LOGO VNBET
Trầm tư về cái chết
trong tư tưởng
Heidegger và Phật giáo
                               

CHƠN HẠNH
 
 
 
Toàn thể thế gian nằm trong ngọn lửa. Lửa gì đã nhóm lên những ngọn ấy? Chính lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa sanh. lửa già, lửa chết, lửa phiền nảo,, lửa ta thán, lửa đau đớn, lửa khổ sở, lửa thất vọng đã nhóm lên những ngọn ấy.
 
Phật Thích Ca.
 
 
Tư tưởng Heidegger vận hành trong phương trời huyền ẩn của cái chết và thời gian. Tất cả ý nghĩa của triết học Heidegger nằm trong nổ lực đánh thưc dậy câu hỏi về ý nghĩa của Tính thể (Sein) (1). Để chuẩn bị hoạt thường cho công trình tái lập lại lãnh địa khoa Tính thể học (Ontologie), một khoa học đã bị lãng quên vì bị lệch hướng sau thời các triết gia tiền Socrate. Heidegger thực hiện một phân tích sơ bộ : phân tích về Hiện tính thể (Dasein). Hiện tính thể, tức là chính hiện thể
 
 
(1) M. Heidegger, Sein und Zeit; Tubingen (1957), t.2
 

 

* Trang 80 *
device

của con người chúng ta (das wir selbst je sind), được Heidegger chọn làm đối tượng nguyên khởi vì hiện tính thể là vật thể độc nhất nuôi dưỡng trong tự thân mình khả năng có thể truy vấn về chính mình, nghĩa là truy vấn về chính tính thể của mình (2). Sự thông diễn ý nghĩa của hiện tính thể là cửa ngỏ mở vào khoa tính thể học nền tảng, cứu cánh tối hậu của tư tưởng Heidegger.
Được trình bày dưới tên Phân tích Xuất thể tính (existenziale Analytik), công cuộc thông diễn trên mang lại những kết quả sơ khởi sau đây : Hiện tính thể (Dasein) là tại thế thể (In-der-Welt-sein) bị quăng ném bỏ rơi trong một thê giới làm nó xao xuyến lo âu (3); trong thế giới đó hiện tính thể bị buộc phải liên tục chọn lựa giữa hai khả tính nền tảng : đảm đương vận mệnh riêng biệt của chính mình hay trốn tránh nhiệm vụ ấy bằng cách đấm chìm trong cõi Người Ta (das Man) (4); và thông thường thì hiện tính thể sa đọa trong khả tính thứ hai này. Ba thành tố trên được thống nhất trong một cơ cấu tối hậu, cơ cấu vô sai biệt của tính thể : sự lố lăng ưu tư, hiểu theo nghĩa đặc biệt, hay là Ưu tính (Sorge). Tính thể của con người là Ưu tính. Nói cách khác, con người là tính thể có khả năng vươn mình về những khả tính của chính mình, trong một thế giới mà nó bị chìm đắm sa đọa và bị vất bỏ vào đó (5).
Những thành quả sơ khởi trên chỉ mới vạch ra cho ta thấy tính thể của hiện tính thể, chứ chưa minh giải ý nghĩa của tính thể này. Ưu tính không thể nào giúp ta lĩnh hội được ý nghĩa của hiện tính thể như một toàn thể tính, vì lý do giản dị là ưu tính hàm chứa một tình trạng hướng về ... vươn đến ..., nghĩa là một tình trạng dang dở, cục bộ. Chỉ có cái chết mới hiển lộ hiện tính thể như là toàn thể tính và do đó mới giúp ta lĩnh hội
 
 
(2) SuZ, t.191 ;
(3) SuZ, t.191
(4) SuZ, t.175 ;
(5) SuZ, t. 192, 249-50, 317, 322, 327
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 81 *
device

được ý nghĩa tính thể của hiện tính thể. Qua đây, ta thấy tất cả tầm quan trọng của cái chết trong tư tưởng Heidegger trên con đường đi tìm lại ý nghĩa của tính thể.
Trong tư tưởng Phật giáo, chết là một trong thập nhị nhân duyên, chết là một trong 40 đề mục thiền định được diễn tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) của Phật âm (Buddhaghosa) (6) và trong bộ kinh Anguttara Nikāya (Tăng nhứt a hàm) Đức Phật Thích Ca cũng đã khuyến giảng cho các vị tỳ kheo biết rằng chết là một trong mười niệm tưởng mà nếu ta biết cách triển dưỡng, sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn, nhiều kết quả lớn cho công trình thực chứng Niết Bàn, Thực tại Tối hậu. Phật giáo Tây tạng khai triển tích cực khả tính tiềm ẩn của cái chết, vạch rõ cho ta thấy rằng chết cũng là một cơ hội đưa ta đến gần mục tiêu hơn trên con đường giải phóng tâm linh nếu ta thực tập sự chết trong từng giây từng phút của sự sống và cuốn Bardo Thõdol của Phật giáo Tây tạng là một tác phẩm dạy cho ta khoa học chết (Thanatology) như Jonh Woodroffe đã mệnh danh như thế trong bài tựa bản dịch tiếng Anh (7).
Chủ hướng căn bản của Heidegger là nhằm nêu lên những ý nghĩa tính luận (ontologisch) của cái chết, vì tất cả những y nghĩa khác mà Heidegger xếp vào loại những ý nghĩa nằm trong lãnh vực thể luận (ontisch) đều giả thiết trước ý nghĩa tính luận này. Do đó, Heidegger không cần bận tâm đến cái chết theo nghĩa sinh vật học, Đức gọi là Verenden, như thú chết, cây chết, lá chết, .... hay chết theo nghĩa y học và sinh lý học, (Ableben) như người chết theo quan điểm của bác sĩ, của nhà sinh lý học ; hoặc chết hiểu theo nghĩa tâm lý, triết lý, nhân chủng học, hiện sinh, siêu hình, thần học, v...v (8). Trong
 
 
(6) Buddhaghosa, The Path of Purification, bản dịch Anh ngữ của Nànamoli, Colombo (1956), tt.247-259.
(7) The Tibetan Book of Dead, bản dịch Anh ngữ của Làma Kaji Dawa-Samdup, Acford University Press (1968), tt.lxv?
(8) SuZ, tt. 246-47
 
 
 
 
 
 

