LOGO VNBET
VÌ SAO BỒ-TÁT TRONG VÔ LƯỢNG KIẾP QUA LẠI TRONG ĐƯỜNG SANH TỬ TU HỌC ĐẠI THỪA
 
I. Tam thừa đều nhập vô dư Niết-bàn, Bồ-tát sao phải cần khổ tu học Thập địa, không như Nhị thừa sớm chứng giải thoát?
“Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận” nói Thanh văn, Duyên giác và Phật ba thừa Thánh giả này đều có thể đoạn tận phiền não, cũng đắc vô dư Niết-bàn; đã là không có khác nhau, vậy thì Bồ-tát hà tất phải trong hằng sa đại kiếp qua lại trong đường sanh tử tu học Đại thừa?
Như “Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận” quyển 1 nói: “Hỏi: Tam thừa tu học đều vì vô dư Niết-bàn, nếu vô dư Niết-bàn không có gì khác nhau, ta và mọi người tại sao phải mất số đại kiếp nhiều như cát sông Hằng qua lại trong đường sanh tử đầy đủ Thập địa, không như Thanh văn, Bích Chi Phật thừa sớm diệt các khổ?”[1]
 Trong “Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận” nói “Tam thừa tu học


[1] Đại Chánh tập 26, trang 20b15~19.

* Trang 231 *
device

đều vì vô dư Niết-bàn”, theo “Kinh Bát Nhã” cũng vậy: “Ba thừa đều nhập vô dư Niết-bàn”; nhưng cũng có Kinh Luận nói: “Bồ-tát không trụ ở Niết-bàn”; liên quan đến vấn đề này, các bộ Kinh Luận có những cách nói khác nhau. Ở “Kinh Bát Nhã” và Bồ-tát Long Thọ trên cơ bản là chủ trương “Ba thừa đều nhập vô dư Niết-bàn”.
Liên quan đến “nhập vô dư Niết-bàn”, trong Kinh Luận thường thấy ví dụ: nhập vô Niết-bàn, giống như nước ở các sông ngòi chảy vào biển lớn đều đồng một vị mặn.[1] Căn cứ


[1] 1. Pháp sư Ấn Thuận “Học Phật Tam Yếu” bài ‘Phật giáo chi Niết-bàn quán’ trang 123: Đã đắc được Niết bàn, như cục đá lạnh nhỏ lớn bỏ vào biển lớn sao còn có thể phân biệt gì! Đến bờ Niết-bàn, tất đồng một vị, bình đẳng bình đẳng. Trong Kinh nói: “Diệt là không thể lường”. Niết-bàn (diệt) không có phân lường, không có thời gian và không gian để phân lường so sánh. Trong bình đẳng pháp tánh hải như thế, không thể phân biệt, không thể dùng các việc trong đời để so sánh: như phân biệt từng chủng loại, nặng nhẹ, dài ngắn.
2. Pháp sư Ấn Thuận “Ấn Độ Phật Giáo Tư Tưởng Sử” trang 96: Niết-bàn là siêu vượt bình thường, không có chủ thể và đối tượng, không có tướng trạng thời gian và không gian, không có số lượng hay đây kia (gần với kinh nghiệm siêu việt), không thể lấy tâm tư ngôn ngữ biểu thị. … Từ Niết-bàn, chân như, pháp giới v.v tức là tất cả mà vượt qua tất cả, không có sự khác nhau để diễn đạt, do đó nói “pháp môn không hai”, “nhất chơn pháp giới”. … Lấy ví dụ: “muôn ngàn sông suối, đều có tên riêng, cuối cùng chảy về biển lớn, đều cùng một vị mặn.” “Kinh Tu Chân Thiên Tử” quyển 4, Đại Chánh tập 15, trang 111a; “như thân có các loại màu sắc, nhưng khi đến bên núi chúa Tu di, đều đồng một màu.” Ma-ha Bát nhã ba la mật kinh” quyển 21, Đại Chánh tập 8, trang 369c.
 

* Trang 232 *
device

vào ví dụ nhập Niết-bàn như thế, thì Niết-bàn là tâm ý hành động đều diệt, ngôn ngữ đều dứt, không còn có thể phân biệt ai Niết-bàn cao, ai Niết-bàn thấp nữa.
Từ Nguyên thủy Phật giáo đến nay, Kinh điển giải thích Niết-bàn, đại bộ phận đều dùng từ phủ định như: “không đến, không đi, không có, không vô, không sanh, không diệt” v.v.., dùng phương thức vẽ áng mây hồng trước mặt trăng để biểu đạt “Niết-bàn”, mà không trực tiếp nói Niết-bàn là như thế nào. Nếu tích cực biểu hiện, chúng sanh rất dễ sanh chấp trước, lại tưởng tượng Niết-bàn cuối cùng là cái gì. Vì vậy thường nói, Niết-bàn đã là không thể nghĩ, không thể bàn, thì tưởng tượng không ra, không thể dùng ngôn ngữ biểu đạt. Niết-bàn có đặc tính như vậy, nên không luận là Thanh văn, Duyên giác, Phật, đều nhập vô dư Niết-bàn, thì không có cách nào so sánh được, không có sự khác nhau cao thấp. Nếu nhất định muốn nói Thanh văn, Duyên giác, Phật có sự khác nhau, thông thường hay dẫn ngữ từ khác đến để biểu đạt, một là “Niết-bàn”, đây là từ chung của Tam thừa, ngoài ra “vô thượng bồ-đề”, là từ dùng

* Trang 233 *
device

riêng cho Đại thừa. Đã là vô dư Niết-bàn thì bản thân nó là không có sự khác nhau.
Vì vậy có người hỏi: Nếu như vô dư Niết-bàn không có sự khác nhau, chúng ta mất số đại kiếp nhiều như số cát sông Hằng để qua lại trong đường sanh tử? Một đại kiếp đã đủ dài rồi, nếu như đại kiếp nhiều như số cát sông Hằng, thì càng nhiều nữa! Nếu qua lại đường trong sanh tử nhiều như vậy, tu học Bồ-tát thập địa[1], thì quá cực khổ, quá khó rồi, không như Thanh văn, Bích chi Phật thừa mau diệt các khổ, sớm được giải thoát!
2. Tất cả Thanh văn, Bích chi Phật đều từ Phật mà có, nếu không có chư Phật thì từ đâu có?
“Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận” nói tiếp:
 “Đáp: là lời nói nhu nhược, chẳng phải lời có ích cho đại bi. Nếu như các vị Bồ-tát học theo đó, không có ý nguyện từ bi, không tinh cần tu Thập địa, thì hàng Thanh


[1] “Kinh Hoa Nghiêm” Bồ tát thập địa: Hoan hỷ địa, Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm hụê địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện hụê địa, Pháp vân địa.

* Trang 234 *
device

văn, Bích chi Phật từ đâu để được hóa độ, cũng không  có được sự khác nhau của ba thừa. Tại vì sao vậy? Tất cả Thanh văn và Bích chi Phật đều từ Phật mà có, nếu không có Phật, thì họ từ đâu mà có? Nếu không tu Thập địa, làm sao có chư Phật? Nếu không có chư Phật, thì không có Pháp và Tăng. Vì thế lời nói đó, làm đoạn mất hạt giống Tam bảo, chẳng phải lời nói của người có trí tuệ, không cần nghe và suy nghĩ. Tại sao như vậy? Trong đời có bốn hạng người: Một là tự lợi, hai là lợi tha, ba là tự lợi lợi tha, bốn là không tự lợi lợi tha. Trong đó tự lợi lợi tha là thực hiện từ bi lợi ích cho tha nhân, gọi là hàng thượng nhân.… Như vậy giải thoát phiền não giữa Thanh văn, Bích chi Phật và Phật tuy không có gì khác nhau, song hóa độ vô lượng chúng sanh, trú trong sanh tử lâu dài, đạt được nhiều lợi ích, đầy đủ Bồ-tát Thập địa, thì điều này có khác nhau lớn”.[1]
Bồ-tát Long Thọ trả lời rất nghiêm túc: “Là lời nói nhu nhược, chẳng phải lời có ích cho đại bi”. Nếu như chư Bồ-tát đều phát tâm Tiểu thừa giống như thế, không có ý chí


[1] Đại Chánh tập 26, p.20b19~c23.

