấu cho đến khởi lên ý niệm nghĩ tà dâm trong chừng khoảng sát-na đều liên quan đến “đương lúc” của giới tà dâm. Từ đây về sau, y theo này mà khởi lên những hành vi bất thiện về thân miệng dù thuộc biểu nghiệp hay vô biểu nghiệp có liên quan đến ái dục thì đều thuộc giai đoạn “sau đó” của giới tà hạnh.[2]



[1] Đại Chánh27, trang 583b19~27.
[2] Đại Chánh tập 27, trang 583b27~c6.

* Trang 113 *
device

1. Ba giai đoạn từ đầu, đương lúc, sau đó của sự giết hại:
Trong “Đại Trí Độ Luận” quyển 46 đã nói rõ những vấn đề liên quan của sự giết hại. Giết hại không chỉ khiến cho đoạn thân mạng thôi, mà khi phát khởi tâm trong giai đoạn “từ đầu, đương lúc, sau đó” cũng thuộc về việc giết hại.
2. Ba giai đoạn từ đầu, đương lúc, sau đó của việc trộm cắp:
Ý nghĩa của sự trộm cắp là “không cho mà lấy”, tức vật người không cho mà tự động lấy về cho mình. Ở đây cũng phân ra ba giai đoạn:
A. Ban đầu: Nhìn thấy vật mà khởi tâm tham, trước tiên phải quan sát chung quanh, dò thám, phá tường, cho đến chưa di dời vật đi nơi khác thì thuộc giai đoạn “ban đầu”.
B. Đương lúc: Lấy vật di dời đi nơi khác trong khoảng chừng một sát-na, giai đoạn này gọi là “đương lúc”.
C. Sau đó: Sau khi lấy được vật thì bị chủ nhân phát hiện rồi bắt trói lại cho đến bị giết hại vật chủ, đây là giai đoạn “sau đó” của sự trộm cắp, là giai đoạn “từ đầu”

* Trang 114 *
device

của tội giết hại, nếu giết hại chủ nhân thì thuộc về giai đoạn “đương lúc” của sát sanh. Nếu vật lấy được mà không bị chủ nhân phát hiện, rồi đem vật ra tự sử dụng hoặc phân chia cho mọi người cùng sử dụng, biểu hiện những hành vi bất thiện về thân, ý dù biểu nghiệp hoặc vô biểu nghiệp đều thuộc giai đoạn “sau đó” của việc trộm cắp.
3. Ba giai đoạn từ đầu, đương lúc, sau đó của việc tà dâm:
“Tà dâm” là ưa thích việc tà hạnh, đối với giới điều của tại gia thì không tà dâm, còn người xuất gia thì không dâm dục.
A. Từ đầu: Khi tâm tham dục khởi lên nghĩ ra đủ phương thức để diễn tả tâm yêu thương của mình như: gửi thư từ, tặng hoa, đồ ăn uống, tiền tài của báu, hoặc xúc chạm thân thể v.v... tất cả những hành động này đều thuộc giai đoạn “từ đầu”.
B. Đương lúc: Hai căn của nam nữ hòa hợp nhau trong một sát-na, đây là giai đoạn “đương lúc”.
C. Sau đó: Thân nghiệp, khẩu nghiệp trong giai đoạn sau

* Trang 115 *
device

của sự ham muốn tà hạnh đều thuộc “sau đó”.
“Đại Tỳ Bà Sa Luận” là luận thư của Nhất Thiết Hữu bộ, nói giai đoạn “ban đầu và sau đó” thuộc về thân nghiệp, khẩu nghiệp; nhưng “Đại Trí Độ Luân” của Đại thừa thì bao hàm ba nghiệp thân, khẩu, ý. Nói cách khác, không chỉ một sát-na khi hai căn nam nữ hòa hợp mới phạm tà dâm, khi đụng chạm, miệng nói, trong tâm khởi tâm tham dục v.v...đều là “dục tà hạnh”.
Y vào đây, mà suy ra các loại vọng ngữ, lưỡng thiệt (đến người này nói chuyện người kia, đến người kia nói chuyện người này), nói lời ác khẩu, kỳ thị v.v... cũng như thế.
Từ đây, ta có thể nói Thập thiện đạo là nền móng căn bản, nó không chỉ giới hạn trên văn tự liệt kê ra mười hạng mục, mà tất cả “ban đầu và sau đó” đều bao hàm trong giới pháp này. Phân tích theo ý nghĩa, thì Thập thiện đạo là tổng giới tướng, bao hàm tất cả giới pháp, hàm chứa năm giới, tám giới, thậm chí giới của Tỳ-kheo v.v..., Bồ-tát giới phải đầy đủ Thi-la Ba-la-mật, nên nắm lấy những nguyên tắc này, nếu chỉ thọ trì mười giới thì công năng của giới hạnh làm sao viên mãn được?

* Trang 116 *
device

Tại sao chúng ta lại đề cập đến giai đoạn “từ đầu và sau đó”? Vì giai đoạn “từ đầu và sau đó” có ảnh hưởng mật thiết tới việc nặng nhẹ của nghiệp báo. Ví dụ như, thời Phật còn tại thế có một người nghèo, trong vườn ra được một ít nho, nên muốn đem cúng dường chúng Tăng, nhưng nhân duyên không thành. Vì cùng lúc đó, nhà vua lại muốn cúng dường ẩm thực cho đại chúng trong một tháng. Người này suy nghĩ rằng: Nhà vua đã hứa trước rồi, nên tháng này mình không cúng dường được! Người này đợi qua một tháng, cũng may gặp được vị Tỳ-kheo và thưa: “Tôi đã đợi một tháng rồi, lúc nào thì mới có thể cúng dường được?”. Vị Tỳ-kheo trả lời: “Không phải bây giờ thí chủ mới bố thí, mà đã bố thí cả tháng này rồi”[1].
Tuy chưa đem của bố thí nhưng trong tâm đã chuẩn bị trước, không phải đợi đến nơi mới khởi ý niệm bố thí. Đây là nói đến giai đoạn “từ đầu”. Có người ở nhà, thấy người nghèo tới xin thì mới bố thí; có người thì ăn xin tới nhà xin lại không cho; có người ở trong nhà nhưng nghĩ tới những


[1] “Kinh Tạp Thí Dụ”, Đại Chánh tập 4, trang 502 a1~7. “Pháp Uyển Châu Lâm” quyển 41, Đại Chánh tập 53, trang 609b.

* Trang 117 *
device

người nghèo đang đói khát, lạnh cóng ngoài đường nên chủ động đi cứu giúp. Cùng là một việc bố thí, nhưng tâm niệm bố thí, thái độ, phương thức, tâm từ bi đều không giống nhau. Vì vậy, giai đoạn “từ đầu” rất quan trọng, đối với quả báo có ảnh hưởng lớn.
Giai đoạn “sau đó” cũng vậy. Chúng ta khởi tâm làm việc thiện, không nhất định là mọi người đều cảm kích được việc làm của chúng ta. Có lúc bố thí cho người họ lại chê ít nhiều! Có người trong tâm lại nghĩ: “Bố thí cho người là việc làm không sai, nếu như người nhận vẫn với thái độ như vậy thì lần sau không thèm để ý đến người đó nữa”! Có người vẫn tiếp tục bố thí nhưng lại mang tâm oán hận, thái độ bố thí thay đổi. Nếu như vậy thì phước đức giảm đi! Vì vậy, giai đoạn “sau đó” của hành động bố thí cũng rất quan trọng, như thế nào làm cho sự phát tâm của ta không thối lui, sau khi bố thí không hối hận, ngược lại khởi tâm hoan hỷ, mỗi ngày tăng trưởng liên tục không ngừng, đều này phải dựa vào sự dụng công của bản thân mỗi người!
Tóm lại, giai đoạn “từ đầu, đương lúc và sau đó” giai

* Trang 118 *
device

đoạn nào cũng đều ảnh hưởng tới nghiệp báo nặng nhẹ của chúng ta.
X. Nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp báo
Nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp báo rất nhiều, ở đây chỉ nói sơ lược mấy nhân tố căn bản:
1. “Cố ý tạo nghiệp” hay “không cố ý tạo nghiệp”
Cố ý tạo nghiệp và không cố ý tạo nghiệp có sự khác nhau rất lớn. Ví như người cha từ dưới đất ném viên gạch lên lầu cho người con, nhưng người con bắt không được viên gạch nên bị rơi xuống đầu người cha và chết. Vấn đề này cùng với tội cố ý giết người, giết cha mẹ, quả báo nghịch tội này khác nhau khá lớn.
2. Trạng thái tinh thần khi tạo nghiệp
Tạo nghiệp trong “trạng thái tinh thần bình tĩnh” hay “trạng thái tinh thần hỗn loạn” không giống nhau. Đối với luật pháp xã hội cũng như vậy, với người có tinh thần không ổn định thì hình phạt nhẹ, có lúc được miễn hình phạt, Phật giáo cũng thế.
3. Động cơ phát tâm