* Trang 82 *
device

tất cả những ý nghĩa vừa kể trên, chết được hiểu như là "dứt" nhưng khi ta nói "chấm dứt", "xong", "hoàn thành", "thành tựu công việc" hay khi ta bảo rằng "mưa dứt", hoặc theo nghĩa "tiêu tán", "khuất dạng", "khuất hình", "khuất bóng" nghĩa là như một yếu tố nằm ở cuối đường, xa lạ với hiện tính thể, ở bên ngoài hiện tính thể.
Tư tưởng Phật giáo cũng đưa ra những giải đáp nằm bên ngoài phạm vi những ý nghĩa hạn định vừa liệt kê. Nhà sinh lý học chẳng hạn, không thể cung cấp giải đáp thỏa đáng cho vấn đề cái chết. Ông ta sẽ định nghĩa cái chết là tình trạng ngưng dứt sự vận hành của cơ thể con người ; tình trạng ngưng dứt sự vận hành này bắt nguồn từ nguyên nhân trực tiếp là tim ngừng đập ; tim ngừng đập và do đó không thể phân phát máu cho cơ thể là vì bệnh tật hoặc một rối loạn nào đó, một tai nạn nào đó ... Thế nhưng nếu hỏi rằng tại sao trong cùng một trường hợp truyền nhiễm, người có sức kháng bệnh mạnh lại mang bệnh trong khi người có sức kháng bệnh yếu đôi khi lại chẳng bị xâm hại, nhà sinh lý học sẽ lúng túng. Áp dụng cùng một thể thức lập vấn như trên cho các lãnh vực khác, ta sẽ thấy rằng vấn đề về sự chết nằm ngoài vấn đề giải quyết của các khoa tâm lý học, sinh vật học, y học, nhân chủng học, thần học, ..v....v.. (9).
Thay vì lạc lối trong những giải thích nửa với theo kiểu nói trên dưới sức chi phối nặng nề của nguyên lý túc lý, Heidegger lẫn tư tưởng Phật giáo đạt chúng ta ngay vào quả tim đen của sự vật, nhờ vào một sự chuyển đổi và mở rộng chân trời của cái chết.
Heidegger không quan niệm cái chết là một sự chấm dứt nằm ở cuối đường, xa lạ với hiện tính thể (Dasein) ; chính hiện
 
 
(9) xem thêm Gunaratna, Buddhist Reflections ons Death, Ceylon (1966), tt.5-6
 
 
 

* Trang 83 *
device

tính thể đã nuôi dưỡng nỗi chết trong tự thân của mình như là một khả tính nội tại ; trong mội giây phút, hiện tính thể đều lên đường bước đi đến sự châm dứt mình đã hàm dưỡng trong tính thể của mình, lên đường bước đi đến nỗi chết tìm ẩn trong tự thể của mình. "Vừa lúc con người ra đời cũng là lúc hắn đả đủ già nua để chết" (10). Trong ý nghĩa đó, Heidegger gọi con người là tính thể quy chung (Sein-zum-Ende, Être-pour-la-fin), tính thể có đấy cho sự kết thúc của chính mình, hay tính thể quy tử (Sein-zum-Tode, Être-pour-la-mort), tính thể hướng về sự chết của chính mình. Chung cuộc của đời người hay sự tử vong không còn là một biến cố hay một giới hạn được đặt định từ bên ngoài làm gián chỉ dòng sinh hoạt, tương tự như khi ta làm ngưng hoạt động của một bộ máy bằng cách vặn nút điều khiển, mà là một cơ cấu thiết yếu của hiện tính thể, một tiềm thể chưa được hiện thể hóa của hiện thể tính.
Với thuyết thập nhị nhân duyên (Paticca Samuppàda) hay là định luật tương sinh duyên khởi, hiện tượng "sinh" duyên khởi nên hiện tượng "lão" "tử", rồi theo vòng chu tuần vô tận của dòng nghiệp lực, lão và tử sẽ duyên khởi nên một sinh mệnh mới, cứ xoay vần như thế đến vô hạn, Phật giáo đã xem cái chết như quá trình gắn liền vào bản thể con người. Chết sống, sinh tử, gắn liền với nhau như bóng với hình, hay nói theo dụng ngữ nhà Phật : khi cái này hiện thể thì cái kia hiện thể (Imasmim sati, idam hoti), khi cái này sinh thì cái kia sinh (Imassa uppàdà, idam uppajjati), khi cái này không hiện thể thì cái kia không hiện thể (Imasmim asati, idam na hoti), khi cái này diệt thì cai kia diệt (Imassa nirodhà, idam nirujjhati). Hiện tượng đồng sinh khởi, đồng hủy diệt của mười hai yếu tố trong thập nhị nhân duyên không phải là một quá trình liên tục của những chuổi nhân quả. Mỗi một yếu tố
 
 
(10) SuZ, t.245
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 84 *
device

chỉ là điều kiện để yếu tố kia xuất hiện, chứ không phải là nguyên nhân. Mỗi yêu tố tương quan tương liên sinh khởi với các thành tố khác trong thập nhị nhân duyên theo 24 cách thái quy định (paccayà). Mỗi một yếu tố vừa là yếu tố quy định (paccayà dhamma, duyên khởi pháp) do đó cái chết không còn được nhìn dưới tương quan nhân quả như một biến cố nằm ở cuối đời người, xa lạ và ở bên ngoài đời người, vì trong viễn tượng như vừa trình bày, chết chính là cánh cửa mở sang một đời sống khác, dưới một hình thức khác theo dòng lưu chuyển của nghiệp lực. Chết và sống trong quan điểm Phật giáo là hai quá trình vô tận, không co bắt đầu cũng chẵng có kết thúc, vì Phật giáo cho rằng nguyên nhân đầu tiên hay nguồn gốc tối hậu của vạn pháp là điều bất khả tư duy, như chính đức Phật đã xác thuyết :"Này các thầy tỳ kheo dòng hiện hữu này là vô thủy, không thể tìm thấy một khởi điểm đầu" (Anamataggàyam sasnàro, pubbà-koti na pannàyati) Con đường chết vì đã nuôi dưỡng sự sống và sống vì đã trải qua nỗi chết : sinh trong thập nhị nhân duyên chính là tái sinh, sống thêm một lần nữa để lên đường đi đến cái chết.
Nhìn cái chết trong ý nghĩa tính thể học, Heidegger khám phá ra một đặc tính thiết yếu : cái chết là cái chết của riêng tôi. Cái chết là khả tính nội tại riêng tư nhất, thâm thiết nhất của tôi trong khả tính đó. Heidegger gọi là Jemeinigkeit, tính-chất-của-riêng-một-mình-tôi. Không ai có thể cướp mất cái chết của tôi cũng như không ai có thể chết thay chỗ cho tôi. Khi một người hy sinh tính mạng cho tôi thì thật ra người đó thì thật ra người đó chỉ đem cái của chính họ thay vào cho cái chết của chính tôi. Như vậy, chết là khả tính riêng biệt nhất trong đó mỗi người đảm đương tính thể của mình trong toàn thể (11). Vì không thể giao hoán cho nhau được, cái chết đặt tôi vào trong
 
