LOGO VNBET

VẠN HẠNH VỚI QUỐC HỌC

NGUYỄN ĐĂNG THỤC

Hai chữ Vạn Hạnh đặt tên cho một trường Đại học Phật Giáo Việt Nam đầu tiên thực có bao hàm một sứ mệnh lịch sử, Sứ mệnh ấy là cả một gia bảo tinh thần mà Phật giáo đã cống hiến cho dân tộc chúng ta trải có hơn ngàn năm lịch sử có ký chú. Đáng chú ý nhất là cái khuynh hướng Phật giáo sau khi đã Việt hóa, mà thiền sư Vạn Hạnh đại diện, ngay từ bước đầu của dân tộc mới giải thoát khỏi ách đô hộ của Trung hoa, để xây dựng một quốc gia hùng cường đầy đủ chủ quyền ở góc trời Đông Nam Á châu, ấy là triều đại nhà Lý vậy.
Bình luận về lịch sử triều Lý, sử gia Việt danh tiếng Ngô Thời Sỹ đã viết :
"Nước ta dánh nhau với quân nước Trung hoa nhiều lần từ Vua Nam Đế trở về trước, việc đã lâu rồi, sau này Ngô
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

* Trang 7 *
device

Tiên Chúa đánh trận Bạch Đằng, Vua Lê Đại Hành đánh trận Lạng Sơn, Vua Trần Nhân Tông đánh đuổi được Toa Đô, Thoát Hoan, những trận thắng vẻ vang đó là những câu chuyện hãnh diện của nước ta, nhưng đều là giặt đến đất nước bất đắc dĩ phải ứng chiến. Còn như đường đường chính chính đem quân vào nước người, khi đánh không ai địch nổi, khi kéo quân về không ai dám đuổi theo, như trận đánh Ung Châu, Châu Liêm thật là đệ nhất võ công từ đấy người Tàu không dám coi thường chúng ta nữa. Đến những đồ cống,hình thức thơ từ không dám hạch sách, chỉ sợ lại sinh ra hiềm khích. Đến thơ từ của nước ta đưa cho Trung hoa chỉ dùng có hai tấm ván sơn đen, liệt tên vì vị đại thần, dùng ấn tính Trung Thư môn hạ đóng vào, thế thì triều Lý được trịch thượng với Tông nhiều lắm. (1)
Trên đây Ngô Thời Sĩ tuy là tính đồ Nho giáo, vốn độc tôn không ưa Phật giáo, nhưng cũng không thể không công nhận triệu đại nhà Lý, sau chiến công oanh liệt của Lý Thường Kiệt, quả là một triều đại oai hùng hơn cả triều đại Trần Lê về sau. Nhưng họ Ngô không xét đến nguyên nhân sâu xa của sức oai hùng, cái "võ công đệ nhất" kia từ đâu mà có, cùng là cái ý thức về quốc thể làm cho " người Tàu không dám coi thường chúng ta"? Nhà Lý mà có được "võ công đệ nhất" như thế là vì có năng lực tinh thần hết sức mạnh mẽ để phụng sự dân tộc, tranh thủ chủ quyền độc lập như bài thơ lịch sữ đã lưu truyền cái ý thức dân tộc hêt sức hàm xúc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lô lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Sông núi nước Nam dân Nam chủ
Phân minh định rõ tại sổ trời
Ngoại lai quân dám qua xâm phạm
Bay hãy chờ thua uổn xác thôi



(1) Ngô Thời Sĩ : Việt sữ Tiêu án
 
 
 
 

* Trang 8 *
device

Đấy là bài hịch xuất quân đáng Tống của Lý Thường Kiệt, đời sau không ai chẳng ghi nhớ làm kinh nhật tụng, toát yếu cả một cái ý thức hệ lập quốc của dân tộc. Chính nó đã là quốc hồn quốc túy Việt Nam, đem lại "chiến cọng đệ nhất" của triều đại nhà Lý, Bắc đánh Tống, Tây đánh Đại Lịch, Nam mở đường Nam chiến đánh Chiêm thành.
Vậy có được chiến công là vì có ý chí thống nhất triệu người như một, có được tinh thần tự do độc lập, có tin tưởng nhiệt thành dân tộc. Tóm lại là được sức mạnh tinh thần tập trung vào một lý tưởng, tức là có được một ý tưởng lực (Idea force) vậy. Cái ý tưởng lực ấy tiền nhân chúng ta thời Lý đã tìm thấy ở đâu? Và những con người tài ba kia từ trong cái lò huấn dục nào đào tạo nên? Nhà sử gia cũng tự hỏi về trường hợp của hai nhà thiền sư là Ngô Chân Lưu và Đổ Thuận giúp Vua Lê Đại Hành về chính trị ngọi giao với nhà Tống:
"Xét sử, một thời Vua Đại Hành không thấy có nhắc gì về đến học hiệu và khoa cử, những thư từ đi lại thời bấy giờ như là thư xin tập vị, lời nói uyển chuyển và đắc thể, đến bài nối vần thơ Thiên Nhai, ca khúc tiền sứ thần, tình ý lanh lẹ đầy đủ tình tự, văn nhân cũng không thể hơn được, không biết học hành tự đâu? Người nah hùng hơn đời thì đời nào cũng không thiếu, cho nên tuy không thấy có sự dạy dỗ hay có những vị Nho thần khởi thảo và nhuận sắc, nhưng mà như Hồng Du học thức uyên bác làm đến chức Thái sư, Ngô Chân Lưu là cao tăng mà sung việc ứng đối với sứ Tàu củng làm nổi trách nhiệm thù phụng" (1)
Nhà Sử gia họ Ngô chỉ biết có Nho học độc tôn mới đào tạo được trí thức lãnh đạo, có biết đâu từ Sĩ Nhiếp về sau, suốt một ngàn năm đô hộ đã bao phen anh hùng tài ba không xuất thân từ trong cửa Khổng sân Trình mà ra mà là từ trong các
 
(1) Ngô Thời Sĩ, Việt sữ tiêu án.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 9 *
device

cửa Chùa của nông dân, đã đứng lên lãnh đạo cách mệnh dân tộc ví như Lý Phật Tử vào thế kỷ VI. Lại trong khoảng nhà Đường đô hộ Giao Châu đã có một số Thiền Sư  danh tiếng từng ngâm vịnh với các danh sĩ Tàu thời Thịnh Đường, nào là thi sĩ Tàu Dương Cự Nguyên tặng thơ Phụng Đình Pháp sư về Việt Nam, nào Trương Tịch tặng Tăng Nhật Nam trong núi, nào Giả Đảo tiển thơ nhà sư An Nam Duy Giảm .vv.. "Đời Đường văn nhân xướng họa, nhận được thơ tặng tất có thơ thù đáp, đủ biết người Việt Nam làm thơ cũng nhiều, tiếc rằng nay không biết tra cứu vào đâu".(1)
Như vậy thì trước khi có học hiệu và khoa cử của Nho giáo nhân tài tri thức Việt Nam đã do giới Thiền Sư đào tạo trong các ngôi Chùa rất nhiều, dùng làm học hiệu để giảng dạy cả sách Phật lẫn sách Chu Tử qua Hán văn. Bởi thế nên cách Thiền Sư lúc bấy giờ đều thông thạo văn học chữ Hán, không những giỏi Phật học mà còn thông Nho học, Đạo học lẫn Cữu Lưu (Kinh, Sử, Tử, Tập) bằng chứng là những bài thơ "kệ" chữ Hán của các Thiền Sư để lại đều là văn chương điêu luyện, ý nghĩa hàm súc thâm trầm.
Năm thừ 3 niên hiệu Đại Thuận (1130), Vua Lý Thần Tông vào điện Sùng Khai hỏi cái lý thên hạ sở dĩ trị, loạn, hưng, vong. Sư Viên Thông tâu đối :
"Thiên hạ ví như cái đồ dùng, đặt vào nơi yên thì yên, đặt vào nơi nguy thì nguy, chỉ ở tại cái đưc của Vua thực hành khác nhau thôi. Đức hiếu sinh của nhà Vua, thấm nhuần đến nhân dân, nên dân yêu Vua như cha mẹ, tôn Vua như mặt trăng mặt trời, thế là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy".
Sư lại nói :"Trị loạn ở các quan, dùng được người tốt thì trị, dùng phải người xấu thì loạn. Bần đạo trải xem các Đế vương đời trước, chưa từng chẳng vì dùng được người quân từ mà được thịnh trị, vì dùng phải kẻ tiểu nhân mà nguy vong.
 
 
(2) Lã Sĩ Bằng, Bắc Thuận Thời Kỳ Đích Việt Nam, Hương Cảng, 1964

 
 
 
 
 
 

* Trang 10 *
device

Xét nguyên lai của sự thể ấy không phải một sớm một tối đâu, do lai dần dần từ lâu. Trời đất không thể làm nóng lạnh đột nhiên, ắt phải dần dần từ xuân sang thu. Nhà Vua không thể làm thành trị loạn thình lình ngay được, tất cả cũng phải dần dần từ xấu đến tốt.
"Các thánh vương đời xưa đã biết như thế. Cho nên bắt chước phép tắc của Trời thì chăm tu sửa đức mình, bắt chước phép tắc của Đất thì chăm tu sửa đức yên dân. Sửa mình là thận trọng bên trong, run sợ như đi trên lớp băng mỏng. Yen dân là kính cẩn đối với kẻ dưới, nơm nớp lo sợ như cầm cương ngựa mục mà rong ruổi.
"Được như thế thì không nước nào khong thịnh trị, trái lại thì không ở đâu là không bại vong. Ấy là cái mầm hưng vong là ỏ tại đấy vậy." (1)
Những tư tưởng chánh trị vương đạo trên đây của Viên Thông hoàn toàn thuộc về Nho học, như ở trong Kinh Thư và Kinh Dịch không có chi giống với ở Kinh Phật cả.
Lại xem như bài văn bia Chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn củ Thích Pháp Bảo Hải Chiếu Đai Sư soạn năm 1126 để ca tụng công trạng Lý Thường Kiệt, thì đủ thấy tinh thần Phật giáo của các Thiền Sư Việt xưa đã tha thiết với dân tộc, đem năng lực tín ngưỡng tâm linh Phật giáo để phụng sự vậy.
Phiên âm bài văn Bia Chùa Linh Xứng :
"Tam giới luân hồi, tứ sinh trì dục. Vọng niệm sở sinh, sắc tâm điến phúc. Thượng tứ tham sân, khiên triền ái dục. Khởi tự hoàng an, vô năng yếm túc.
"Chí tai! Chân như! Thể lượng Thái hư. Thần nhi bất trắc, hóa sinh hửu dư. Nhất vũ bái nhuận, tam thảo manh thư. Pháp tràng đại thụ, tà võng đốn trừ.
 
 
(1) Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục.
 
 
 

* Trang 11 *
device

"Việt hữu Lý Công, cổ nhân chuẩn thức. Mục quận ký ninh. Chưởng sư tất khắc. Danh dương cực Hạ, thanh chấn hà vực. Tôn giáo qui sùng, cảnh phúc thị thực.
"Sơn chi tuấn hề, tủng tình không,
Hiền tể trị hề, sưởng quyết công;
Tuyệt đính nguy hề, điện tháp sùng,
Tượng kim nghiệm hề, thực giới hùng,
Phúc tường tập hề, chúc thần chung,
Bảo lịch miên hề, thế sương long;
Tục tận biến hề, tích hà cùng,
Khắc minh vĩnh trác, yên lam trung".
(Ngưỡng Sơn Linh Xứng Tự Bi 1126)
Dịch nghĩa:
Ba cõi luân hồi, bốn đời lăn lóc.
Vọng niệm sinh ra, đảo điên tâm sắc.
Phóng túng tham sân, triền miên (ái dục).
Nào có yên đâu, làm sao mãn túc.
Cùng cực Chân Như, thể lượng Thái Hư.
Thần linh khó lường, biến hóa có thừa.
Mưa xuân một trận, cây cỏ manh nha.
Cờ Pháp dựng lên, tà ma liền trừ.
Việt Nam Lý Công, theo dấu người xưa.
Trị dân được an, cầm quân không thua.
Lừng tiếng Trung Hoa, vang danh gần xa.
Dựng Chùa nơi đây, sùng tín Phật đà.
Núi cao thay, trừ ngất từng không.
Hiền tể trị, trừ đã rõ công.
Điện pháp vòi vọi lớp chập chùng.
Tượng vàng trang nghiêm vẻ oai hùng.
Điềm lành nhiều hề chúc Thượng hoàng.
Trị vì dài lâu đời thịnh long.
Hóa tục khắp cả đến hang cùng.
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 12 *
device

Bia đá lâu bền với núi sông.
(Bia Chùa Linh Xứng Núi Ngưỡng Sơn do
Lý Thường Kiệt sai dựng tại Thanh Hóa 1126)
Đây là tinh thần tiêu biểu cho thời Lý được Phật giáo Việt Nam ca tụng, vì đã phối hợp được Chân Như của nhà Phật với Thái Hư của nhà Nho thành cái năng lực sáng tạo "hỏa sinh hưu dư" ví như trận mưa làm cho thảo mộc manh nha vậy. Nó là cái tinh thần tổng hợp Việt Nam đạt tới nguồn sống vũ trụ hóa duy nhất. (L'Unité de Vie cosmique) như Thiền Sư Vạn Hạnh đã thực hiện đến chỗ viên mãn.
"Dung tam tế" tinh thần quốc học Việt của Vạn Hạnh. Vạn Hạnh là một Thiền Sư đã có công nuôi nấng và đào tạo tinh thần cho Vua khai sáng ra nhà Lý là Lý Công Uẩn, tức là Lý Thái Tổ vậy.
"Công Uẩn, người làng Cổ Pháp thuộc Bắc Giang, tư chất thông sáng, hình dạng tuấn tú khác đời. Khi còn nhỏ, thường học nhà Sư Vạn Hạnh. Sư Vạn Hạnh thấy làm lạ, nói rằng : Người này không phải tầm thường, mai sau tất làm Chúa cả nước".
(Việt sử Thông giám Cương mục Chính biên)
Ngô Thời Sĩ trong "Việt Sử Tiêu Án" cũng bàn rằng :
"Vua Lý Thái Tổ sinh trưởng nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, Vạn Hạnh dạy dỗ, thuyết nhân quả ăn sâu ở trong lòng, cho nên khi mới kiến quốc đã kiến tạo nhiều chùa, cấp điệp độ Tăng chúng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật, bất luận hiền ngu muốn cho qui Phật, đến đời sau nhà Lý mới khởi lên ngôi chùa cao sát mây, lập nên cột chùa bằng đá cao vót, lấy sự thờ Phật làm việc thường phải có của một nước". ?(1)
 
 
(1) Ngô Thời Sĩ, Việt sử Tiêu án, bản dịch Văn Hóa Á Châu, tr 108
 
 
 
 
 
 

* Trang 13 *
device

Sự thực cho đến 1075 nước ta mới có chế độ khoa cử và học hiệu, đến 1070 mới xây dựng Văn Miếu để thờ phụng các Tiên Thánh Nho giáo, đến 1075 tháng 2 mới có chiếu tuyển thi Minh Kinh Bác sĩ và thi Tam trường Nho học, năm 1086 tháng 8 thi các nhà văn học trong nước để bổ vào Viện Hàn Lâm. Mãi đến thời Lý Nhân Tông (1072 - 1127) năm 1075 mới có Lê Văn Thịnh qua khoa cử Nho học ra làm quan, còn ba triều về trước đều là nhân tài chọn trong hàng Thiền sư như cái học của Vạn Hạnh cả.
Vạn Hạnh theo sử gia Ngô Thời Sĩ viết :"Có kiến thức cao siêu, thần toán, biết trước mọi việc, cũng là tay xuất sắc trong giới Thiền". (Việt sử Tiêu án). Đủ rỏ tư tưởng Vạn Hạnh không những đã hun đúc ra Lý Thái Tổ, mà còn ảnh hưởng sâu rộng mấy triều Vua đầu nhà Lý và cả về sau này đã trở nên tinh thần quốc học Việt Nam vậy.
Sách "Truyền Đăng Tập Lục" viết (2) :
"Vạn Hạnh Thiền sư ở chùa Lục Tổ Làng Dịch Bản phủ Thiên Đức, là người làng Cổ Pháp. Vốn họ Nguyễn, nhà thờ Phật đời đời. Thủa nhỏ khác thường, quán thông ba môn học, nghiên cứu Bách Luận của Trung Quán (Madhyamika) xem công danh phú quý lãnh đạm. Năm 21 tuổi ông xuất gia cùng với Định Huệ theo học Lục Tổ Thiền Ông. Ngoài giờ hầu hạ, ông học hỏi không biết mỏi mệt. Sau khi Thiền Ông mất rồi, ông chuyên tập môn "Tam Ma Địa" (Samadhi) lấy đường tu riêng, thỉnh thoảng nói lên lời nào ắt thành phù sấm".
 Vua Lê Đại Hành (981) rất kính trọng. Năm đầu niên hiệu Thiên Phúc, tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo sang xâm
 
 
(2)Vì kỹ thuật ấn loát, tòa soạn lược bỏ đoạn phiên âm Hán văn, nhưng sẽ ghi lại những điểm cần thiết ở chú thích - Tòa soạn
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 14 *
device

lược, đóng quân ở Cương Giáp trấn Lạng Sơn, triệu hỏi Sư về sự thắng bại. Sư thưa :"Trong ba bảy ngày giặt tất lui!" (3x7=21). Quả nhiên đúng như thế. Đến khi sắp đi đánh Chiêm Thành, đình nghị chưa quyết định ra sao. Sư tâu xin phát quân đi gấp khỏi mất cơ hội tốt. Sau quả nhiên thắng trận.
Bây giờ có kẻ gian tên là Đỗ Ngân muốn mưu hại Sư, Sư đã dự biết trước khi nó hành động, mới gửi cho nó một bài kệ rằng : (1)
"Thổ. mộc sinh nhau tựa bạc vàng.
Cớ sao mưu hại ta giấu trong lòng?
Lúc này lòng ta buồn hết sức.
Nhưng thật không oán hận tới kiếp sau".
Nghĩa là : chử Thổ với chử Mộc cùng với Ngân và Kim vốn tương sinh (Mộc sinh Hỏa, Thổ, Kim, Thủy). Và tương khắc (Mộc khắc Kim, Thủy, