LOGO VNBET
KINH
BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG
 
 
TỰA
 
Trong bao nhiêu kinh sách đạo Phật, mỗi bộ là một kho tàng chứa pháp môn vô thượng để đối trị những căn bệnh, tham ái, tình chấp, vọng kiến của chúng sanh, với chủ ý đưa chúng sanh tiến dần đến chỗ cứu kính an vui chư Phật.
Cuốn kinh nhỏ này là phương châm đầu tiên để bước dần trên đường tiến triển ấy, cũng là kinh nhựt tụng của bất kỳ người nào...mặc dầu những đoạn văn nhiều khi không liên lạc, nhưng mỗi câu chất chứa biết bao là tư tưởng cao đẹp thâm huyền. Hãy đọc lên những khi tâm hồn đen tối, cùng trong lúc trí lự an nhàn để lắng nghe lời vàng của Phật dạy mà tìm rõ lối đi hợp lý có ích cho tư tưởng, nói năng và hành động noi theo. Hãy bình tĩnh tha thiết mà đọc lên, chúng ta cảm thấy mình
 

* Trang 5 *
device

cũng suy nghĩ, cũng xúc động như đấng Từ bi và bao nhiêu nỗi khổ bởi tội lỗi ô nhiễm sẽ biến mất, nhường chỗ cho an vui, thanh tịnh.
          Kinh này là một kinh được dịch ra Hán văn đầu tiên khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, và sau này người ta đã tiếp tục dịch ra nhiều thứ tiếng bằng Pháp văn, Việt văn v.v... Nay nhân dịp kỷ niệm Đản sanh của Đức Thích Tôn, muốn lưu truyền pháp bảo để báo thâm ân của đấng Từ phụ. Khuôn Tịnh độ An lạc thuộc tỉnh hội Phật học Thừa Thiên phát tâm xuất bản và ấn tống theo bản dịch sau. Bản dịch này do đối chiếu giữa hai bản dịch Hán, Pháp văn và phương tiện sắp lại chương thứ theo từng loại, chia làm năm đoạn để độc giả dễ lãnh ý trong khi đọc.
          Việc lưu truyền Pháp là một việc rất thích ứng được với mục đích của hàng Phật tử chân chánh, nên tôi một lòng tán thán và có mấy dòng này để gọi là tùy hỷ công đức.
                                                                   Kỷ niệm Phật đản 8-4-2513
                                                                       THÍCH THIỆN SIÊU

* Trang 6 *
device

KINH
BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG
 
Khi Đức Thế Tôn thành đạo rồi, liền suy nghĩ: “Xa lìa ham muốn, được cảnh tịch tịnh là hơn cả”. Ngài an trụ trong đại Thiền định, hàng phục chúng ma vương, sau đến vườn Lộc, nói pháp Tứ đế, độ năm ông Tỳ-kheo là nhóm A-nhã-kiều-trần-như, họ đều chứng đạo quả. Có những Tỳ-kheo xin Phật chỉ bày các đều nghi, Phật dạy cho, tất cả đều khai ngộ, chấp tay cung kính ngeh Phật dạy:
 
I. CUỘC ĐỜI VÔ THƯỜNG
         Cái Ta – 1. Phật dạy:
Tứ đại hợp lại làm thân, mỗi đại có một tên riêng lấy cái gì gọi là cái Ta. Cái Ta không ở trong một vật sẽ chết, đã không có Ta thì thân này là vật đã đổi.
 
          Đời người – 2. Phật dạy:
Phật hỏi Thầy Sa-môn:
 

* Trang 7 *
device

  • Đời người dài đặng bao lâu?
  • Thưa Thế Tôn: “Chỉ trong vài ngày”.
Phật dạy: Thầy chưa thấu đạo.
Lại hỏi một Thầy Sa-môn khác.
  • Đời người dài đặng bao lâu?
  • Thưa Thế Tôn: “Chỉ bằng trong một bữa ăn”.
Phật dạy: Thầy chưa hiểu đạo.
Sau hỏi một Thầy Sa-môn nữa.
  • Đời người dài đặng bao lâu?
  • Thưa Thế Tôn: “Chỉ bằng trong một hơi thở”
Phật dạy: Hay thay! Thầy biết đạo.
 
Đứt lưỡi – 3. Phật dạy:
                   Say đắm tài sắc và cuộc đời như liếm mật dính trên lưỡi dao, chưa ngọt miệng mà đã bị đứt lưỡi; đáng thương sự khờ dại của trẻ thơ, không biết cái họa sẽ đến khi liếm mật dính trên lưỡi dao.
 
Hư danh – 4. Phật dạy:
                   Chúng sanh vì dục vọng mà cầu hư danh, hư danh có rồi thì thân đã già, ham hư danh đến nỗi quên học đạo, thật uổng công cũng như kẻ thắp hương, lúc mùi hương bay ra thì cây hương đã tàn: ấy là lửa cháy sau lưng.

* Trang 8 *
device

Vũ trụ - 5. Phật dạy:
          Xem non sông phải hiểu non sông sẽ biến đổi, ngắm vũ trụ phải hiểu vũ trụ chuyển hóa, vạn vật đều phải thay hình đổi dạng, chẳng có gì là bền; nên xem tính linh giác tức Bồ-đề, nếu thấu đáo như thế phút đắc đạo sẽ đến.
Phật đối cảnh – Phật dạy:
          Ta xem ngôi vương hầu như bụi qua khe cửa, coi vàng ngọc như ngói gạch; coi gấm vóc như giẻ rách; coi cõi Đại thiên như trái ha-lê(1) , coi nước hồ A-nậu(2) như dầu để thoa chân; coi các phương tiện như núi báu vật biến hóa; coi pháp Vô thượng thừa như vàng bạc trong chiêm bao; Ta xem Đạo như hoa nở trước mắt, xem Thiền định như trụ Tu-di, xem Niết-bàn như tỉnh trọn ngày đêm, xem sự thịnh suy như hoa cỏ trong bốn mùa.
 
II.HẠNH CỦA PHẬT TỬ
Làm lành – 7. Phật dạy:
          Chúng sanh có thể làm được mười việc lành và cũng có thể gây nên mười điều ác.
                   Sát hai, trộm cắp, dâm dục là ba tội do thân
 

* Trang 9 *
device

lảm. Nói hai lưỡi, nói hung ác, nói dối trá, nói vu khống là bốn tội do miệng gây ra. Ghen ghét, giận hờn, ngu si là ba tội thuộc về ý. Thuận theo luân lý của đạo là bỏ mười điều ác tức là đã làm được mười việc lành vậy!
 
Sám hối – 8. Phật dạy:
          Chúng sanh làm điều ác mà không biết ăn năn sẽ không tránh được tội báo, cũng như nước chảy về biển càng lâu càng sâu rộng, người nào biết sám hối các tội,nguyện làm lành lánh dữ, tội sẽ mất, ví như người bệnh được thoát mồ hôi dần dần lành bệnh.
 
Ném bụi – 9. Phật dạy:
          Người ác cố hại kẻ hiền cũng như ngửa mặt lên trời mà phun nước miếng, nước không thấu mà liền rơi xuống mặt mình, cũng như kẻ cố ném bụi, bụi ngược gió, bụi không dính ái mà trở lại dính vào thân mình.
 
Bóng theo hình – 10. Phật dạy:
          Có người nghe Ta hành đạo, làm việc nhân từ, cố ý đến mắng Ta. Ta yên lặng để cho kẻ kia hết lời, rồi mới hỏi: “Này con, con đem biếu quà kẻ khác, kẻ ấy không nhận, thì con đem quà về chứ?”

* Trang 10 *
device

- Người ấy đáp: Phải
Ta mới bảo: “Nay con mắng Ta, nay Ta không nhận, vậy con phải nhận lấy mọi tiếng con đã thốt ra, con tự mua lấy khẩu nghiệp, như vang theo tiếng, như bóng theo hình, chúng có rời nhau bao giờ! Ta khuyên con, từ đây về sau nên cẩn trọng trong lúc dùng lời nói.”
 
Bình tĩnh – 11. Phật dạy:
Kẻ ác đến chọc người lành, người lành bình tĩnh không nổi giận, tức nhiên kẻ ác mang lấy điều tàn ác.
 
