LOGO VNBET
Thử tìm một đường
hướng giáo dục cho
Cao đẳng Phật học viện
Tỳ kheo : THÍCH MINH CHÂU
 
 
Đại hội Văn Hóa Giáo Dục kỳ III, tại Dalat trong những ngày 16-17-18-19 tháng 7 năm 1970 đã quyết định thành lập Cao Đẳng Phật Học Viện, tương đương với chương trình Đại học ngoài đời, ngang với cấp bậc Cử nhân, Cao học và Tiến sĩ. Đại hội cũng giao cho Tổng vụ Văn hóa Giáo dục trách nhiệm trình bày đường hướng và soạn thảo quy chế cho Viện Cao Đẳng này.
Sự khó khăn và quan hệ là vấn đề đường hướng và mục tiêu, và một khi vấn đề này đã được giải quyết và chấp thuận thời sự thực hiện chỉ là những vấn đề thời gian, phương tiện và nhân sự. Chúng tôi xin trình bày sau đây ba đường hướng giáo dục có thể chấp nhận cho Cao Đẳng Phật Học Viện, hầu mong mở rộng đường dư luận và thâu thập thêm những ý kiến xây dựng của những vị quan tâm đến giáo dục tăng ni.
 
 
 
 
 
 

 

* Trang 104 *
device

Đường hướng thứ nhất là tiếp tục chương trình Trung đẳng bảy năm, thêm vào những chương trình nội điển cần thiết, cộng thêm một vài giờ sinh ngữ và cổ ngữ. Đây là đường hướng đã được các Đại học như Chulalongkorn, Mahamonkut, Thailan áp dụng. Đường hướng này chỉ tiếp tục chương trình Trung Đẳng chuyên khoa, soạn thêm chương trình nội điển, một vấn đề không mấy khó khăn, nhờ kho tàng văn học Phật giáo quá dồi dào, tiếp tục được truyền thống Phật Học Viện, không cần cải tạo phương pháp, không cần thảo luận nguyên tắc giáo dục, truyền thống xưa thế nào, nay tiếp tục như vậy.
Đường hướng thứ hai là làm sống dậy quy chế Tòng Lâm xưa, áp dụng chính sách "bế môn tỏa cảng", để tránh những ảnh hưởng tai hại của thế học và sự tiếp xúc của Tăng Ni sinh với nam nữ sinh viên ngoài đời. Tăng Ni sinh sẽ hoàn toàn sống theo quy chế của Tòng Lâm xưa, tuyệt đối không được giao tiếp một ai, trừ những giờ tiếp khách cho phép tại chùa, không đọc sách thế tục, không đọc báo chí, không nghe âm nhạc, không nghe đài phát thanh. Sinh viên tăng ni hoàn toàn được yên ổn tu học và được bao bọc bởi một thành trì hạn chế, cho đến khi tốt nghiệp mới đưa ra đời hoằng pháp lợi sanh. Đường hướng này có lợi là tránh được những ảnh hưởng thế tục không tốt đẹp đến tăng ni, giúp Tăng Ni có thì giờ và môi trường tu học thuận tiện cho đến khi tốt nghiệp ra hoằng hóa lợi sanh. Điểm khó khăn là có thể "bế môn tỏa cảng" toàn diện được không và phương pháp giáo dục né tránh có hữu hiệu không, nhất là trong đời sống nóng bỏng hiện tại.
Đường hướng thứ ba dựa trên ba tiêu chuẩn căn bản sau đây :
1) Hiểu đời để đối trị hữu hiệu với đời và hướng đời theo đúng với tinh thần Phật giáo.
 
 
 

* Trang 105 *
device

2) Áp dụng tinh thần và phương pháp Đại học, vì Cao đẳng Phật Học Viện tương đương với nền Đại học ngoài đời.
3)Phục vụ nhu cầu thiết yếu của Phật giáo Việt Nam, Phật Giáo Đông Nam Á và Phật Giáo thế giới.
1. - Hiểu đời để đối trị với đời và hướng đời theo tinh thần Phật Giáo :
Sinh viên Tăng Ni sau này phải sống và va chạm một cuộc đời hoàn toàn khác hẳn với đời sống hiện tại hay cách 10 năm về trước. Sinh viên Tăng Ni phải hiểu đời sống hiện tại như thế nào để có thể tránh những sự cám dỗ, đối trị hữu hiệu và cảm hóa đời theo đúng tinh thần của Phật Giáo.Đời sống hiện tại đang bị chi phối bởi ba thực trạng sau đây :
a) Sự có mặt của một số chủ nghĩa, tôn giáo và triết học đang chi phối ảnh hưởng ở Việt Nam và thế giới. Đó là chủ nghĩa Cộng sản, Tư bản, Hiện sinh ; các tôn giáo như Thiên chúa, Tin lành, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Cao đài, Hòa hảo, ba hai, ..v..v.. và các thiết thuyết Đông Tây. Xưa kia, Đức Phật đã nêu rõ ngay sự khác giữa đạo Phật với 6 lục sư ngoại đạo (Kinh Sa Môn quả) và giữa Đạo Phật với 62 tà thuyết (Kinh Phạm Võng). Ngày nay sinh viên Tăng Ni phải hiểu biết các chủ nghĩa, tôn giáo và triết thuyết và ý thức được sự đóng góp cảu Phật Giáo cho tư tưởng của nhân loại. Có hiểu rỏ mới khỏi hiểu lầm, mới khỏi phá kiến, mới tránh được cái nạn Tăng Ni đi tuyên truyền cho những chủ thuyết ngược hẳn với Phật Giáo : Có hiểu rỏ mới hy vọng chuyển hóa các chủ thuyết theo đúng với chính kiến của Đạo Phật.
b) Thực trạng thứ hai là sự chi phối của khoa học và kỹ thuật vào đời sống của con người và xã hội con người, trong đó
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 106 *
device


 

* Trang 107 *
device

Già Chulalongkorn ở Thái lan, Đại học Kelaniya ở Tích lan là hai Đại học Tăng già, do chư tăng chủ trương nhưng vẫn không được các Đại học Thế học chấp nhận văn bằng vì phương pháp áp dụng vần là phương pháp học thuộc lòng cổ điển. Ngày nay trình độ nghiên cứu Phật học đã khá cao và một sinh viên Tiến sĩ môn Phật học, về cổ ngữ phải biết Phạn ngữ hay Pali, về chuyên ngữ phải biết thêm Hán tự, Tây Tạng ngữ hay Nhật ngữ và sinh ngữ phải biết thêm tiếng Anh, Pháp, Đức ..v..v .. Xưa kia tại Phật học Viện, chư Tăng học Hán tự 15 năm, mà vẫn nói không được, viết không được, tuy rằng đọc có thể hiểu được. Áp dụng phương pháp học sinh ngữ hiện tại, một sinh viên chỉ học cấp tốc 9 tháng, có thể nói được, viết được, đọc được một sinh ngữ. Sự sai khác chỉ về phương pháp mà thôi. Về phương pháp dạy, phương pháp học, phương pháp nghiên cứu, phương pháp trình bày một luận án Đại học đều khác hẳn với phương pháp áp dụng ở Trung đẳng và một luận án tiến sĩ chỉ được chấp nhận khi nào luận án ấy thỏa mãn những điều kiện căn bản của một luận án tiến sĩ.
Tiêu chuẩn thứ ba là CĐPH phải phục vụ cho Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Đông Nam Á và Phật giáo thế giới.
Nhu cầu thứ nhất cho Phật giáo Việt Nam là đào tạo những pháp sư, thông hiểu kinh tạng, những Luật sư thông hiểu luật tạng, và những Thiền sư thông hiểu thiền học. Phật giáo Việt Nam cần đào tạo những Tăng Ni thông hiểu Tam tạng, sự thông hiểu ở đây không đóng khung trong một hệ thống tư tưởng riêng biệt nào mà phải bao trùm cả Phật giáo nguyên thỉ, đạo Phật các học phái và Đạo Phật Đại Thừa, để có được một cái nhìn quán xuyến lịch sử tư tưởng Phật giáo, vừa đánh dấu được những đặc điểm và chổ xuất xứ của từng hải triều tư tưởng trong đạo Phật.
 
 
 
 

* Trang 108 *
device

Nhu cầu thứ hai là phiên dịch Tam tạng kinh diễn ra Việt văn và VCĐPH có trách nhiệm đào tạo dịch sư ấy cho PGVN. Các nước Cao Miên, Miến Điện, Thái Lan, Nhật Bản , Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên và gần đây nhất Anh quốc đã có bản dịch Tam Tạng ra tiếng quốc ngữ của từng quốc gia. Riêng nước Việt Nam, ngoại trừ một số bản dịch lẻ tẻ, có thể nói là không có một Tam Tạng Việt Nam. Và sự khuyết điểm này phải xem như một quốc nhục cho Giáo hội và trách nhiệm của VCĐPH là đào tạo số dịch sư cần thiết ấy.
Nhiệm vụ thứ ba của VCĐPH là tìm lại thực tính của Phật giáo Việt Nam, nhu7gn4 cái gì đã tạo thành Phật giáo thời Lý, đời Trần những cái gì đã làm cho dân chúng Việt Nam đặt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Phật giáo, những cái gì đã làm dân chúng việt Nam linh cảm sự gắn bó đồng nhất giữa dân tộc và đạo pháp. Đi tìm lại thực tính ấy cảu PGVN, làm sống dậy thực tính ấy, sưu tầm những tài liệu, di tích lịch sữ chứng minh sự có mặt cảu thực tính ấy là cả một nhiệm vụ thiêng liêng và cao quý và cũng hết sức khó khăn của VCĐPH. VCĐPH cũng không thể quên được vị trí của mình trong bối cảnh Phật giáo Đông Nam Á và Phật giáo quốc tế để đóng vai trò địa phương tính và quốc tế tính của mình. Phật giáo Việt Nam không thể nào sống lẻ loi cô độc mà phải ý thức được vai trò nhiệm vụ của mình trong cộng đồng Phật giáo quốc tế, về mọi khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, ...
Có ý thức được nhiệm vụ địa phương tính và quốc tế tính này, các sinh viên Tăng Ni mới khỏi bở ngở lẻ loi khi phải đóng vai trò hoằng pháp quốc tế của mình ở Đông Nam Á cũng như ở các quốc gia khác.
 
 
 
 

* Trang 109 *
device

Chúng tôi trình bày ba đường hướng giáo dục có thể chấp nhận được cho CĐPG Viện sau này để đón tiếp những ý kiến và chỉ giáo bốn phương. Quyền quyết định tối hậu vẫn là Hội Đồng Chỉ Đạo Phật Học Viện, gồm các vị tôn túc Thượng Tọa từ trước đến nay đã đảm nhận những trọng trách trong Phật Học Viện Việt Nam.
 
Tỳ kheo THÍCH MINH CHÂU
 
 

* Trang 110 *
device

 
Nhà Xuất bản
 
HỒNG HÀ
 
Đã in :
VƯỜN QUÊN LÃNG
Truyện dài của VIÊN LINH
Đang in :
SỚM MAI HỒNG
Truyện ngắn của NGUYỄN HỮU HIỆU
 
THỜI CỦA NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI
Nghiên cứu về Rimbaud của HENRY MILLER
NGUYỄN HỮU HIỆU dịch
Sắp in :
HÌNH NHÂN
Thơ VIÊN LINH
 
WELDEN
của
HENRY DAVID THORAU
do NGUYỄN HỮU HIỆU và NHẬT LUÂN dịch
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 111 *
device

TƯ TƯỞNG
 
Năm Thứ III Đóng Bộ.
 
TƯ TƯỞNG Năm Thứ III. (1970) gồm 8 số
(từ số 1 đến 8) dày trên 1000 trang
 
Với những bài của :
 
THÍCH  MINH CHÂU. THÍCH TRÍ TỊNH. THÍCH QUẢNG ĐỘ. THÍCH NGUYÊN TÁNH. NGUYỄN ĐĂNG THỤC. TÔN THẤT THIỆN, NGÔ TRỌNG ANH. PHẠM CÔNG THIỆN. TUỆ SỸ. CHƠN HẠNH. THẠCH TRUNG GIÃ. LÊ TÔN NGHIÊM. KIM ĐỊNH. BÙI GIÁNG. PHẠM THIÊN THƯ. HOÀI KHANH. HUY TƯỞNG. TUỆ KHÔNG. TRẦN XUÂN KIÊM ..V..V..
 
Sẽ được đóng thành bộ, bìa da, gáy mạ vàng, giá 800$ ; ở xa thêm cước phí bảo đảm 200$.
Liên hệ nơi cô
Hồ Thị Minh Tương
Viện Đại Học Vạn Hạnh
222 Trương Minh Giang - Saigon 3
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 112 *
device

TƯ TƯỞNG
Năm thứ IV - Số 1 tháng 3 năm 1971
 
 
  

MỤC LỤC
 
1-NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO
Thích Minh Châu
3
2-VẠN HẠNH VỚI QUỐC HỌC
Nguyễn Đăng Thục
7
3-CON ĐƯỜNG TRƯỜNG TỒN
VÀ CON ĐƯỜNG TIÊU DIỆT
Tôn Thất Thiện
29
4-THƠ BÙI GIÁNG
Bùi Giáng
49
5-SỰ HỦY DIỆT CỦA MỘT
TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG
Tuệ Sỹ
53
6-TRẦM TƯ VỀ CÁC CHẾT TRONG
TƯ TƯỞNG HEIDEGGER VÀ P.G
Chơn Hạnh
79
7-THỬ TÌM MỘT ĐƯỜNG HƯỚNG
GIÁO DỤC CHO CAO ĐẲNG P.H.V
Thích Minh Châu
103
 
 
 
 
giá 70$
 
 
 
Giấy phép số : 521/BTT/NBC/HCBC cấp ngày 20-4-1970
In tại Ấn quán Vạn Hạnh, 222 Trương Minh Giảng - Saigon.
 
 
 
 

* Trang 113 *
device

 
đã xuất bản :
 
CON NGƯỜI VÀ
KỸ THUẬT
 
Suy nghiệm triết lý của
OSWALD SPENGLER
 
 
sắp in, tháng 5 :
 
ÁC QUỶ TRÊN
THIÊN ĐÀNG
 
Truyện dài của
HENRY MILLER
 
 
 
 
 
 
 
Nhà xuất bản KINH THI
 
 
 
 

* Trang 114 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1971)