* Trang 235 *
device

từ bi, không thể tinh cần tu học Bồ-tát Thập địa, vậy thì Thanh văn, Bích chi Phật làm sao có thể được độ? Nếu như mọi người đều giống thế, chánh pháp từ đâu mà nghe? Mọi người chỉ cầu khai ngộ, thì ai hoằng pháp? Nếu như mọi người chỉ lo cho riêng mình, vậy thì Phật pháp làm sao có thể lâu dài?
Bồ-tát Long Thọ nói: “Tất cả Thanh văn và Bích chi Phật đều từ Phật mà có, nếu không có Phật, thì họ từ đâu mà có?”
Thanh văn là nghe âm thanh ngộ đạo; Bích chi Phật tuy nói khi không có Phật không thầy tự ngộ, nhưng thông thường: khi Phật ở đời họ đã trồng nhân duyên được độ, nhưng lúc đó chưa được giải thoát, cách mấy đời sau mới được giải thoát, khi Phật không có ra đời, thì họ là Bích chi Phật. Vì vậy trên căn bản Bích chi Phật cũng là từ nơi Bồ-tát trồng xuống nhân duyên mà được độ. Thích Ca Mâu Ni Phật dưới cội Bồ-đề không thầy tự ngộ, nói nghiêm túc thì đó là căn tánh Độc giác, nếu như xem bổn sanh của Đức Thế tôn, như được Phật Nhiên Đăng thọ ký v.v… ít nhiều cũng có thể thấy Đức Thế tôn cũng từ Phật, Bồ-tát ở đời trước đã trồng

* Trang 236 *
device

xuống nhân duyên được độ.
Từ ý nghĩa này lại nói, là cần có người  phát nguyện xả bỏ thân mình vì hoằng dương Phật pháp; nếu như mỗi người chỉ lo cho mình, không có ý nguyện từ bi độ chúng sanh, vậy mọi người làm sao có thể được độ? Giả sử không có cách nào nghe Phật pháp, không thể hiểu đạo giải thoát, đương nhiên là không có Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, thì không có sự khác nhau của ba thừa.
Bồ-tát là phát tâm bồ-đề, từ từ tu học Thập địa thành Phật. Nếu như không có Bồ-tát tu học Thập địa, đương nhiên là không có Phật rồi! Nếu như không có “Phật”, đương nhiên cũng không có ai thể ngộ vô thượng diệu pháp, càng không có ai tổ chức “Tăng đoàn”! Vì vậy không có Phật, cũng là không có Pháp, không có Tăng, vậy là không có Tam bảo rồi. Nhân đây Bồ-tát Long Thọ nói: “Vì thế lời nói của ông, làm đoạn mất chủng tử Tam bảo, chẳng phải lời nói của người có trí tuệ, không cần nghe và suy nghĩ.” Câu nói này đầy sự nghiêm khắc. Ý nghĩa là: nếu như theo cách nói của ông, mọi người đều giống như thế không phát tâm bồ-đề, thì sự truyền thừa Phật pháp đoạn tuyệt, phần đông chúng sanh

* Trang 237 *
device

trong luân hồi phải nên làm thế nào?
III. Từ trí huệ, từ bi nguyện lực, đoạn tập khí và công đức đầy đủ để xem sự khác nhau của Nhị thừa, Đại thừa
Thanh văn, Bích chi Phật và Phật, tuy “đoạn phiền não, đạt được giải thoát” không có gì khác, nhưng đứng ở những góc độ khác, thì vẫn có điểm không đồng.
1. Trí huệ: Tam thừa Thánh giả đều đoạn ngã chấp, chứng đắc “ngã không”, “bát nhã huệ” không khác bao nhiêu; song “phương tiện huệ” để độ hóa chúng sanh, đương nhiên là Bồ-tát thiện xảo hơn; vì Nhị thừa chú trọng ở giải thoát “cộng tướng”, mà Bồ-tát thâm nhập hiểu rõ “cộng tướng” ra, và nhân vì độ chúng sanh không đồng, tất phải đối với thiện xảo ứng dụng “biệt tướng” (tự tướng) phương tiện nhiều hơn.
2. Từ bi nguyện lực tuy A-la-hán sau khi chứng ngộ tùy duyên hóa độ chúng sanh, nhưng vì A-la-hán phiền não trong ba cõi đều đoạn tận, một khi nhập diệt thì không muốn trở lại đây thọ sanh nữa, dù họ rất tích

* Trang 238 *
device

cực độ chúng sanh, nhiều lắm cũng chỉ một đời. Còn Bồ-tát phát nguyện đối với vô lượng kiếp ở trong sanh tử, lấy tâm đại bi độ vô lượng chúng sanh, thời gian đặc biệt dài, số lượng độ hóa chúng sanh cũng rất nhiều.
3. Đoạn phiền não, tập khí: Thanh văn, Duyên giác tu đoạn tận “phiền não”, nhưng tập khí chưa trừ [1]; Phật không chỉ đoạn tận tất cả phiền não, mà còn đoạn tận tất cả tập khí.
4. Đầy đủ công đức: Phật đầy đủ công đức thập lực[2], tứ


[1] “Đại Tỳ Bà Luận” quyển 16, Đại Chánh tập 27, trang 77a24~b4; “Đại Trí Độ Luận” quyển 27, Đại Chánh tập 25, trang 260c2~c25.
[2] Thập lực: 1. Xứ phi xứ trí lực, 2. Nghiệp dị thục trí lực, 3. Tịnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí trí lực, 4. Căn thắng liệt trí lực, 5. Chủng chủng thắng giải trí lực, 6. Chủng chủng giới trí lực, 7. Biến thú hành trí lực, 8. Túc trụ tùy niệm trí lực, 9. Sanh tử trí lực, 10. Lậu tận trí lực. Xem “Kinh Đại Bát Nhã” quyển 24 ‘Phẩm Tứ Nhiếp Thứ 78’ Đại Chánh tập 8, trang 395a10~18; “Đại Trí Độ Luận” quyển 24 Đại Chánh tập 25, trang 235c22~241b; “Đại Trí Độ Luận” quyển 25 Đại Chánh tập 25, trang 245c6~246a13; Pháp sư Ấn Thuận trước tác “Con Đường Thành Phật (bản thêm phần chú thích)” trang 421.

* Trang 239 *
device

vô sở úy[1], thập bát bất cộng pháp[2], đại từ đại bi v.v…, đây là hàng Nhị thừa không có.
Tóm lại, rất nhiều người đề ra vấn đề này “cũng đồng là xuất tam giới đắc giải thoát, Bồ-tát hà tất phải cực khổ vô lượng kiếp lại tu học pháp Đại thừa”, chúng ta từ trong lời đáp án của Bồ-tát Long Thọ, có thể hiểu được tâm từ bi của Ngài, đã vì “không đành nhìn Thánh giáo suy, không nỡ thấy chúng sanh khổ”, mọi người cùng phát đại tâm!




[1] Tứ vô sở úy: 1. Thuyết nhất thiết trí vô sở úy, 2. Thuyết lậu tận vô sở úy, 3. Thuyết tậc khổ đạo vô sở úy, 4. Thuyết chướng đạo vô sở úy.
[2] Thập bát bất cộng pháp: 1. Thân vô thất, 2. Ngữ vô thất, 3. Niệm vô thất, 4. Vô dị tưởng, 5. Vô bất định tâm, 6. Vô bất trí dĩ trí, 7. Dục vô diệt, 8. Tinh tấn vô diệt, 9. Niệm vô diệt, 10. Huệ vô diệt, 11. Giải thoát vô diệt, 12. Giải thoát tri kiến vô diệt, 13. Trí tri quá khứ vô trước vô ngại, 14. Trí tri vị lai vô trước vô ngại, 15. Trí tri hiện tại vô trước vô ngại, 16. Thân nghiệp tùy trí huệ hành, 17. Ngữ nghiệp tùy trí huệ hành, 18. Ý nghiệp tùy trí huệ hành. Xem “Đại Trí Độ Luận” quyển 26, Đại Chánh tập 25, trang 247b~255b25; Pháp sư Ấn Thuận trước tác “Con Đường Thành Phật (bản thêm phần chú thích)” trang 422.

* Trang 240 *
device

 
Phước Huệ Tập 1