* Trang 119 *
device

Động cơ phát tâm bao hàm rất rộng, bao gồm các loại tâm niệm từ trước khi thực hiện. Ví như bố thí, có hay không sự chấp trước về chính mình, về người nhận và vật bố thí? Bố thí có mong cầu, hay không có mong cầu?
Ví dụ có người bố thí mà muốn người nhớ ân huệ của mình, đây gọi là chấp trước chính mình.
Hoặc người thấy thích thì bố thí nhiều, ngược lại thấy người không thích thì bố thí ít, hoặc hoàn toàn không bố thí, đây là tâm mình đối với người nhận vật bố thí còn có sự so sánh.
Hoặc có người đem giày dép, truyền hình, tủ bàn cũ v.v... như vậy có phải là thật tâm bố thí không? Hoặc có người đem rác cho người? Nếu còn chấp trước “vật bố thí” thì đối với đồ vật mình ưa thích, quý trọng khó mà đưa được! Ngược lại, nếu như có người đem vật quý của mình cho người khác, thì quả báo này so với việc đem rác cho người đương nhiên hơn nhiều.
Lại có người, không chỉ xả bỏ vật mà trong lúc bố thí còn xả bỏ tâm phiền não tham, sân, si v.v... đây không phải là bố thí của phàm phu mà tương ưng cùng với giải thoát đạo Nhị

* Trang 120 *
device

thừa! Cao hơn nữa, không chỉ cầu độ thân mạng chúng sanh mà dùng trí huệ Bát-nhã hoá độ huệ mạng của chúng sanh, hướng dẫn phương pháp tu hành, đoạn trừ phiền não, làm việc lợi tha, đây tương ưng với Bồ-tát Đại thừa!
Phần trên đối với vấn đề thiện nghiệp đã nói qua, còn với bất thiện nghiệp thì phát tâm tương ưng với tham, sân, si, nặng hoặc nhẹ, thì hậu quả sẽ khác nhau.
4. Phương pháp, hành động
Phương pháp hành động, hành thiện và tạo ác cũng rất khác nhau. Cùng là cách giết người, có người giết người rất nhanh, có người trước dùng lời nhục mạ, mang roi đánh đập làm cho người kia giày vò đến sắp chết. Đây gọi là hành động, phương pháp không đồng, quả báo thọ nhận sẽ khác!
Cũng như, lúc người bố thí tỏ thái độ có thành khẩn hay không? Tận tay bố thí hay mượn người khác bố thí giúp? Khi cứu giúp người nghèo vẻ mặt có hiền hoà không? Hay dùng lời chế nhiễu, ra vẻ khó khăn với mọi người? Có người tâm tự ái rất cao, thà là chịu chết đói chứ không chịu nhận đồ của người bố thí. Có người càng bố thí thì tâm kiêu căng ngã mạn càng cao, nếu có người làm hơn mình thì tâm oán hận

* Trang 121 *
device

dâng trào. Như vậy, khi chúng ta làm công việc từ thiện nên đặc biệt chú ý.
Thật ra, chúng ta có thể suy nghĩ rằng: bố thí cho người nghèo không phải quan niệm từ trên cho xuống dưới, đây là cơ hội để mọi người gieo trồng phước lành. Vì vậy, bố thí tuyệt đối không có quan niệm từ trên cho xuống dưới mà là đồng thể đại bi. Không những có tâm từ, lại còn xem mọi người như Phật, cung kính dâng biếu phẩm vật, như vậy mới không tuỳ tiện ngạo mạn đem đồ cho người khác.
Tuy đồ bố thí giống nhau, nhưng tùy tâm niệm và phương thức thái độ bố thí của mỗi người không giống nhau, nên sự khác biệt của quả báo cũng lớn.
5. Sự việc thành hoặc chưa thành
Sự việc thành rồi hay chưa đạt được mục tiêu, quả báo cũng có những cái khác biệt. Như quả báo của tội giết người chết rồi và tội giết người chưa được không giống nhau. Lại có người, tuy có tâm thiện, nhưng chần chừ không chịu thực hiện, còn có người đi sâu trong lòng xã hội hòa nhập cộng đồng, làm lợi ích cho chúng sanh, quả báo của hai loại này cũng khác nhau.