 
 
(11) SuZ, t. 240, 253
 
 
 

* Trang 85 *
device

tình trạng bị chặt đứt tất cả mọi dây liên hệ tương thân với hiện tính thể (Dasein) của tha nhân. Cái chết trước hết hủy diệt nơi con người của tôi một cơ cấu nền tảng, tức là hủy diệt tính thể tại thế của tôi ; chết nghĩa là bước đến "trước bờ lạnh lẽo của hư không" (X.D.), không còn trên thế gian này nữa ; cái chết là cho hiện tính thể không còn là một tại thế thể (In-der-welt-sein, Être-au-monde). Vì không còn là một tại thế thể sinh hoạt trong một môi trường gọi chung là Thế giới (Welt) nên cái chết làm tan biến mọi tương giao của tôi, đặt hiện tính thể tôi vào tình trạng cô lập tuyệt đối.
Cái chết còn là một khả tính cực đoan nhất : chết là bất khả thể tuyệt đối của tiềm thể của hiện tính thể, nói cách khác chết là khả tính đưa tới bất khả tính tối hậu, khả tính mà nếu được thể hiện sẽ hủy hoại tất cả mọi khả tính khác. Chết là nhát dao chặt đứt mọi khả tính của hiện thể con người. Chính trong tình trạng hiểm nghèo thường xuyên đó, cái chết là khả tính đích thực nhất của hiện tính thể quyết định chấp nhận cái chết trong vẻ trần truồng thuần khiết mà không trốn chạy hay che đậy giả hình đối với nó (12).
Tóm lại, xét trong khía cạnh của xuất tính (Existenzialitat, existentialité), cái chết mang ý nghĩa một khả tính nội tại, thâm sâu nhất, nguyên chất nhất (eigenst), tuyệt đối (unbezũglich) nghĩa là vắng bặt hết mọi tương quan đối đải và bất khả thắng vượt (unũberholbar).
Chết là khả tính nội tại, nghĩa là tiềm thể mà hiện tích thể đã nuôi giữ trong chính tự thể mình ngay từ khi mình bắt đầu xuất thể (existier). Ngay từ khi vào đời, hiện tính thể đã bị quăng ném vất bỏ vào trong tiềm thể này, rồi từ đó hiện tính thể cư ngũ thường xuyên trong nỗi chết. Hiện tinh thể bị đặt trước một sự kiện đã rồi, vô phương cứu vãn : khía cạnh
 
 
(12) SuZ, tt. 250, 251, 255, 258, 263, 309
 
 
 
 
 
 

* Trang 86 *
device

của sự chết được Heidegger gọi là kiện tính (Faktizitãt, facticité) của hiện tính thể. Hiện tính thể sống trong tình trạng một tử tù chờ giờ bị hành quyết, như người sông dưới lưỡi kiếm treo hờ, cái chết là cái diện tiền, cái ở trước mặt (Bevorstand) có thể xãy đến bất cứ lúc nào trong dòng sinh hoạt của hiện thể. Hiện tính thể tích chứa trong cơ cấu của mình cái chết như một thực tại nền tảng, do đấy hiện tính thể (Dasein) là chính nền tảng hay căn cơ cho cái chết của chính mình, một cái chết hãy còn chưa xảy ra (noch nicht) nhưng đã có mặt đấy rồi.
Kiện tính này khai mở cho ta thấy tất cả chân lý bi tráng của đời người, qua một cảm tính đặc biệt : sự xao xuyến hốt hoảng (Angst) trước cái chết. Xao xuyến hốt hoảng khac với sợ hãi, vì sợ hãi là sợ hãi một đối tượng rõ rệt, có hình thù, danh tính xác định. xao xuyến hốt hoảng không có đối tượng định hình được, ở đây điều làm hiện tính thể xao xuyến hốt hoảng là sự kiện mình hiện thể trên cõi đời này, sự kiện mình là tại thế thể (In-der-Welt-sein), sự kiện mình mang chứa khả tính hướng về cái chết. Sự xao xuyến hoảng hốt trước cái chết được Heidegger xem là cảm thế tính căn bản (Grundbefindlichkeit) của hiện tính thể. Nó là khai tính (Erschlossennheot) vén mở cho ta thấy rằng hiện tính thể chỉ xuất tính khi nào tính thể của hiện tính thể đã bị quăng ném về cứu cánh của chính mình (13).
Bằng một ngôn ngữ khác và một nhãn quan quát, thấu triệt hơn, Phật giáo đã dẫn ta vào tinh thể của cái chết trong tất cả chiều kích sâu thẩm của nó.
Trước hết, đối với Phật giáo, sự sống chỉ là một tiến trình liên tục của dòng nghiệp lực ; dòng nghiệp lực này trôi chảy lăn lóc mãi không thôi dưới vô vàng hình thức : thú, người, trời, ngạ
 
 
(13) SuZ, t. 251
 
 
 

* Trang 87 *
device

quỷ, ..v..v.. mà ta gọi là tiến trình luân hồi (Luân hồi, Samsāra theo nghĩa đen là một cuộc hành trình lang thang bất định, không ngừng nghĩ và vô mục đích). Triết học Phật giáo dùng danh từ Santati, có nghĩa là một triều lưu hay sự liên tục, để gọi một ca nhân. Triều lưu tâm lý vật lý tạo thành đời sống mỗi cá nhân ấy là kết hợp kế tục của vô số hiện tượng tâm vật lý luôn nằm trong dòng trôi chảy ào ạt, miên man. Sinh mạng ta là tựu hành của kết hợp vật chất tâm thức, mà cả vật chất lẫn tâm thức đều là một dòng trôi chảy bất tuyệt. Vật chất gồm những năng lực tương quan gọi là paramattha (gồm Tứ Đại) và bốn chuyển hóa (màu sắc, hương, vị, bản chất dinh dưỡng) ở trong trạng thái biến đổi, trôi chảy như một thác nước. Theo Phật giáo, vật chất chỉ tồn tại trong thời gian bằng 17 lần một sát na tâm (14). Tâm thức là sự luân lưu không ngừng của những sát na tâm, mỗi sát na tâm đều trãi qua ba giai đoạn : sanh (uppàda), trụ (thiti) và diệt (bhanga) ; cứ liên tục như thế không gián đoạn. Như vậy, dưới nhãn quan Phật giáo, trong hoa quả ngọt ngào của sự sống, đã có cái chết như một loài sâu gặm nhắm hủy hoại từ bên trong. Sự sống hàm dưỡng sự chết như một thành tố cần thiết để mình được là sự sống, nghĩa là trôi chảy, biến dịch, lưu chuyển luôn luôn.
Dòng sống luân lưu bất tận xuyên qua những nỗi chết trong từng sát na ấy là một dòng sống riêng biệt cho mỗi một cá thể, tùy thuận theo nghiệp lực mà cá thể ấy đã tự gây tạo ra cho chính mình, trong những tiền kiếp hay trong hiện kiếp. Do đấy, cái chết được nuôi dưỡng cưu mang trong dòng sống ấy cũng là một hiện tượng riêng tư độc đáo của mỗi người, được quy định bởi nghiệp lực riêng tư của họ. Mỗi người là một thi sĩ của đời mình, tự do sáng tạo sự sống cũng như nỗi chết cho
 
(14) tức là ngắn hơn 17 phần triệu thời gian một tia chớp, theo các nhà chú giải Phật giáo.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 88 *
device

riêng mình, bằng hành động, ngôn ngữ và tư tưởng (thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp).
"Thân này là cái thành xây bằng xương cốt và tô quét bằng máu thịt, để cất giấu sự già. sự chết, ngã mạn và dối gian" (15). Cái chết, kẻ nội thù ấy, lại chính là cái chết của riêng tôi "Một khi tử thần đã đến, chẳng thân thuộc nào có thể thế thay, dù cha con thân thích, chẵng làm sao cứu hộ" (16). Không có bất kỳ ai có thể nhúng tay can thiệp vào cái chết của riêng tôi, dầu đó là chư Thiên trong các cảnh Trời thuộc Dục giới và Sắc giới ... vì khi phước báo đã mãn, chư Thiên vẫn phải sa vào vòng sinh tử như bất cứ chúng sinh nào, tuân theo nghiệp lực của chư vị. Trên con đường luân hồi thăm thẳm, mỗi chúng sinh sống một mình, chết một mình, không ai có thể thay thế và cũng không thể thay thế ai.
Chúng sinh kết hợp bởi ngũ uẩn, là vô thường và biến dịch khiến cho không thể có một chúng sinh đồng nhất. Mỗi giây phút, mỗi sát na trong đời sống, chúng ta đều đã chết đi và tái sinh, danh từ nhà Phật gọi cái chết trong từng thoáng giây phút này là khanika marana, mỗi một hơi thở ra thở vô, chúng ta đã hoàn toàn là con người mới, mang một sự sống mới để bước đến một nỗi chết mới. Giống với tư tưởng Heidegger, Phật giáo nhìn sự chết như một khả tính nội tại nguyên ủy và thâm thiết của sự sống, nhưng khác với Heidegger, Phật giáo không xem cái chết là khả tính tối hậu, khả tính của bất khả tính tuyệt đối. Chết theo Phật giáo không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sinh, sự tiêu diệt hoàn toàn những khả tinh, mà là cánh cửa mở ra những khả tính mới trong một kiếp sống mới dưới một hình thức khác với hình thức hiện tại. Cái chết ở đây được ví với một cánh cửa ; tùy vị thế của người liên hệ, cánh cửa ấy được gọi là cửa "vô" hay cửa "ra"
 
 
(15) Dhammapada (Kinh Pháp Cú), câu 150
(16) Ibid. câu 283
 
 
 
 

* Trang 89 *
device

Heidegger đã chỉ nhìn cái chết như cánh cửa đưa hiện tính thể bước ra khỏi thế giới ; Ki tô giáo trái lại chỉ nhìn cái chết như cánh cửa mở vào nước Chúa cho những linh hồn sống đời công chính theo gương chúa Ki tô ; nước chúa không có tại trần gian này, "Cha chúng ta ở trên trời ..." ; Phật giáo bước đi trên con đường siêu việt nhị biên của hai quan điểm ra và vào, xuất và nhập ; cái chết được quan niệm là một tiến trình tự nhiên gắn liền với sự sống và cả sự sống lẫn sự chết là miên viễn không bao giờ ngừng nên chết vừa có nghĩa là bước ra vừa có nghĩa là bước vào ; con người giác ngộ là con người siêu việt khỏi sự sống lẫn cái chết, con người đã phá hủy được hai khả tính vừa đối lập vừa nuôi dưỡng nhau.
Kiện tính của cái chết trong tư tưởng Heidegger được phản ảnh thi vị qua câu chuyện sau đây lấy từ Kinh điển Phật giáo, chứng tỏ con người khi sinh ra đã tự mình vứt bỏ mình vào một chung điểm vô phương cứu vãn. Sau khi chết mất hai con, chồng, cha mẹ và anh trong những hoàn cảnh thảm thương, bà Patācārā được đức Phật độ, đắc quả Tu Đà Huờn và xin xuất gia. Một ngày nọ, khi xuống suối rửa chân bà ghi nhận rằng có những giọt nước từ thân liên tiếp gieo điểm xuống dòng nước, trôi đi rối tan mất. Có những giọt trôi xa hơn nữa, nhưng rồi sau cùng cũng tan mất tâm hơi. Bà mới trầm tư :"Cũng như thế ấy, tất cả chúng sinh đều phải chết. Người lúc thiếu thời, người khi đã trưởng thành, cũng có người lúc tuổi thọ đã cao, nhưng tất cả đều phải chết". Đọc được tư tưởng ấy, đức Phật biến hình thuyết pháp cho bà nghe. Nghe xong bà đắc quả A la hán. Cái chết ở đây được trình bày như một nơi ngụ cư quen thuộc đến độ phải cần đến một biến cố hay một hoàn cảnh nào đó ta mới nhận ra là ta đã bị vứt vào khả tính của cái chết từ bào giờ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 90 *
device

Trước cái chết, phản ứng của con người diễn ra như thế nào? Phản ứng thông thường nhất là chạy trốn cái chết. Chạy trốn trong đời sống thường nhật, chạy trốn trong cõi Người-Ta (das Man). Ngôn ngữ thông thường tránh nhắc đến chữ chết xem đó là một sự kiện khó chịu. Người ta dùng những chữ thanh tao theo nghĩa bóng, ít trắng trợn để chỉ cái chết : qua đời, từ trần, khuất bóng, khuất núi,..v..v.. cốt che dấu khía cạnh tàn bạo vô tình của cái chết. Con người bình thường nhìn sự chết như một biến cố diễn ra không ngừng mà họ gọi là sự "quá cố" (Todesfall). Người ta biết rằng mỗi ngày có vô số người quá cố và kinh nghiệm cũng xác chứng rằng chẳng ai được miễn trừ khỏi cái chết, nhưng người ta vẫn hy vọng. Niềm hy vọng thầm kín ấy của mỗi người phát sinh từ một lý luận dựa trên nền tảng thực nghiệm : trên thực tế, những người đã hiện hữu từ trước tới nay đều đã chết, nhưng điều đó không "chứng thực" được rằng tất cả mọi người đều phải chết những trường hợp cứ thực không đưa đến một kết luận cứ lý, xác nhiên. Dẫu không dám nói ra nhưng mỗi người đều cố nhìn thấy một lỗ hổng trong tấm lưới mà thần chết giăng ra trên thế gian và muốn phóng mình qua đó.
Khi bắt buộc phải nhìn nhận rằng mình sẽ chết, họ cần khống chế : tôi nhất định sẽ chết, nhưng hiện giờ tôi vẫn tiếp tục sống đây, Họ vẫn bảo :" Người ta đều chết cả" nhưng người ta ở đây được hiểu là một kẻ nào khác tôi. Người ta vì là tất cả mọi người nên không là ai cả, dĩ nhiên càng không phải là tôi. Qua cách nói thông thường trên, cái chết được xem là một biến cố đáng buồn liên quan đến  bản tính con người nhưng không liên hệ đến từng cá thể cụ thể. Cái chết được đẩy vào lãnh vực tổng quát để che dấu tinh chất riêng tư, không thay thế được mà ta đã trình bày trong phần trên. Người ta chấp nhận cái chết như một sự kiện nhưng tránh không xem no như một khả tính riêng biệt của mỗi người, một khả tính thường
 