Giới luật – 12. Phật dạy:
Phật tử tuy ở xa Ta nghìn dặm mà cố giữ giới luật của Ta, quyết sẽ đắc đạo; ở bên cạnh Ta mà phạm giới, người ấy chẳng bao giờ thành đạo cả.
 
Phải tin Phật – 13. Phật dạy:
Phật tử phải tin lời nói của Ta, lời nói của Ta như mật ong, trong và ngoài đều ngon ngọt và lành.
 
Rèm sắt – 14. Phật dạy:
Hãy xem người thợ rèn dùng sắt, bao nhiêu gang bẩn và rét của sắt đều cạo đi rồi mới rèn đồ
 

* Trang 11 *
device

dùng tốt; người học đạo cũng phải bỏ tất cả thói xấu của mình mới có thể trong sạch được.
 
Tám điều khó – 15. Phật dạy:
                   Lìa đường ác để sanh làm người: rất khó; làm người mà được thân đàn ông: rất khó; đàn ông mà căn thân đầy đủ: rất khó; thân và tâm tốt lại ở trong Phật địa: rất khó; gặp Phật mà hiểu đạo: rất khó; biết đạo mà sanh lòng tin Phật: rất khó; có lòng tin Phật mà phát tâm Bồ-đề: rất khó; phát tâm Bồ-đề mà tu đến cảnh “vô tu, vô chứng” khó vậy thay!
 
III.PHẬT TỬ PHẢI XA NỮ SẮC
Chỉ có một – 16. Phật dạy:
          Nữ sắc làm cho người ta say mê và lưu luyến nó, chỉ có nữ sắc là mạnh hơn cả, may thay chỉ có một thứ nữ sắc là nguy hại chứ không có hai, cho nên trong thiên hạ mới còn có người đi học đạo.
 
Bó đuốc – 17. Phật dạy:
          Người mê nữ sắc như cầm đuốc mà đi ngược gió, nhất định phải bị cháy tay.
 
Áo cỏ khô – 18. Phật dạy:
          Người học đạo nên tránh xa tình dục, ví như

* Trang 12 *
device

kẻ mặc áo bằng cỏ khô, phải cố xa lửa mới an thân(3).
 
Lo sợ - 19. Phật dạy:
          Người ta vì lòng ham muốn mà bị khổ, khổ quá rồi đem lòng sợ; nếu không ham muốn, sự lo sợ sẽ biến mất.
 
Lao tù – 20. Phật dạy:
          Người ta bị ràng buộc cảnh vợ con, giàu sang, còn khổ hơn kẻ ở lao tù, vì kẻ ở tù lao còn có ngày được thả, chứ cảnh vợ con, giàu sang không thể rời được. Kẻ phàm phu cam tâm chịu vướng cảnh tầm thường như vấy bùn, như mở miệng cọp mà không biết sợ.
          “La-hán thoát trần” là người vượt khỏi cảnh này.
 
Phụ nữ - 21. Phật dạy:
          Hãy cẩn thận chớ ngắm nữ sắc, đừng nói chuyện với đàn bà. Nếu buộc lòng phải tiếp chuyện hãy chính tự tâm nghĩ: Ta là Sa-môn ở trong đời xấu xa, phải như hoa sen mọc trong bùn. Rồi coi đàn bà già như me ta, đàn bà lớn tuổi như chị ta, thiếu nữ như em gái ta, đứa gái nhỏ như con ta,

* Trang 13 *
device

chớ nên nghĩ bậy, cố gắng để giải thoát cho mình và để cứu khổ cho họ.
 
Khúc gỗ trôi sông – 22. Phật dạy:
          Người học đạo như khúc gỗ trôi sông, không tấp vào bờ, không bị nước xoáy, không bị mục nát, không bị người cướp đoạt, không bị ai uy hiếp, Ta bảo khúc gỗ sẽ trôi đến biển.
          Người học đạo không bị tình dục mê hoặc, không bị đời xoay chiều, tinh tấn trên đường đạo, Ta bảo kẻ ấy sẽ thành đạo.
 
Cái đãy da- 23. Phật dạy:
          Thiên thần sai ngọc nữ đến lung lạc Ta, Ta bảo: “Này cái đãy da chứa đầy đồ nhơ bẩn, đến đây mà làm gì, Ta có dùng đâu, hãy tránh xa và đi đi.” Thiên thần sanh lòng kính Ta, rồi thỉnh Ta nói đạo: Ta dạy dỗ cho, sau chứng được Tu-đà-hoàn quả.
 
Ý của ngươi – 24. Phật dạy:
          Hãy cẩn thận chớ vội tin ý của ngươi, ý của ngươi không thể tin được. Vậy chớ đắm theo sắc dục, sa vào đó tai họa sẽ đến; muốn tin ý của ngươi hãy cố gắng đắc quả A-la-hán.
 
 
 
 

* Trang 14 *
device

Đoạn tâm – 25. Phật dạy:
          Có người sợ tính dâm dục khó trừ, muốn đoạn âm. Phật dạy: đoạn âm sao bằng đoạn tâm, tâm ví như chủ nhà, chủ không cho phép làm, đầy tớ tất phải nghỉ việc. Coi như thế lòng chưa sạch, trí chưa trong, đoạn âm có ích gì?
          Phật giảng bài kệ của cổ Phật Ca-diếp: “Ái dục sanh từ nơi ý, do ý có tư tưởng, nếu ý và tư tưởng đều vắng lặng, lòng ái dục tự nhiên mất.”
 
Nước xao động – 26. Phật dạy:
          Người ta vì ham muốn nên không thấy đạo, ví như nước xao động luôn thì làm sao soi thấy bóng người, chúng sanh vì lòng ham muốn phá rối, tâm hồn trở nên vẩn đục, nên không thấy được đạo của Như Lai; này các Sa-môn, hãy nhổ cho tận gốc lòng tham thì các Thầy sẽ thất đạo.
 
Bò chở nặng – 27. Phật dạy:
          Người học đạo như con bò chở nặng đi qua bùn lầy, nhọc quá không còn để ý đến hai bên vệ đường, khỏi đám bùn rồi mới dám nghỉ chân.
          Các Sa-môn nên coi tình dục còn nguy hiểm hơn đi trên bùn lầy, học đạo các Thầy chỉ nghĩ đến đạo mới thoát vòng khổ não.
 

* Trang 15 *
device

Hai mươi điều khó -28. Phật dạy:
Người ta có hai mươi điều khó làm:
 
Cấm ngăn được lòng dục là khó,
Thấy tốt không mong cầu là khó,
Bị chê bai không giận là khó,
Có uy quyền mà không ỷ là khó,
Gặp việc mà vô tâm là khó,
Dẹp trừ tâm ngã mạn là khó,
Không khing người vô học là khó,
Không nói lời thị phi là khó,
Gặp cảnh mà tâm không động là khó,
Gặp việc mà phải hy sinh đến tính mạng là khó,
Học rộng tầm sâu là khó,
Nghèo mà bố thí được là khó,
Giàu sang mà ham học đạo là khó,
Gặp được thiện tri thức là khó,
Hiểu được phương tiện độ sanh là khó,
Được nghe Phật pháp là khó.
Được sinh thời có Phật ra đời là khó,
Tùy theo người để hóa độ là khó,
Giữ tâm bình đẳng là khó,
Thấy đặng chơn tánh mà học đạo là khó.

* Trang 16 *
device

IV.PHẬT TỬ NÊN HIỂU ĐẠO
 Hành đạo – 29. Phật dạy:
          Học rộng mến đạo, nhưng khó lòng hiểu đạo, bền chí tu hành mới cảm thấy đạo bao la vô cùng.
 
Ánh sáng – 30. Phật dạy:
          Người thấy đạo cũng như cầm đuốc vào nhà tối, bóng tối liền mất mà chỉ còn ánh sáng; người học đạo thấy được chân lý thời vô minh mất, ánh sáng chân lý sẽ chiếu sáng mãi mãi.
 
Chân thiện - 31. Phật dạy:
          Có Thầy Sa-môn bạch Phật: “Như thế nào gọi là thiện? Thế nào gọi là vĩ đại?”  Phật dạy: “Hành đạo đúng chân lý là thiện, chí lớn hòa hợp cùng đạo là vĩ đại.”
 
Chí đạo – 32. Phật dạy:
          Có Thầy Sa-môn bạch Phật: “ Do nhân duyên gì mà biết được kiếp trước, lãnh hội gì mà được chí đạo?” Phật dạy: “Giữ tâm thanh tịnh, giữ chí vững bền thì sẽ lãnh hội chí đạo, ví như lau gương hết bụi ánh sáng sẽ hiện ra.”
 

* Trang 17 *
device

Trừ bỏ tình dục, rửa sạch lòng tham, trí sẽ nhớ lai kiếp trước.
 
Bố thí – 33. Phật dạy:
          Gặp người bố thí mà biết khuyến khích họ tu thời phúc đức lớn. Một Sa-môn bạch Phật: Phúc đức lớn này có ngày hết chăng? Phật dạy: “ Chỉ có một bó đuốc mà trăm ngàn người đến lấy lửa để dùng được mọi việc, nào nấu cơm, nào thắp đèn, mà bó đuốc vẫn sáng có mất đâu? Phúc đức của kẻ khuyến khích người ta tu hành và làm việc bố thí cũng như vậy.”
 
Cúng dường -34. Phật dạy:
          Cho cơm một trăm kẻ ác, không bằng cho cơm một người lành.
          Cho cơm một nghìn người lành không bằng cho cơm một người giữ ngũ giới.
          Cho cơm một vạn người giữ ngũ giới không bằng cúng dường cơm một vị Tu-đả-hoàn.
          Cúng dường cơm cho một muôn Tu-đà-hoàn không bằng cúng dường cơm cho một vị A-na-hàm.
          Cúng dường cơm cho một triệu A-na-hàm không bằng cúng dường cơm cho một bậc A-la-hán.
        

* Trang 18 *
device

Cúng dường cơm cho một triệu A-la-hán không bắng cúng dường cơm cho một đức Bích-chi Phật.
          Cúng dường cơm cho trăm triệu Bích-chi Phật không bằng cúng dường cơm cho một đức Phật trong ba đời.
          Cúng dường cơm cho một đức Phật trong ba đời không bằng sự cúng dường mà tâm không còn niệm cúng dường, trí không trú vào việc cúng dường,  đó là sự cúng dường cao cả hơn.
 
Dũng mãnh và sáng suốt -35. Phật dạy:
                   Có Thầy Sa-môn bạch Phật : “Như thế nào là dũng mãnh? Như thế nào là sáng suốt?”
                   Phật dạy: Nhẫn nhục là dũng mãnh vì không nghĩ ác nên tâm an ổn, thân càng tráng kiện. Nhẫn nhục đươc mọi người tôn trọng, vì kẻ ất không có lòng ác. Thân và tâ đều gột sạch thói xấu, không còn vướng chi cả, như thế gọi là sáng suốt. Từ xưa đến nay trong mười phương chẳng có gì là không thấy, chẳng có gì là không biết, chẳng có gì là không nghe, ấy mới đáng gọi là sáng suốt, ấy là chứng được “Nhất thiết trí” (trí hiểu biết khắp cả).

* Trang 19 *
device

Pháp cứu cánh -36. Phật dạy:
          Pháp của Ta là: Nghĩ không phải nghĩ mới gọi là nghĩ; làm không phải làm mới gọi là làm; nói không phải nói mới gọi là nói; tu không phải tu mới gọi là tu; nếu biết được lẽ ấy thời rất gần với đạo, không hiểu được lẽ ấy thời xa đạo.
          Pháp của Ta không dùng lời mà chỉ được, nên không bị vật gì câu thúc cả, hễ sai một ly là xa vạn dặm, trễ một phút là trải muôn đời.
 
V.HẠNH SA-MÔN
Con trâu kéo xay – 37. Phật dạy:
          Thầy Sa-môn hành đạo đừng như con trân kéo xay, thân tuy làm việc đạo mà tâm không tu hành, tâm không tu, thân cố làm có ích gì?
 
Chiến trường – 38. Phật dạy:
          Người tu hành cũng giống như người ra chiến trường, sau khi mặc áo giáp ra trận, có thể vì hèn nhát mà bỏ trốn đi, có thể chết tại chiến địa, có thể thắng trận trở về rất vinh quang.
          Kẻ Sa-môn học đạo hãy cố gắng bền tâm, hăng hái chống với hòan cảnh xấu xa, mới mong thành đạo được.

* Trang 20 *
device

Dây đàn – 39. Phật dạy:
          Có vị Sa-môn ban đêm tụng kinh tiếng nghe rất bi ai dường như muốn sanh lòng chán sự tu hành. Phật hiể ý mới gọi đến hỏi: “Khi Thầy còn ở nhà làm nghề gì?”
  • Bạch Phật, con học đàn.
Phật dạy: Dây đàn chùng thì sao?
  • Bạch Phật, khảy không thành tiếng.
Phật dạy: Dây đàn căng thì thế nào?
  • Bạch Phật, tiếng đàn rất khó nghe.
Phật dạy: Dây đàn đúng cung thì như thế nào?
  • Bạch Phật, âm thanh hòa đối, tiếng đàn reo lên cùng khắp đều nghe.
Phật dạy: Sa-môn học đạo cũng như gảy đàn, hãy giữ tâm cho quân bình, điều hòa thân thể; nếu hành đạo quá sức thân thể sẽ mệt nhọc, thân thể mệt nhọc thì trí sẽ rối loạn, trí rối loạn thì sự tu hành sẽ trễ nãi; học đạo trễ nãi thì thói xấu tất phải nhiễm, làm sao thấy đạo của Như Lai. Con hãy tập tánh an vui, cố làm việc trong sạch, chắc sẽ thấy đạo rất chóng.
 
Sa-môn – 40. Phật dạy:
Xuống tóc bỏ râu làm Sa-môn học đạo, ruồng bỏ giàu sang để khất thực vừa đủ ăn buổi ngọ, đêm

* Trang 21 *
device

ngủ gốc cây, nay đây mai đó, không còn lưu luyến cảnh cũ vì sự lưu luyến làm cho người ta hóa ra si mê, ngu tối.
 
Đạo- 41. Phật dạy:
                   Xuất gia làm Sa-môn, bỏ lòng ham muốn, rõ gốc tự tâm, hiểu lý cao siêu của đạo, biết pháp vô vi, trong không cố chấp, ngoài không mong cầu, tâm đã an vui không bị ràng buộc vào đạo, cũng không gây thêm nghiệp, không còn mống ý gì, chẳng còn nói phải tu, chẳng còn nói phải chứng, không cầu trải qua các bậc mà tự nhiên được tôn trọng; ấy là đạo.
 
Bốn bậc Thánh -42. Phật dạy:
                   Từ biệt cha mẹ bà con, xuất gia, học đạo, thấy tự tâm, biết bổn tánh, hiểu pháp vô vi, làm Sa-môn giữ 250 giới, đi đứng phải thanh tịnh, thật hành pháp Tứ đế, sẽ đắc các quả:
                   A-la-hán là bậc có thần thông có thể biến hóa, bay trên hư không, sống lâu và có thể làm cho trời đất rung động.
                   A-na-hàm là bậc giác ngộ, sau khi bỏ xác, sanh lên tầng trời thứ mười chín, sẽ đắc quả A-la-hán và không còn xuống cõi trần nữa.
 

* Trang 22 *
device

Tu-đà-hàm là bậc giác ngộ, sau khi bỏ xác, sanh cõi trời nhưng phải một kiếp làm người tu rồi mới đến quả A-la-hán.
                   Tư-đà-hoàn là bậc giác ngộ song phải tu bảy kiếp nữa mới đến quả A-la-hán.
                   Những người đã dứt hết mọi dục vọng như tứ chi bị chặt không còn dùng lại được nữa.
________________
(1) Ha-lê: một giống trái cây rất bé ở Ấn Độ.
(2) A-nậu: hồ ở Hy-mã-lạp-sơn, sông Hằng phát nguồn từ đó, dân Ấn Độ tin tưởng nước sông Hằng rứa sạch tội lỗi.
(3) Tục ngữ: lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.

* Trang 23 *
device

 
Trăng Rọi Rừng Thiền