* Trang 122 *
device

6. Đối tượng phục vụ hoặc đối tượng xâm hại
Đối tượng phục vụ hoặc đối tượng xâm hại không giống nhau nên quả báo cũng không giống nhau. Cùng là một hạt giống nhưng khi đem gieo ở vùng đất khô cằn sỏi đá và đem gieo ở vùng đất màu mỡ phì nhiêu, thì kết quả thu hoạch cũng khác nhau. Đối với giới luật của người xuất gia, cố ý giết súc sanh thì phạm Ba-dật-đề, là phạm tội đọa, cố ý giết cha mẹ thì phạm Ba-la-di, tức là tội ngũ nghịch!
Ở đây có đặt ra vấn đề: lúc bố thí Bồ-tát nên bố thí cho đối tượng nào trước? Giả sử, chỉ có một phần thức ăn, cùng lúc xuất hiện trước mặt mình hai người, một là vị cao tăng đạo đức, vị kia là kẻ lang thang khố rách áo ôm, vậy nên bố thí cho người nào?
Thông thường là do sự phát tâm, cách nghĩ của mỗi người khác nhau mà có cách làm khác nhau. Có người cho rằng trước nên bố thí cho vị cao tăng, có người lại nghĩ nên bố thí cho kẻ lang thang, cũng có người phân ra thành 2 phần, hoặc xem tình cảnh lúc đó rồi quyết định. Như vậy, cuối cùng bố thí cho ai là đúng? “Đại Trí Độ Luận” nêu ra 3 phương pháp:
(1). Người có tâm phân biệt nhiều thì trước cúng dường

* Trang 123 *
device

Phật, Bồ-tát… (phước điền lớn mà tâm thí nhỏ hơn).
(2). Người có tâm từ bi lớn thì trước bố thí cho người nghèo người ác ... (phước điền nhỏ mà tâm thí lớn).
(3). Người đạt được thật tướng trí huệ Bát-nhã phương tiện đầy đủ thì tùy nhân duyên hành bố thí, thương xót chúng sanh, xem họ như Phật.
Như “Trí Độ Luận” quyển 87 (Đại Chánh tập 25, trang 669b2~c21) ghi rằng:
Hỏi: Bồ-tát khi bố thí, trước tiên thí cho người nào?
Đáp: Bồ-tát tuy vì chúng sinh khởi tâm đại bi, song Bồ-tát bố thí trước tiên cúng dường Phật, Bồ-tát, A-la-hán và các thánh nhân; nếu không có thánh nhân thì thứ lớp bố thí cho người trì giới, tinh tấn thiền định, trí tuệ, ly dục; nếu không có các người này thời thí cho các đệ tử xuất gia của Phật; nếu không có người này thời bố thí cho người thọ trì ngũ giới, tu mười thiện đạo và thọ trì tam quy giới một ngày; nếu không có người này thời thí cho hạng người bình thường chẳng phải chánh, chẳng phải tà; nếu không có người này thì bố thí cho người ác tạo tội ngũ nghịch và súc sinh; không thể không cho. Bồ-tát lấy việc bố thí nhiếp thủ hết thảy chúng

* Trang 124 *
device

sinh. Có người nói: Nên trước tiên bố thí cho người tạo tội ngũ nghịch dứt thiện căn, người nghèo cùng, già bệnh, hạ tiện, hành khất, cho đến súc sinh; thí như người mẹ hiền có nhiều con, trước tiên nghĩ đến đứa ốm yếu, bệnh hoạn, cấp cho sự cần dùng; lại như Bồ-tát vì thấy cọp đói muốn ăn con mình nên đem thân bố thí.
Hỏi: Vì sao nên trước hết bố thí cho các hạng như vậy?
Đáp: Vì hết thảy chúng sinh đều là ruộng phước của Bồ-tát. Vì sinh tâm đại bi, Bồ-tát thường muốn đem Vô thượng chánh đẳng chánh giác thí cho chúng sinh, huống gì cơm áo mà còn có phân biệt! Lại, Bồ-tát được vô sinh pháp nhẫn bình đẳng không sai khác, người chưa được vô sinh nhẫn hoặc tâm từ bi nhiều, hoặc tâm phân biệt nhiều, hai tâm ấy không thể đồng hành. Người có tâm từ bi nhiều trước tiên bố thí cho người nghèo cùng, hung ác, nghĩ rằng: Gieo vào ruộng phước được quả báo tuy lớn, song vì lòng thương xót chúng sinh nên trước tiên làm lợi ích cho người nghèo cùng. Như vậy, thửa ruộng tuy không tốt, nhưng do lòng từ bi nên được quả báo lớn. Người có tâm phân biệt nhiều nghĩ rằng: Chư Phật có vô lượng công đức nên trước tiên cúng dường

* Trang 125 *
device

Phật, vì phân biệt các pháp, chấp trước thân Phật nên tâm nhỏ. Tâm tuy nhỏ mà ruộng phước lớn nên công đức cũng lớn. Nếu hiểu được thật tướng các pháp, vào trong Bát-nhã Ba-la-mật và sức phương tiện không được tự tại, cả hai việc cùng làm, thương xót chúng sinh và xem chúng sinh như Phật. Như vậy, Bồ-tát tùy theo nhân duyên mà hành bố thí.
Phước điền thường gồm có “kính điền” và “bi điền”
Trong Kinh[1] có ghi: công đức cúng dường một vị Phật lớn hơn công đức cúng dường trăm vị A-la-hán. Công đức cúng dường một vị A-la-hán lớn hơn công đức cúng dường trăm vị thánh Tăng; bố thí cho phàm phu hơn hẳn bố thí cho súc sanh. Do vì Phật có công đức hoá độ chúng sanh lớn nên phước điền lớn. Đây là nói về phương diện “kính điền”, kính điền lớn thì phước điền nhiều.
Phương diện khác là nói về “bi điền”, có bộ Kinh chủ trương trước bố thí cho những người nghèo khổ nhất, đáng thương nhất, phước báo này lớn. Giống như người mẹ sanh


[1] “Trung A-hàm’ quyển 39, (kinh155) “ Kinh Tu-đạt-đa” Đại Chánh tập 1, trang 677b23~c13; “Trung A-hàm” quyển 47, (kinh 180) “Kinh Cù-đàm-di” Đai Chánh tập 1, trang 722b20~26.

* Trang 126 *
device

mấy người con, trong số các người con đó có người ốm yếu nhất, nhiều bệnh tật, lúc này người mẹ thường chăm sóc người con này; cũng như, nếu chúng ta không nhanh chóng hoá độ những người làm ác, thì ai là người độ họ? Nếu kẻ lang thang đói gần chết, mà chúng ta có thể nhẫn tâm không cứu sao?
Vấn đề quan trọng là nếu vị cao Tăng và kẻ lang thang cùng đói gần chết, thì chúng ta nên bố thí cho ai? Có người đưa ra một phương án, nói rằng: “Thánh tăng có trí huệ cao, nên cúng dường trước, vì trong hoàn cảnh này Thánh tăng cân nhắc nên phân ra một ít bố thí cho kẻ lang thang. Nếu chúng ta bố thí cho kẻ lang thang trước thì người này có thể chiếm ăn hết không nghĩ đến Thánh tăng thì sao?” Cách giải quyết này cũng có ý nghĩa.
“Đại Trí Độ Luận” đưa ra ba phương pháp: “nếu chứng đắc thật tướng các pháp, nhập vào lực phương tiện Bát-nhã Ba-la-mật, tâm được tự tại, hai việc đầy đủ, thương xót chúng sanh, coi chúng sanh như Phật. Như chư Bồ-tát tuỳ nhân duyên hành bố thí”. Cũng như Bồ-tát chứng đắc thật tướng các pháp, không còn tướng chúng sanh, không phân

* Trang 127 *
device

biệt thiện ác, tâm từ trí huệ đầy đủ, tùy duyên bố thí. Khi bố thí cho kẻ lang thang vô đức, không chỉ có tâm từ bi lớn mà còn xem họ như Phật, tâm cung kính, tâm từ bi để cúng dường, từ bi trí huệ đầy đủ vô ngại, như vậy phước đức tăng gấp bội!
7. Số lượng, phẩm chất, tâm thường xuyên
Số lần hay số lượng hành thiện, tạo ác có sự quan hệ mật thiết với quả báo.
Mọi người thường nghĩ, bố thí nhiều thì phước đức càng lớn. Chúng ta không chỉ nhìn vào “số lượng”, còn “chất lượng” tốt xấu cũng phải chú ý. Cũng như chẳng thà cho một trái táo tươi còn hơn dâng thùng chuối rữa.
“Số lượng” hoặc “tâm thường xuyên” cũng không kém phần quan trọng, có người bố thí rất hào phóng, nhưng chỉ một lần. Có người bố thí vật phẩm tuy không nhiều nhưng nhiều lần, tâm bố thí liên tục thường xuyên không ngừng, cũng như khi chúng ta niệm Phật, ngày ngày luôn nhất tâm niệm Phật, lâu ngày sẽ thấy được công phu.
Có người khởi phiền não một cách mãnh liệt, nhưng lại rất mau tiêu diệt; có người khởi phiền não không mạnh, nhưng

* Trang 128 *
device

miên mật, thường xuyên không dứt. Trường hợp này là việc ác lớn không phạm, việc ác nhỏ không đoạn, đây cũng chướng ngại cho việc tu hành.
Lúc Phật còn tại thế, người trộm cắp 5 tiền là phạm tội chết, nhân đó mà Phật chế giới luật: “trộm 5 tiền là phạm tội Ba-la-di, không thể hối cải, phải trục xuất khỏi Tăng đoàn; trộm dưới 5 tiền có thể sám hối.” Có vị Tỳ-kheo nghĩ: “nếu một lần trộm đúng 5 tiền, phạm tội Ba-la-di, phải trục xuất khỏi Tăng đoàn, không giống như phân ra năm lần trộm, một lần trộm 1 tiền”. Phật hỏi: “Lúc trộm cắp có sanh tâm liên tục không? Nếu có thì cũng phạm tội Ba-la-di; nếu không thì tội nhẹ hơn”.
Từ đây ta có thể nghĩ: trừ số lượng, giá trị vật phẩm ra, số lượt nhiều ít, có thường xuyên hay không, thì quả báo cũng có ảnh hưởng rất quan trọng, đặc biệt đáng được lưu tâm!
Nói đến “số lượng”, ngoài “số lượng vật phẩm” ra “tâm lượng” cùng nghiệp báo cũng có liên quan. Như có cô gái nghèo, dùng sức lực làm việc của mình, để đổi lấy cây đèn dầu nhỏ đốt cúng dường Phật, bên cạnh đó có những người giàu cũng đốt đèn cúng Phật nhưng chỉ có ngọn đèn của cô

* Trang 129 *
device

gái nghèo đó vẫn sáng.[1] Từ đây ta có thể nói, tuy lượng dầu trong đèn rất ít nhưng tâm của cô gái nghèo so với những người giàu rất lớn, nên quả báo nhận được cũng lớn.
8. Thiện hành hoặc ác hành thọ dụng, không thọ dụng tạo ra ảnh hưởng của quả báo  
Chúng ta hành thiện mà đối phương có thọ nhận hay không, thì cũng liên quan đến quả báo. Trong “Trung Luận” Bồ-tát Long Thọ nói rằng: “Từ dụng sanh phước đức, tội sanh cũng như vậy[2]. Có nghĩa là: thiện nghiệp, ác nghiệp mỗi thứ đều có hai loại: một là nghiệp đã thành khi tạo, hai là nghiệp khởi lên khi thọ dụng. Như anh A bố thí cho anh B phẩm vật, ngay lúc đó, anh A tạo được một thiện nghiệp; sau đó anh B sử dụng vật này, thì anh A lại được một lần thiện nghiệp nữa. Luận sư Thanh Mục đem “ví dụ bắn cung” để


[1] “Kinh hiền Ngu” quyển 3, “Bần Nữ Nan Đà phẩm thứ 20” Đại Chánh tập 4, trang 370c~371c.
[2] “Trung Luận” quyển 3, “phẩm thứ 17 Quán Nghiệp” Đại Chánh tập 30, trang 21c15; Pháp Sư Ấn Thuận “Trung Quán Luận Tụng Giảng Ký” trang 276; “Cam Lồ Vị Luận” quyển thượng, Đại Chánh tập 28, trang 966a27~29; “Câu Xá Luận” quyển 18 “phẩm thứ 4 Phân Biệt Nghiệp”, Đại Chánh tập 29, trang 97a16~b6; “Ưu Bà Tắc Giới Kinh” quyển 5, Đại Chánh tập 2, trang 109a8~11.

* Trang 130 *
device

nói: người bắn cung khi bắn mũi tên ra là đã tạo ác nghiệp, bắn chết đối phương, thì người bắn cung đó chịu một ác nghiệp nữa; nếu bắn không bị chết, thì chỉ có tội bắn, không có tội sát hại.
Bởi vậy, đối với việc bố thí, trừ giá trị bản chất của vật phẩm ra, người nhận đồ vật, sử dụng được hay không cũng quan trọng. Ví như ở giữa mùa hè nóng bức, có người đem áo ấm cho người khác, không phải không có giá trị, người kia nóng bức chịu không được rồi, thì đem cho áo ấm làm chi? Cũng như đem đồ chơi điện tử cho người xuất gia vốn sống thanh đạm ít ham muốn, thì những thứ đó đối với người xuất gia có hữu dụng gì?
Có người kiên quyết muốn cho mình đồ vật, nhưng mình dùng không đến, đem cho người khác, khiến người cho không vui. Cho nên khi mình bố thí, phải vận dụng trí huệ, suy nghĩ đồ vật mình cho với người nhận có hữu dụng không?
Ngoài ra, hành vi của chúng ta cũng ảnh hưởng đến đối phương, cũng chi phối nghiệp báo nặng nhẹ. Ví như, trộm đồ của người giàu thì ảnh hưởng của sự mất mát không đáng giá;

* Trang 131 *
device

ngược lại, trộm của người nghèo thì ảnh hưởng của sự mất mát này rất lớn, cuộc sống của họ có thể không còn gì để sống. Hoặc là khi giết một người, không chỉ một người chết mà con cái, người thân hoặc người khác cũng bị ảnh hưởng. Nếu như sát hại một nhà từ thiện lớn, thì người được sự giúp đỡ của người này, bị ảnh hưởng rất nhiều.
Hành vi ảnh hưởng đối với “xã hội quần chúng” cũng rất quan trọng. Có người sáng tạo làm ra vũ khí có thể giết hại hàng loạt; hoặc khởi lên hành vi trái với phong tục hiền lương, khiến mọi người tranh nhau bắt chước, tạo thành một cảnh tượng không tốt trong xã hội. Lại như có những người xuất gia, oai nghi không có, làm người khác sanh tâm chê bai, gây ảnh hưởng tới việc đánh giá phê bình hình tượng thanh tịnh của Tăng đoàn.
9. Tánh tội, giá tội
Tánh tội là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, chủ yếu là những tội thuộc về “phạm quy đạo đức”. Đây là lập trường của nghiệp đạo thiện hay ác, bất kể thọ giới hay không thọ giới, bất luận tại gia hay xuất gia, nam nữ già trẻ, phạm điều này đều là tội ác, phải thọ quả báo.

* Trang 132 *
device

Giá tội vốn không nhất định có tội, nhưng có thể làm chướng ngại cho việc tu hành, như uống rượu, hoặc qui phạm nội quy của Tăng đoàn, như việc ăn mặc, đi đứng.
Theo quan điểm nghiệp báo thì phạm tánh tội nghiêm trọng hơn giá tội.
10. Sám hối
Sau khi tạo ác nghiệp, khiến ý nghĩ về nghiệp ác khởi ra liên tục, hoặc là lập tức sám hối, quả báo này cũng có ảnh hưởng lớn. Có người phạm tội rồi trốn đông trốn tây; có người lập tức ra đầu thú, thành thật hối lỗi. Cũng như đồ bị hôi, càng gói kín lại thì lâu ngày càng hôi thối. Ngược lại, nếu đem đi rửa, phơi nắng, thì sẽ khô sạch không còn mùi. Vậy phát lồ sám hối thì tội ác tiêu, tâm hướng thiện nhanh.
Cũng là việc sám hối, nhưng có thành tâm hay không, hay là chỉ làm theo hình thức, có quyết tâm phát nguyện từ nay về sau không phạm tội trọng không? Hiệu quả này cũng không giống nhau.
Trong Kinh thường đưa ra 3 phương pháp sám hối: tác pháp sám, thủ tướng sám và vô sanh sám.
A. Tác pháp sám

* Trang 133 *
device

Căn cứ theo giới luật Phật quy định, tự phát lồ sám hối tội lỗi của mình, gọi là “tác pháp sám”. Như Tỳ-kheo phạm tội nhẹ, nên hướng trước một vị Tỳ-kheo khác sám hối; tội nặng hơn thì hướng trước ba vị Tỳ-kheo, cho đến hai mươi vị Tỳ-kheo thanh tịnh để phát lồ sám hối. Sau khi làm pháp sám hối xong, người đó được thân tâm thanh tịnh, và người khác không được nhắc lại lỗi lầm này, nếu ai nhắc thì phạm giới. Làm được như vậy thì Tăng đoàn sẽ hoà hợp hết sức lý tưởng!
Tuy nói tác pháp sám có thể được thanh tịnh, nhưng trong “Đại Trí Độ Luận” có một đoạn cần lưu ý: “Tỳ-kheo giết súc sanh, tuy đã khắc phục sám hối, nhưng tội báo vẫn không tiêu trừ”[1]. Đối với giới luật Tỳ-kheo, cố ý giết người phải trục xuất ra khỏi Tăng đoàn; giết súc sanh tuy không nghiêm trọng như giết người, nếu hành tác pháp sám hối thì vẫn còn thân phận của vị Tỳ-kheo, vẫn có thể ở trong Tăng đoàn; nhưng theo quan niệm nghiệp báo, tội giết hại chúng sanh, đời sau vẫn phải thọ quả báo.
B. Thủ tướng sám



[1] “Đại Trí Độ Luận” quyển 46, Đại Chánh tập 25, trang 395c.