 
 
 

* Trang 91 *
device

trực, tất yếu. Đứng trước khả tính này, theo Heidegger, con người hoảng sợ và tìm cách khuất lấp nỗi sợ hãi ấy trong những nhiệm vụ, những công việc, những khuây khỏa hằng ngày. Một hậu quả tất nhiên của thái độ ấy là xem việc trầm tư vầ cái chết là dấu hiệu của sự hèn nhát, của sự bất quyết khi đối mặt với cuộc sống, của tâm tính bi quan đen tối. Thái độ lý tưởng được tuyên dương ở đây là thái độ lãnh đạm đối với cái chết. Từ một khả tính riêng tư, nội tại và thâm sâu nhất của cá thể, người ta đã cố biến cái chết thành một biến cố công cộng, không đe dọa trực tiếp đến riêng ai cả.
Phản ứng chạy trốn đối mặt với khả tính riêng biệt nhất của chính mình và thường xuyên giảm trừ tầm quan trọng của cái chết là một đặc tính của tình trạng vong thân mà đời sống thường nhật sa vào. Trong tình trạng ấy, đánh mất ý nghĩa đích thực của cái chết, con người cũng đánh mất luôn khả năng nền tảng của hiện tính thể mình, không tự lĩnh hội mình như là một tính-thể-quy-chung, tính thể lên đường bước về chung cuộc (17).
Trong kinh điển Phật giáo, đầy dẫy những lời nhắc nhở con người sớm bước ra khỏi tình trạng vong thân đó và nuôi dưỡng một ý thức bén nhạy thường xuyên về cái chết trong tâm thức mình, để khỏi đắm chìm triền miên trong dục lạc phù ảo. Như lời Phật dạy ngài A Nan :"Hỡi A Nan, cũng vậy, bản chất của sự suy đồi đã buộc liền vào tuổi trẻ, bản chất của bệnh tật đã gắn chặt vào sức khỏe và giữa lòng sự sống chúng ta đang cư trú trong nỗi chết ... " (18) hay những lời giản dị trong kinh Pháp Cú :"Như nước lũ cuốn phăng những xóm làng say ngủ giữa đêm trường, tử thần sẽ lôi phăng đi những người mê muội sinh tâm ái trước những bông hoa
 
(17) SuZ. tt. 252-258
(18) Samyutta - Nikàya, v, 216.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 92 *
device

mình vừa góp nhặt được" ; "Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy bể, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẵm, dù tìm khắp thế gian này, chẳng có nơi nào trốn khỏi tử thần" ; "Còn không bao lâu nữa, thân người sẽ nằm cứng đờ trên mặt đất, ghê tởm và vô tri, giống như một khúc cây khô mục, không lợi ích vào đâu !" (19) ..v..v...
Nhìn sự chết, nói tổng quát là nhìn đau khổ trong ý nghĩa tích cực của nó. Phật giáo thấy đấy là chất men kích thích con người vươn lên khỏi thân phận cũ kỹ ngàn đời của nhân loại. Đức Phật Thích Ca đã bắt đầu hành trình đi đến sự chứng ngộ của mình bằng sự va chạm với bốn thực tại mà đời sống an vui hoang lạc của một hoàng tử được nuông chìu đã khuất lấp đi. Do đấy, thái độ căn bản của Phật giáo là đánh thức dậy ý thức sâu sắc về khổ đau vẫn ngủ yên trong mỗi con người, đánh thức dậy tâm niệm về sự chết mà ta cố quên đi trong dòng sống bình thường. ý thức về khổ đau, về cái chết là tiếng kêu đòi giải phóng khỏi khổ đau mà Phật giáo vẫn không sa vào chủ nghĩa bi quan yếm thế vì Phật giáo không chấp nhận những thực tại đó như những thực tại tất yếu tuyệt đối ; với tự do của mình. con người có thể chuyển đổi dòng nghiệp lực để đồng thời phá hủy cả sanh và tự, đau khổ và hạnh phúc, để đạt đến trạng thái Niết Bàn.
Phật giáo gặp gỡ Heidegger trong cố gắng tố giác tình trạng vong thân của đời sống thường nhật, khiến con người quên đi mình là một tính thể quy tử (Sein-zum-Tode) hay quên đi hoàn cảnh đau khổ căn bản của mình (Khổ đế) : sanh, lão, bệnh, tử. Sau khi vạch rõ ý nghĩa tính luận của cái chết và tố giác tâm trạng hời hợt của sinh hoạt thường nhật, Phật giáo và Heidegger còn gặp gỡ nhau ở nỗ lực khai triển giá trị tích cực của cái
 
 
(19) Dhammapada, câu 47, 128, 41 - Xem thêm câu 135, 149, 235.
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 93 *
device

