LOGO VNBET
KHAI MỞ NGUỒN TÂM

 
Đã một lần chúng ta quỳ trước Tam sư Thất chứng để lãnh thọ giới pháp, ngay từ giờ phút đó, chúng ta đã trở nên những người Phật tử chân chính, những mầm non của hạt giống bồ-đề, là nền móng của đời sống Thánh nhân. Trong giờ phút thiêng liêng đó, chúng ta đã không kể gì đến xác thân, tính mệnh hay bất cứ một thứ gì khác để hướng về hạnh Phổ hiền hầu làm lợi lạc quần sanh. Khi đã xả thân để cầu giới thì chúng ta cũng ý thức được rằng: Chính giới pháp của đức Phật mới là pháp môn viên mãn nhất, nó có khả năng giải thoát chúng ta ra khỏi khổ đau, luân hồi và vô minh phiền trược. Vì nghĩ đếm sự cao quý của giới pháp, nên đã có những phút chúng ta đem hết sự thành tâm thiện chí để lãnh thọ. Những giới pháp của đức Phật đã thành tựu viên mãn là nhờ công đức bao kiếp tu hành mà Ngài đã đạt đến Chánh quả. Vì thượng chúng sanh Ngài đã đem giới pháp đó dạy lại chúng ta để vượt thoát mọi khổ đau trong cuộc

* Trang 153 *
device

đời. Là Phật tử sau khi đã thọ giới hãy coi giới pháp đó như là pháp thân, tuệ mang của chính Ngài. Nhờ vậy mà sau khi Ngài nhập Niết-bàn, giới pháp ấy vẫn cón tồn tại để dẫn dắt cho những người có thiện duyên xuất gia cũng như tại gia làm chiếc thuyền để vượt qua bể khổ.
          Trước khi sắp nhập Niết-bàn đức Phật đã dạy : “Sau khi Ta diệt độ các ngươi hãy tôn trọng, trân quý Ba-la-đề-mộc-xoa như người đi trong đêm tối mà gặp được ánh sáng, như người nghèo khó mà gặp được châu báu. Giới luật chính là đức Thầy cao cả của các ngươi, dù Ta có ở đời cũng không gì khác”. Giả sử có duyên may được sinh vào thời đức Phật thì chắc chắn chúng ta được nghe lời dạy ấy, sẽ tuân giữ giới pháp của Ngài và tôn Ngài làm đấng Đạo sư. Nhưng vì bạc đức vô duyên. Chúng ta phải sinh vào thời mạt pháp nên đã không gặp được đức Phật, nghe chính Ngài dạy để tìm cầu sự thoát ly sanh tử.
          Thời nay, mặc dù không gặp Phật, chúng ta vẫn còn được phước duyên có những giờ phút được nghe giáo pháp Ngài đã dạy, biết những giới luật Ngài đã truyền để chúng ta còn nhớ giới pháp làm đấng Đạo sư như Phật ở đời không khác.
          Một người đi trong đêm tối muốn khỏi sa hầm sỉa hố cần được ánh sáng bao nhiêu thì khi

* Trang 154 *
device

gặp được ánh sáng ấy sẽ quý bấy nhiêu. Cũng giống như kẻ nghèo khổ đói rách cần tiền của bao nhiêu, thì khi được tiền bạc họ sẽ giữ gìn coi trọng bấy nhiêu.
          Chúng ta những người tối tăm vì vô minh, đói khổ vì thiếu thốn sự giác ngộ, sự giải thoát cho nên chúng ta sẽ trân quý giáo pháp của Phật không khác gì những người đi trong đêm tối mà gặp được ánh sáng, người nghèo khó mà gặp được châu báu. Người trong đêm tối được ánh sáng chắc chắn sẽ không để mất, kẻ nghèo gặp được châu báu sẽ bảo tồn quý trọng nó không bao giờ lơi lỏng. Thế thì người hảo tâm xuấ gia, tại gia cũng vậy, khi đã biết giới luật là phương pháo cao quý để nương theo thì chắc chắn sẽ đem hết thành tâm thiện chí kính cẩn cầu lãnh thọ, bảo trì cho bằng được.
          Đã là con người chắc chắn không ai không khỏi mang trong mình ít nhiều thói hư tật xấu, nhiều thứ phiền não tội lỗi. Những tội lỗi phiền não ấy không nhờ những pháp môn, giới luật ngăn ngừa thì chắc chắn đời đời chúng ta vẫn là người nghèo hèn, không bao giờ bước lên được con đường giải thoát giác ngộ.
          Nên yếu điểm đầu tiên của Phật chế giới luật là muốn chúng ta gạt bỏ tục tình quê kịch
 

* Trang 155 *
device

nghèo hèn, mà tạo công đức tốt đẹp lập chí nghiệp lớn lao.
          Ở đời, những vị quân tử Thánh nhân hàng mong mỏi lập ba điều bất hủ lập công, lập đức và lập ngôn. Vậy người Phật tử chúng ta chắc chắn cũng muốn lập những công đức, sự nghiệp lớn lao như vậy. Nhưng dù muốn làm nên sự nghiệp lớn mà không giữ giới luật cứ bê tha theo tục tình, thả lỏng thân khẩu ý theo thói thấp hèn thì biết bao giờ chúng ta mới có thể lập được chí nghiệp mới xả bỏ được những tục tình quê kịch ấy? Cho nên một người đã có thành tâm thiện chí muốn làm đệ tử của đức Phật thì trước hết phải giữ giới để ngăn ngừa tội lỗi, xả bỏ tục tình để trở thành một con người toàn thiện. Khi các nhân đã trở nên toàn thiện toàn mỹ thì mới có thể đặt lên đó những hạnh nghiệp giải thoát, cầu đạo Bồ-đề, cứu độ chúng sanh.
          Yếu điểm thứ hai là người đệ tử xuất gia của đức Phật sống trong một đoàn thì không phải chỉ có một người, hai người mà ngay trong thời đức Phật tại thế đã có đến một ngàn hai trăm năm mươi người thường tùy tùng. Với một số đông đệ tử như thế, nếu không có giới luật thì biết căn cứ vào đâu để sống hòa hợp tương ứng và tu học với nhau! Mỗi người khi ấy sẽ hành động mỗi

* Trang 156 *
device

cách, ngôn ngữ một nẻo, làm sao tạo thành một giáo đoàn gương mẫu để truyền bá giáo pháp, để tiến tu đạo nghiệp? Nếu chúng tăng không có kỷ luật, không có giới pháp để răn dè, thì chúng Tăng ấy sẽ trở thành một chúng Tăng ô hợp. Khi đã ô hợp thì cá nhân đã không được tu học, mà đoàn thể ấy cũng không ích lợi gì. Huống nữa, một đoàn thể cầu giải thoát mà lại có thể ô hợp được sao? Chắc chắn là không. Vì vậy mười hai năm sau khi thành đạo, với một số đồ chúng xuất gia và tại gia đã đông, đức Phật đã tùy căn cơ chúng sanh mà lần lượt chế ra những giới luật.
          Sau khi Ngài nhập diệt, những giới luật ấy đã được tôn giả Ưu-ba-ly kiết tập thành ngũ giới, bát giới, Bồ-tát tại gia và mười giới, hai trăm năm mươi giới cho hàng xuất gia. Những giới luật đó trải qua thời gian và không gian đến nay vẫn còn tồn tại và chúng ta có thể nghe thấy một phần nào những lời Phật đã dạy lúc bấy giờ. Những giới pháp đó, hàng tại gia cũng như xuất gia, ai tuân giữ được thì đều xứng đáng là con Phật. Sự thành tâm thiện chí của đệ tử Phật đối với giáo pháp của Ngài chính là sự cúng dường cao quý nhất bởi vì, khi một người xuất gia có tác phong tề chỉnh, gương mẫu thì có thể thay thế Phật ở cõi thế gian này và giáo pháp của Phật nhờ đó mà tồn tại mãi mãi.

* Trang 157 *
device

Giới luật tạo cho con người trở thành đức hạnh giải thoát, gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày. Trong thời đức Phật, lúc Ngài hướng tâm tìm hiểu thế gian, hình ảnh một vị Sa-môn uy nghi tề chỉnh dáng điệu thanh thoát đã đáng thức mầm mống giác ngộ nơi Ngài, gây cho Ngài một ấn tượng mạnh mẽ về sự lựa chon con đường giải thoát sau này.
          Giờ đây nhờ giới luật mà hàng xuất gia giữ được đạo phong và làm gương mẫu cho hàng Phật tử tại gia noi theo. Giới có công năng giải thoát như vậy cho nên đức Phật đã dạy cho chúng ta phải trân trọng tôn kính giới luật như chính Ngài còn ở đời không khác.
          Trong Luật Thiện Kiến, Ngài đã dạy Tôn giả A-nan năm điều để làm cho giáo pháp của Ngài được tồn tại lâu bền:
  • Thứ nhứt: Hàng đệ tử biết tuân giữ Tỳ-ni giới luật.
  • Thứ hai: Tịnh Tăng thành chúng. Trong thời đức Phật, Giáo hội đầu tiên gồm có năm người xuất gia mà giữ giới thanh tịnh, chính nó là một yếu tố quan trọng để giáo pháp tồn tại lâu bền.
  • Thứ ba: Truyền thọ bất diệt. Nếu ở trung quốc, chúng ta có mười người lập giới đàn truyền

* Trang 158 *
device

thọ đại giới xuất gia, và ở biên quốc năm người, sự truyền thọ dưới hình thức mười người hay năm người như thế, từ chỗ này đến chỗ khác, quốc độ này đến quốc độ khác cũng là yếu tố khiến cho Phật pháp trụ thế lâu dài.
  • Thứ tư: Hạnh nghiệp thanh tịnh. Khi đã lãnh thọ giới pháp thì giới pháp chính là mối ưu tư, là mục tiêu tu hành. Nếu chúng Tăng phạm giới mà liền biết sám hối, tập chúng hai mươi người theo luật định để xuất những tội tăng tàn của Tỳ-kheo phạm giới khiến cho những vị này trở lại thanh tịnh như bao nhiêu Tỳ-kheo khác, thì đó là yếu tố làm giáo pháp tồn tại lâu bền.
  • Thứ năm: Chánh pháp trụ trì vĩnh cửu.
Tóm lại, nếu có năm người cho đến nhiều hơn mà nhất tâm giữ luật, biết sự phạm giới, sám hối những tội đã phạm, thì đó là những yếu tố quan trọng làm cho Phật pháp tồn tại trong năm ngàn năm. Thời gian năm ngàn năm mà từ trước đến nay chúng ta thường nghe nhắc đến trong các buổi lễ, chính là căn cứ vào các yếu tố căn bản: giữ giới, tu giới, xuất giới khi phạm tội, thanh tịnh tập chúng. Giữ được những yếu tố ấy một cách viên mãn tức là bảo vệ Phật pháp vững bền trên thế gian này vậy.

* Trang 159 *
device

 
Trăng Rọi Rừng Thiền