* Trang 134 *
device

Ngày đêm đối trước Phật tụng Kinh, thành kính lễ bái sám hối, đến lúc thấy Phật phóng hào quang, hoặc mộng thấy Phật, thấy tướng tốt của Phật, tức được thanh tịnh. Có những tội nặng, nhưng trong thời mạt pháp tìm ra hai mươi vị Tỳ-kheo thanh tịnh không đơn giản. Do nhân duyên không đầy đủ đó, đành phải trước Phật thực hiện thủ tướng sám hối. Phương pháp này tương ưng với thiền định, thật không dễ làm được.
C. Vô sanh sám
“Vô sanh sám” người đạt đến mức thể hội được các pháp vô sanh vô diệt, hiểu được bản chất Không của tâm tánh, tội phước không có hình tướng, tất cả pháp đều Không tịch vắng lặng, cho đến tánh tội, thì tội nặng nhưng thọ báo nhẹ, thậm chí tội không hiện hành. Ở đây nói “Không” không phải là không có nghiệp báo, mà từ nghiệp sanh ra quả báo là pháp tùy thuộc vào nhân duyên sanh, các pháp từ nhân duyên sanh, các pháp từ nhân duyên diệt. Sau khi phạm tội rồi mới ăn năn hối lỗi thì chẳng có ích lợi, sám hối thống thiết thành khẩn, tinh tấn tu hành, thể ngộ vô ngã tánh Không mới là quan trọng.

* Trang 135 *
device

Ba phương pháp sám hối nói trên, trong đó “tác pháp sám” liên quan với “giới luật”; “thủ tướng sám” liên quan với “thiền định”; “vô pháp sám” liên quan với “trí huệ”.
Vậy ta có thể nói, chẳng phải sám hối là ác báo nhất định không hiện ra, phải xem tội phạm thuộc về tánh tội hay giá tội; sám hối hình thức, hay chân thành; dùng phương pháp nào sám hối, tác pháp sám, thủ tướng sám hay vô sanh sám; có liên quan với giới, định, huệ không, hiệu quả của những phương pháp này có sự khác nhau rất lớn.
XI. Kết luận
Yếu tố gây ra nghiệp báo rất nhiều, trong đó tâm niệm là một trong những yếu tố quan trọng và phức tạp nhất.
Đối với việc bố thí, thường nghĩ đến: nếu gieo trồng “ruộng phước” nhiều thì phước đức càng dày. Nhưng trừ “ruộng phước” ra sự quan trọng là “tâm niệm”! Sự khác biệt của tâm niệm có lúc vượt qua cả sự lớn nhỏ của phước điền. Ở đây nêu ra ví dụ để thấy rõ hơn, một ngày nọ Ngài Xá-lợi-phất bưng cơm cúng dường Đức Phật, Đức Phật đem một phần cho chó ăn, Phật hỏi Xá-lợi-phất rằng: “Công đức cúng cơm cho Phật lớn, hay công đức ta đem cơm cho con

* Trang 136 *
device

chó lớn?” Xá-lợi-phất trả lời: “Căn cứ theo sự hiểu biết của đệ tử, thì công đức Phật bố thí cơm cho chó lớn”. Đức Phật nói: “Ông nói đúng”[1]!
Do vậy, “phước điền” chỉ là một nhân tố mà thôi, nhưng yếu tố ảnh hưởng để tạo ra nghiệp báo rất nhiều, như bố thí thì phải có: phẩm chất số lượng của vật thí; phương thức bố thí, người thọ bố thí có ích lợi hay không v.v... điều quan trọng vẫn là “tâm niệm” bố thí. Nếu với niệm thiện thanh tịnh, phát tâm không cầu trả ơn, ấp ủ lòng từ bi, thái độ khiêm tốn, cúng kính mà bố thí, hơn nữa sau khi bố thí không sanh tâm hối hận, khiến niệm thiện và tâm hoan hỷ liên tục tăng trưởng, bố thí liên tục không gián đoạn, thì phước đức bố thí tăng trưởng rộng rãi không ngừng. Tiến thêm bước nữa, lúc bố thí, không những xả bỏ tài vật, lại có thể xả bỏ phiền não tâm tham, thâm nhập trí huệ vô ngã, chuyển hữu lậu thành vô lậu, chuyển hữu tướng của phước đức hồi hướng vô thượng Bồ-đề, hồi hướng cho tất cả chúng sanh, ở đây có liên quan với “Tâm” mà cũng gọi là “khéo léo vận dụng, ở cái tâm này”!



[1] “Đại Trí Độ Luận” quyển 32, Đại Chánh 25, trang 301b2~12.

* Trang 137 *
device

 
Phước Huệ Tập 1