chết trong việc qui định thái độ cảu con người đối với cái chết.
Hiện sinh thường nhật chỉ là một cuộc trốn chạy và khuất lấp liên miên ý nghĩa đích thực của cái chết. Theo Heidegger, con người chỉ đạt đến hiện sinh nguyên tính, chính thực, khi nào con người liễu ngộ và chấp nhận ý nghĩa của cái chết trong toàn diện đời sống mình.
Chấp nhận ý nghĩa của cái chết là gì? Chấp nhận ý nghĩa của cái chết là chấp nhận cái chết như một khả tính nguyên bản, nội tại và thâm sâu nhất của mình và quy hướng mọi sinh hoạt của mình tùy thuận theo khả tính đó. Chấp nhận một khả tính còn có ý nghĩa đưa khả tính ấy tới chỗ tựu thành viên mãn, tức là phá hủy khả tính ấy xét như đó là khả tính thuần túy. Trong lãnh vực của hiện sinh thường nhật, lãnh vực của sự bận bịu lo toan (ưu tính, Sorge), sự phá hủy một khả tính sẽ nhất thiết đưa dẫn tới việc khai mở một khả tính mới, vì tất cả đều được qui chiếu vào những đối tượng nội thế của hiện tính thể (Dasein). Sự phá hủy hay sự tựu thành khả tính của cái chết nằm trong một chân trời khác biệt. Ở trên ta đã thấy rằng cái chết là một khả tính cô lập, không tương quan đối đãi (tuyệt đối), một khả tính cực đoan ; thế nên cái chết không đưa dẫn đến một khả tính mới mẻ nào bên ngoài nó và việc tựu thành khả tính của cái chết đồng thời cí nghĩa là hủy diệt mọi khả tính. Chấp nhận khả tính của cái chết đặt con người trong một tình trạng căng thẳng đặc biệt : vừa chuyên chú thể hiện khả tính ấy, vừa giữ gìn khả tính ấy còn được là khả tính thuần túy : Muốn thể hiện tính thể của tôi, một tính thể quy tử, tôi phải lên đường bước tới cái chết trong mỗi giây phút cảu đời sống, nhưng tôi không thể tự tử chẳng hạn để thể hiện khả tính chết, vì khi chết thì tôi không còn là một tính thể nữa, tôi không còn là một tính thể đang trên đường bước tới cái chết nữa. Thái độ chấp nhận đích thực do đó là thái độ chờ đợi (Erwarten) thường xuyên nỗi chết.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 94 *
device

Khi CHỜ ĐỢI cái chết, tôi phóng chiếu cái chết lên từng thái độ, từng cách thái hiện thể của tôi. Sự chờ đợi đã làm cái chết hiện diện và tẩm nhiễm trong toàn bộ những cách thái tư tưởng và hành động của hiện tính thể tôi. Hiện sinh nguyên tính là hiện sinh thường trực sống trong dự phóng về cái chết như một khả tính cận kề. Sống thường xuyên trong nỗi chết hiện sinh nguyên tính sẽ thấy tất cả tính cách phù ảo của mọi hành động kiến tạo nên cuộc đời. Cái chết in ấn tích hư vô trên từng sinh hoạt lý thuyết và thực tiễn của con người ; cái chết vén màn cho ta thấy hư vô đang vây phủ trần gian. Chấp nhận đối mặt với cái chết, hiện tính thể nguyên tính chấp nhận đối mặt với khả tính cực đoan nhất và chợt nhận ra khả tính ấy là hư vô thuần túy. Đối mặt với hư vô của đời mình, con người cũng chợt nhận ra mình là hư vô.
Dưới làn ánh sáng hư vô ấy, ý nghĩa của toàn thể những khả tính của hiện tính thể? ôi hiện ra rõ rệt : tất cả đều gắn liền và tùy thuận với khả tính tối hậu : cái chết. Không có con đường máu nào đưa ta thoát khỏi khả tính tối hậu ấy. Ta tuyệt đối không thể trông chờ sự trợ giúp của bất cứ ai, vì mọi người đều bị đặt trong cùng một thảm trạng và đều cô đơn, biệt lập như nhau. Hiện tính thể chỉ có được một tự do hoàn toàn tiêu cực đó là tự do chọn lựa thái độ chấp nhận cái chết hay thái độ khuất lấp quên lãng cái chết. Thái độ chấp nhận cái chết là thái độ can đảm đích thực, trong đó con người truy nhận mình là kẻ nuôi dưỡng hư vô, là mục tự của hư vô.
Con người chấp nhận ý nghĩa tối hậu cảu cái chết không sa vào tình trạng thụ động buông trôi, khi nuôi dưỡng cái chết trong hồn, y vẫn sinh hoạt như bất cứ con người bình thường nào, vẫn đảm nhiệm những trách vụ hàng ngày đối với gia đình
 
 
 
 
 
 

* Trang 95 *
device

xã hội ..., chỉ có điều khác biệt là y không còn bị lừa gạt về tính cách hư ảo của những hoạt động đó, y nhìn những hoạt động đó trong ý nghĩa nguyên tính của chúng : chúng chẳng là gì cả, chúng chỉ là hiện thân của hư vô
Chấp nhận cái chết, con người tự lĩnh hội mình như là một thực thể hữu hạn ; hậu quả của tình trạng này là con người sẽ sống với lòng khoan dung tuyệt đối, vì y đã trực nhận được tất cả tính chất bào ảnh hư phù của cuộc hiện sinh. T sẽ để cho mỗi người được-là-mình, để cho mỗi người được xuất tính tùy thuận theo nguyên tính của mình, bất kể hậu quả hay giá trị đi liền theo đó ; những hậu quả hay giá trị này qui chiếu về cái chết thì chỉ là những trang sức phù phiếm của đời sống.
Trong nổi bất lực tuyệt cùng trước sự chết, hiện tính thể bổng chinh phục được một sức mạnh của tinh thần vô trước, không trước chấp dính mắc vào những tiềm tính ngẫu nhiên của đời sống. Dự tưởng trước khả tính bất khả (cái chết) làm cho hiện tính thể được tự do, giải phóng khỏi mọi triền phược trói buộc mình vào đời sống thường nhật : đó là sự tự do trước cái chết (Freiheit zum Tode). Hiện tính thể ưu tư với khả tính của tự tính mình được tự do trong trạng thái buông xả và dâng hiến trước cái chết, khơi mở ra tất cả những khả tính đã hiện thể trước đó, nhân đấy giúp cho hiện tính thể nhìn lại mình như một toàn thể tính và xuất thể như một toàn thể khả hữu. Cuối con đường chấp nhận cái chết là lòng khoan dung, tinh thần vô trước và sự tự do hay sự giải phóng tâm linh, được Heidegger xem như những đặc trưng của hiện sinh chính thực, hiện sinh nguyên tính (eigentliche Existenz) (20).
Ở đây ta thấy rõ sự tương đồng sâu sắc trong tiến trình tư tưởng Heidegger và Phật giáo. Sau khi cáo giác những nguy
 
