LOGO VNBET
KHÁI QUÁT VỀ
BỒ-TÁT GIỚI

 
Bồ-tát giới là tên gọi tắt của Đại thừa Bồ-tát tâm địa giới. Danh từ Bồ-tát nói cho đủ là Bồ-đề-tát-đỏa. Từ đó có nghĩa là giác hữu tình. Giác hữu tình là một chúng sanh, một hữu tình đã có sự giác ngộ, đồng thời phát nguyện giác ngộ cho kẻ khác gọi là Bồ-tát.
Cùng một danh từ Bồ-tát nhưng khi phân biệt ra có các cấp:
  • Sơ phát tâm Bồ-tát
  • Gia hạnh Bồ-tát
  • Địa thượng Bồ-tát
  • Địa hậu Bồ-tát
Nay, tôi xin tóm tắt ý nghĩa các cấp nói trên:
Khi một người đạ thọ Bồ-tát giới, thì ngay giờ phút ấy gọi là Sơ phát tâm Bồ-tát. Từ đó, tu tập trải qua các giai đoạn tín, trụ, hạnh, hướng, tôi luyện theo những pháp môn đại thừa mà đức

* Trang 144 *
device

Phật đã chỉ dạy thì gọi là Gia hạnh Bồ-tát. Nhờ sự gia hạnh đó mà vô minh tiêu diệt dần và chân như sẽ được chúng thành, dần dần nhập vào Sơ địa, Nhị địa Tam, Tứ địa cho đến Thập địa. Những vị Bồ-tát ở những địa vị này gọi là Địa thượng Bồ-tát. Các vị ấy sau khi thành tựu Đăng giác, vẫn tùy duyên hóa độ chúng sanh dưới nhiều hình thức, tùy căn cơ và dùng nhiều phương tiện để hóa độ. Tính cách tùy duyên hóa độ không trú Niết-bàn ấy của các vị Bồ-tát là Địa hậu Bồ-tát.
          Vậy cùng một danh từ Bồ-tát mà có Sơ phát tâm, Gia hạnh, Địa thượng, Địa hậu Bồ-tát khác nhau. Hiểu khái quát như thế để chúng ta có một khái niệm rõ rệt, hầu khi phát tâm thì phát tâm một cách sáng suốt.
          Địa vị đã khác nhau như thế, thì tại sao người mới thọ cũng được gọi là Bồ-tát, các vị đã tu lâu như Gia hạnh, Địa thượng, Địa hậu Bồ-tát cũng gọi là Bồ-tát cả? Bởi vì cấp bực tuy khác nhau nhưng cùng có một điểm đồng nhất ấy là Bồ-đề tâm. Khi bắt đầu, phát Bồ-đề tâm là phát tâm thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh (trên cầu giác ngộ, dưới cầu hóa độ chúng sanh). Tâm đó phát ra giờ phút nào thì chính giờ phút đó được gọi là Bồ-tát. Tâm ấy được bền chắc mãi mãi, suốt thời gian không gian không bao giờ lay chuyển

* Trang 145 *
device

cho đến khi trải qua các địa vị Gia hạnh, Địa thượng, Địa hậu...vẫn một tâm Bồ-đề ấy, không khác gì một sợ chỉ xuyên qua các hột chuỗi.
          Nhìn vào địa vị thì chúng ta thấy có Sơ phát tâm Bồ-tát, Gia hạnh Bồ-tát, Địa hậu Bồ-tát khác nhau. Nhưng chúng ta không thể nào sánh bằng đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế Chí và các vị Đại Bồ-tát khác. Chúng ta cũng không thể nào sánh bằng các vị Bồ-tát trên các địa vị tín, trụ, hạnh, hướng và thập địa...nhưng bên trong vẫn là một tâm Bồ-đề xuyên suốt tất cả. Vì tâm Bồ-đề xuyên suốt đó mà tất cả đều được mang danh từ Bồ-tát.
          Đức Bổn Sư Thích-ca của chúng ta, lúc ban sơ cũng là một chúng sanh lăn lộn trong vòng luân hồi sanh tử. Nhưng một hôm, như bao nhiêu chúng sanh khác trong cảnh địa ngục, Ngài cũng phải vất vả kéo xe và còn bị ngục tối hành hạ. Khi ấy, Ngài phát tâm mong sao cho mình được mạnh khỏe mà kéo thay cho tất cả chúng sanh khác, để họ khỏi bị hành hạ. Bắt đầu từ đó Ngài phát tâm lợi tha, lấy tâm ấy làm căn bản rồi tư đây chuyển nghiệp tiến tu cho đến khi thành Phật, tâm Bồ-đề ấy vẫn không đứt đoạn. Cũng vì sự phát tâm ấy là một sự phát tâm rộng lớn, căn cứ vào Đại thừa tánh, cho nên kinh thường tán thán

* Trang 146 *
device

rằng, những người nào phát Bồ-đề tâm tức là đã giác ngộ rồi. Bởi thế sự phát tâm Bồ-đề trở thành Bồ-tát là một điều hết sức quan trọng.
          Khi Đức Phật truyền thọ pháp giới cho hàng Tỳ-kheo và Sa-di là họ đã trở thành người xuất gia với đầy đủ tư cách tự độ lắm rồi. Nhưng đứng về phương diện độ tha, hành đạo rộng rãi nên mới căn cứ vào tâm địa giác mà chế ra Đại thừa giới. Bồ-tát giới, Tâm địa giác là giác tánh có sẵn trong tất cả chúng sanh đồng thời cũng có nơi chư Phật và Bồ-tát. Nhưng ở chúng ta thì không thành tâm địa giác, bởi vì tâm địa giác ở chúng ta thì không được để ý, không được khai thác, không được khuếch trương, không được hiểu biết. Tâm địa giác nơi chúng ta luôn bị vùi lấp dưới hành vi sai quấy, những nghiệp chướng nặng nề, những tâm niệm ích kỷ, nên không thể thành Đại thừa tâm địa giới. Phật thấy chúng sanh đã có tâm địa giác nhưng chưa có tâm địa giới nên mới căn cứ vào tâm địa giác mà chế ra những điều mục tu hành để thành tựu tâm địa giới. Tâm địa giới ấy gọi là Đại thừa Bồ-tát tâm địa giới. Tâm địa chúng ta vốn có khả năng ngăn ngừa tất cả các điều ác nên Phật từ đó chế ra Nhiếp luật nghi giới. Tâm địa chúng ta vốn đủ khả năng làm mọi điều ích lợi, chuyên nghiệp, căn cứ vào đó Phật chế ra Nhiếp thiện Pháp giới. Tâm địa

* Trang 147 *
device

chúng ta vốn là giác tánh bình đẳng, lợi tha hữu tình, từ bi hỷ xả, quảng đại vô biên, Phật căn cứ vào đó chế ra Nhiếp chúng sanh giới.
          Tu tập theo Nhiếp luật nghi giới là ngăn ngừa mọi tội lỗi nơi ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Tu tập theo Nhiếp thiện pháp giới khiến chúng ta làm mọi việc lành, giữ gìn ba nghìn oai nghi, tám vạn tế hạnh hay tám vạn bốn ngàn pháp môn mà đức Phật đã chỉ giáo cho chúng ta tu hành. Nhiếp luật nghi giới là mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh mà kinh Phạm võng đã đề ra. Tám vạn bốn ngàn pháp môn là những pháp môn phụng thờ Tam bảo, thừa sự Như Lai, không phải một hai đức Phật mà vô lượng đức Phật, với một tâm địa Đại thừa quả cảm, dũng mảnh tinh tấn như đức Bổn sư của chúng ta đã có lần vì lòng dũng mảnh phụng thờ Tam bảo mà khi gặp đức Phật Đé-sa-di đi ngang qua, Ngài đã say sưa chiêm ngưỡng đức Phật Đế-sa-di trong bảy ngày với một cái chân đưa lên quên để xuống mà không biết, mắt không nháy mà không hay. Lúc ấy, Ngài chỉ thấy việc tán dương đức Phật tôn thờ chiêm ngưỡng đức Phật là sung sướng, quý báu hơn tất cả thời gian không gian nào khác. Nhiếp thiện pháp giới có vô số phương pháp tu tập, nhưng tóm lại Tứ nhiếp Lục độ là những phương pháp viên mãn nhất để lợi lạc chúng sanh. Cuối cùng vượt lên

* Trang 148 *
device

trên tất cả Nhiếp luật nghi giới. Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sanh giới. Đây là một giới điều nhằm vào sự cứu độ chúng sanh lợi lạc hữu tình. Trong Sa-di giới, Tỳ-kheo giới, sự cứu độ này được coi nhẹ, nhưng Bồ-tát giới rất coi trọng. Vì lẽ một tâm Bồ-đề thượng cầu hạ hóa là một tâm nhìn xa thấy rộng, biết sâu, không phải là một tâm còn hạn cuộc trong một chúng sinh, trong một thân ngũ uẩn. Tâm đó vượt ngoài biên cương của một thể xác để nhìn khắp tất cả mọi chúng sanh cùng chung một tâm địa giác như mình, khổ đau như mình, cùng một khả năng giác ngộ như mình, để theo một niệm đại bi đồng thể đó mà cứu độ tất cả. Tu tập theo đó gọi là nhiếp chúng sanh giới.
          Nói tóm lại, Bồ-tát giới chia ra từng đề mục: mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, nhưng tóm tắt có ba mục chính yếu là:
  • Nhiếp luật nghi giới: Ngăn ngừa tất cả tội lỗi.
  • Nhiếp thiện pháp giới: Làm tất cả việc lành.
  • Nhiếp chúng sanh giới: Làm những việc lợi ích chúng sanh.
Trong Tỳ-kheo giới đức Phật dạy họ chú trọng

* Trang 149 *
device

vào việc giải thoát sanh tử luân hồi. Sự giải thoát sanh tử này, nhằm vào bản thân, nên giới cấm đầu tiên đức Phật răn dạy cho Tỳ-kheo là bất dâm, rồi mới đến bất đạo, bất sát, bất vọng ngữ. Dục là căn bản của vô lượng sinh tử luân hồi. Còn nước ái dục thì gốc của luân hồi còn sinh mãi. Khi nước ái dục hết thì gốc luân hồi sẽ cháy khô. Thấy rõ như vậy, nên Phật dạy người xuất gia muốn cầu giải thoát phải chú trọng đến việc diệt ái dục. Do đó, giới trọng đầu tiên của Tỳ-kheo là bất dâm rồi mới đến bất đạo, bất sát, bất vọng.
          Trong Bồ-tát giới, không phải chỉ nhìn vào mình mà xoay cái nhìn của mình vào chúng sanh, cho nên giới trọng đầu tiên là bất sát rồi mới đến bất đạo, bất dâm, bất vọng. Tỳ-kheo giới, giới bất dâm đứng đầu. Bồ-tát giới, giới bất sát đứng đầu. Vì Bồ-tát xem việc cứu chúng sanh trọng hơn việc giải thoát luân hồi sanh tử của bản thân. Vì sự sai biệt ấy, nên muốn hoàn thành cả hai khía cạnh, tự giác, giác tha, tự lợi, lợi tha thì phải cho cả hai giới là Tỳ-kheo và Bồ-tát giới. Cũng chính vì lẽ đó mà sau khi thọ Sa-d giới, Tỳ-kheo giới phải thọ thêm Bồ-tát giới.
          Cái nhìn đã khác, mục đích đã khác, cho nên những điều mục tu hành ở Bồ-tát giới cũng khác. Chẳng hạn ở giới Sa-di, uống rượu là một trọng

* Trang 150 *
device

tội, nhưng qua Bồ-tát giới, bán rượu mới là trọng tội, vì lẽ trong khi uống rượu mình chỉ mất phần tự lợi còn bán rượu hay mời rượu là làm hại bao nhiêu người khác. Đó là một cách phân biệt để thấy rõ sự khác biệt, sự liên hệ giữa hai giới. Vậy, nhằm vào việc giải thoát bản thân, chúng ta nên thọ và nên giữ Tỳ-kheo giới. Nhằm mục đích lợi ích tất cả chúng ta nên giữ cả hai giới Tỳ-kheo và Bồ-tát.
          Người thọ Bồ-tát giới luôn luôn nhìn đến những khía cạnh đau khổ mà chúng sanh phải gánh để đồng cảm mà tìm cách cứu độ. Chính những đau khổ đó ai ai cũng mắc phải, nhưng người không có Bồ-đề tâm thì không bao giờ biết căn cứ vào sự đau khổ của mình mà cảm thông nỗi khổ của người khác, bằng vào sự ưa muốn của mình mà cảm thông sự ưa muốn của kẻ khác. Do thiếu tâm Bồ-đề mà cứ muốn ta sống chứ không biết gì đến kẻ khác chết, cứ muốn ta vui mà không kể gì đến kẻ khác khó. Vì họ thiếu tâm Bồ-đề nên không bao giờ có được sự thông cảm với mọi chúng sanh qua những khía cạnh an lạc, khổ đau để giúp tất cả. Đó là yếu điểm qua tâm Bồ-đề trong giới bốn Bồ-tát.
          Giới Bồ-tát muốn thọ trì trước hết phải phát tâm Bồ-đề, vì đây là giới mà đức Phật đã căn cứ

* Trang 151 *
device

vào tâm địa giác để chế ra. Bồ-đề tâm là tâm viên mãn, tâm giải thoát, giác ngộ, tâm vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả tưởng, như trong kinh Kim Cương Phật đã dạy: “ Dĩ vô ngã vô nhân vô chúng sanh vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp tức đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Nhược hữu ngã nhân chúng sanh thọ giả tức phi Bồ-tát”.
          Nhờ phát Bồ-đề tâm mà chúng ta có thể thành tựu được trí giác sáng suốt, không bị vô minh mù quáng che lấp. Cho nên những vị Bồ-tát có khi làm những việc long trời lở đất mà chúng ta không thể làm nếu không sáng suốt. Và giả sử có nhắm mắt làm càng cho long trời lở đất thì lại thành ra tại hại. Bởi thế phát Bồ-đề tâm cũng là tôi luyện trí Bát-nhã để có thể nhìn thấy mọi khía cạnh của việc làm lợi lạc chúng sanh. Phát Bồ-đề tâm, thành Bồ-tát giới là phát bốn Hoằng thệ nguyện:
          Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
          Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
          Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
          Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
          Vậy nên những người nào muốn thọ và giữ trọn Bồ-tát giới thì phải phát Bồ-đề tâm, tạo bốn đại nguyện. Từ căn bản đó mới phát sinh thành tựu các giới đức một cách viên mãn để sưu độ chúng sanh.

* Trang 152 *
device

 
Trăng Rọi Rừng Thiền