 
(20) SuZ,, 11 260-266 ; 384
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 96 *
device

hiểm của đời sống thường nhật, nhắc nhở cho con người biết rằng mình và thế giới chung quanh đang bị thiêu đốt trong lửa dữ của chết chóc, sầu nảo, tuyệt vọng, ... Phật giáo mở ra con đường tích cực chấp nhận sự chết và học chuẩn bị để chết, biến cái chết thành một yếu tố giải thoát.
Đời sống chúng sinh là mong manh, không phải tính đếm theo năm, tháng, ngày, giờ mà tính đếm theo từng hơi thở, từng sát na. Mạng sống chúng sinh chỉ ngắn bằng thời gian của một tư tưởng, nghĩa là bằng khoảnh khắc của sự thay đổi của tâm, ví như điểm tiếp xúc của một bánh xe lăn tròn trên mặt đất, dầu lăn như thế nào cũng chỉ chạm đất tại một điểm duy nhất. Nói thế khác, khi mỗi tư tưởng dứt thì ta cũng chết theo và khi tư tưởng khác bắt đầu thì ta lại tái sanh. Người Phật tử đã tỉnh thức trước thực tại cái chết cần thực hiện phép Niệm Sự Chết (Marananussati) được dẫn giải cặn kẽ trong Thanh Tịnh Đạo để tập đối mặt với cái chết trong từng sát na sự sống (21).
Người ấy sẽ nhiếp tâm chăm chú niệm như thế này :"Sự chết sẽ đến cho ta không sai", hoặc :"Ta sẽ chết" hoặc niệm chữ :"Maranam ... Maranam ... Chết ... Chết ...". Niệm như thế với lòng kinh cảm và chính kiến trong những khi đi, đứng, nằm, ngồi không bao giờ dứt, thì năm pháp chướng ngại sẽ bị tiêu trừ dần dần (22), tâm hành giả sẽ được an trụ và vào cảnh giới Cận Định (upacara Samadhi)
 
 
 
(21) xem chú thích (6)
Xem thêm Edward Conze, The Meditation on Death, in Thirsty Years of Buddhist Studies (Bruno Cassirer) tt. 87-104
(22) Năm pháp chướng ngại (Nivarana dhamma) là : 1) Kàmacchanda : tham trong ngũ dục ; 2) Byàpàda : thù oán, mong hại người ; 3) Thinamaddha : hôn trầm ; 4) Uddhaccakukcca : phóng tâm, tâm ưa phiên động ; 5) Vicikicchà : hoài nghi.
 
 
 
 

* Trang 97 *
device

Nếu miệm như thế mà vẫn không đạt được thành quả, hành giả sẽ quán tưởng sự chết theo tám chi pháp sau đây :
1) Vadhakapaccupatthanoto : Sự chết ví như một đao phủ kề gươm ngang cổ ta. Sự chết theo dính thân ta như bóng với hình, ngay từ lúc ta mới đầu thai vào lòng mẹ cho đến khi ta sanh ra và khôn lớn ; khi ta ngủ, ngủ với sự chết, khi lớn lên cũng lớn lên với sự chết gần kề. Sự chết chẳng khác một đao phủ kề gươm bén và cổ ta, sẵn sàng đem sinh mạng ta đi, không bao giờ mang trả lại.
2) Sampatticipattito : Sự chết ví như sự tiêu hoại của vạn vật trên thế gian. Sự già và sự chết chi phối và nghiền nát tất cả chúng sinh không chừa một người nào, dầu là vua chúa, chiến sĩ, thương gia, đạo sĩ, thủ công, ... Không mưu mô, không thế lực nào đánh bại được nó và đời người chỉ là những tựu thành dang dỡ.
3) Upasamharanato : So sánh sự chết của ta với sự chết của các bậc siêu phàm nhập thánh những người đại phúc đức, đại phú gia, uy vũ vô song những bậc đại thần thông những bậc đại trí tuệ, chư Phật Độc giác, Đức Phật Thế Tôn, để ghi nhớ thường xuyên rằng :"Những bậc cao siêu như vậy còn bị chết thay, huống chi ta chỉ là một kẽ tầm thường. Chắc chắn ta sẽ chết không sai !".
4) Kayabahusadharanato : Quán tưởng rằng thân thể ta đây là nơi trú ngụ của nhiều giống khác và hằng bị nhiễu hại. Thân thể là nơi trú ngụ của vi trùng, giòi bọ, thân thể ta là nhà bảo sanh, là bệnh viện, là nhà cầu, là sân chơi, là mộ địa của chúng, lại nuôi dưỡng nhiều thứ bệnh tật, cũng như có thể bị tiêu diệt do đủ thứ tai nạn bất ngờ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 98 *
device

5) Àyudubbalato : Mạng sống của chúng sanh rất mong manh yếu ớt, ta sống được là nhờ sự điều hòa tứ đại, của bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), của hơi thở ra thở vô, của vật thực ...
6) Animittato : Sự chết đến bất ngờ không chừng đổi, ta không thể tiên đoán được ta sẽ chết từ trong thai hay thọ đến 100 tuổi, chết vì bệnh gì, vào buổi sáng hay buổi tối, chết ở nơi đâu, sau khi chết sẽ tái sinh vào cảnh giới nào ...
7) Addhanaparicchedato : Sinh mạng con người ngắn ngủi như sương đọng trên cỏ trước khi mặt trời mọc, như lằn vạch trên mặt nước, tan mất liền khi ta lấy tay lên, như hơi thở ra vào ...
8) Khanaparittato : Mạng sống chúng sinh chỉ ngắn bằng một sát na, thời gian của một chập tư tưởng.
Phép Niệm Chết có mục tiêu biến cái chết thành người bạn đồng hành với hành giả trong đời sống, khiến hành giả nhân đấy : (i) chẳng còn sa mê theo sự sống, nghĩa là không bị chìm đắm trong ý nghĩa sai lạc rằng ta chưa chết vội và còn sống lâu, do đó hành giả luôn luôn tinh tấn làm những việc lành ; (ii) dứt bỏ tâm ưa thích trong sự sống và chán nản sự tái sanh làm trời, người nhờ vậy hành giả ráng thực hành phạm hạnh để đạt đạo quả và Niết Bàn ;  (iii) không quyến luyến đắm trước trong các sự vật mình đã sở hữu được, vô trước ; (iv) không dám làm các điều ác ; (v) không tham lam trong của cải, lợi danh, quyền lực ... ; (vi) chẳng phải là người bỏn xẻn keo kiệt trong việc sử dụng tài sản ; (vii) biết rõ các pháp Vô Thường, Khổ Não, Vô Ngã trong các sắc tướng ; (viii) chẳng kinh sợ (vô úy) và loạn tâm trong lúc chết ; (ix) chết rồi được tái sanh trong cõi an vui.
 
 
 

* Trang 99 *
device

Chín phước báo trên đây có những phước báo tương đương với những hệ quả do thái độ chấp nhận ý nghĩa cái chết trong tư tưởng Heidegger : ý thức về tính cách hư ảo của thế gian (vô thường) lòng khoan dung đối với đời sống trong nỗ lực thực hiện các hạnh lành cho tha nhân ; tinh thần vô trước ; vô úy, không sợ hãi trước cái chết do đó không sợ hãi bất cứ tai ương nào trong đời sống, nghĩa là được tự do trước mọi biến cố. Cứu cánh sau cùng này tự do trước cái chết (Freiheit zum Tode) của tư tưởng Heidegger, được đặc biệt nhấn mạnh trong Phật giáo Tây Tạng với cuốn Kinh Nhật Tụng Của Người Chết (23). Kinh này mô tả ba giai đoạn của sự chết để hành giả tập làm quen với thực tại khủng khiếp này mà tâm vẫn an nhiên tự tại. Giai đoạn Chikhai Bardo, mô tả những biến chuyển tâm lý vào lúc chết ; giai đoạn Chõnyid Bardo mô tả những ảo giác do nghiệp lực gây ra liền ngay sau khi chết và giai đoạn Sidpa Bardo đề cặp đến bản năng thác sinh và những biến cố thai bào. Dựa trên nền tảng lý thuyết : trực quan tối thượng và sự giác ngộ hay ngay cả sự giải phóng cuối cùng (thành Phật), đều diễn ra trong quá trình hiện tại của sự chết, chủ ý của cuốn Kinh Nhật Tụng nói trên là ở mỗi một giai đoạn liên tục của sự bối rối xao xuyến và tan vỡ ảo tưởng nơi người chết, thu nhiếp tâm niệm của người chết vào cái khả năng hằng hữu dẫn đến sự giải phóng tâm linh, cùng giải thích cho họ nghe bản chất đích thực những ảo tưởng họ nhìn thấy khi chết. Người chết chẳng những phải đối mặt với cái chết một cách bình thản, sáng suốt và dũng cảm mà còn phải có một tâm trí được huấn luyện và điều hướng đúng pháp, để nếu cần, họ thắng vượt được những đau đớn thể xác bằng chính sức mạnh tâm linh của mình và cất cao tiếng hát chào đón cái chết như một quá trình tự nhiên, tất yếu. Như
 
 
(23) sách đã dẫn ở (7)
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 100 *
device

Thanh Tịnh Đạo đã xác quyết : Chỉ có sự đau khổ chứ không có người đau khổ, chỉ có hành vi chứ không có người hành động, cũng thế ta có thể nói về cái chết : chỉ có quá-trình-chết chứ không có người chết. Thâm nhập được lý vô ngã ấy, con người đã bước chân đến gần tự do tối thượng, thành đạt được qua nhiều kiếp sống và sự chết bằng quyết ý và hành vi sáng tạo của mình. Trên bình diện tâm linh, hiểu theo nghĩa tượng trưng, Kinh Nhật Tụng Của Người Chết dạy cho ta cách chết giữa đời sống, chết với quá khứ, chết với cái ngã cũ kỹ, để tái sinh vào một cảnh giới tinh thần mới trong đó ta được tự do tuyệt đối vì đã trực nhận rằng tất cả những biến cố đau đớn hay những hạnh phúc tuyệt vời trên trần gian này đều chỉ là những giấc mộng. Cái chết cũng chỉ là một giấc mộng nằm trong một giấc mộng dài là cuộc lang thang qua ngàn kiếp lạ.
Cái chết làm hiển hiện lên tất cả những ý nghĩa rực rỡ của bài kệ trong Kinh Kim Cang :
nhất thiết hữu vi pháp
như mộng, huyễn, bào ảnh
như lộ diệc, như điển
ưng tác như thị quán
(các hiện tượng của đời sống đều như giấc mộng, như ảo ảnh, như bọt nước, như chiếc bóng, như sương nhấp nhoáng, như chớp giăng, phải nên quan sát như thế).
Cái chết xô ta vào trong nỗi xao xuyến bàng hoàng, kinh hoảng (Unheimlichkeit) kiến ta thấy mình và thế giới đều chỉ là hư ảo, con người là "đại biểu của hư vô" nhưng khi chấp nhận cái chết thì cái chết mở ra con đường giải phóng : con người biến thành "mục tử chăn giữ tính thể" và "an ngụ thong dong bên tính thể" (Heimat der Nãhe des Seins). Đấy là nội dung tư tưởng Heidegger, được xem là tư tưởng đưa ra một kiến giải mới mẽ triệt để về cái chết trong suốt dòng
 
 
 
 

* Trang 101 *
device

triết sử Tây phương, kể từ các triết gia Hy Lạp thời tiền Socrate đến nay (24).
Cái chết săn đuổi ta trong từng sát na và tính cách vô thường của vạn pháp khiến ta trực nhận ra ta và thế giới chỉ là một giấc mộng do Tâm tạo ra. Nhưng khi tập sống với nỗi chết qua cơn mộng ảo, thì cái chết cũng là một trong những lộ trình đưa đến giải thoát, vì theo Phật giáo con người chỉ giải thoát từ đời sống mộng ảo hiện thời : Sanh Tử tức Niết Bàn.
Khi được một sinh viên hỏi quan niệm của ông về cái chết, nhà bác học Oppenheimer - cha đẻ ra bom nguyên tử cùng với Einstein - trả lời :" Vấn đề này đã được đức Phật giải quyết cách đây hai mươi lăm thế kỷ, nay không có gì phải bàn thêm". Trong cơn bảo lửa điên cuồng hiện nay ở Việt Nam, có cần học lại bài học về Nghệ thuật Chết của Phật giáo và sự "tự do trước cái chết" của Heidegger chăng, để đương đầu với một cơn một dữ.

 
CHƠN HẠNH
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 102 *
device

NHÀ XUẤT BẢN
QUẾ SƠN VÕ TÁNH
hân hạnh giới thiệu kiệt tác
Kẻ Tiên Tri
(The Prophet)
của
KAHLIL GIBRAN
Bản Việt Ngữ của Hồng Hà
Nguyễn Hữu Hiệu giới thiệu
"Kẻ Tiên Tri" ngoài huyền học Ả Rập, còn bàng bạc khí thế kiêu dũng uy nghi của "Also Sprach Zarathustha" của Nietzsche, vẻ đơn giản thâm trầm của "Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng" của Krishnamurti, nỗi ôn nhu từ ái của "tâm tình hiến dâng" của Tagore.
Vì minh triết và tính cách thơ mộng của nó, "Kẻ Tiên Tri" đã trở thành một cuốn sách gối đầu giường cho nhiều thế hệ thanh niên hiện đại như cuốn "Câu Chuyện Dòng Sông" (Sidharta) của Hermann Hesse thuở nào.
TỦ SÁCH ĐẠO SĨ TRIỆT GIA
VÀ NGHỆ SỸ NHÂN LOẠI
phát hành đầu tháng 4
SOCRATE
của Lê Tôn Nghiêm
đầu tháng 5
VINCENT VAN GOGH
của Nguyễn Hữu Hiệu
 
 
 

* Trang 103 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1971)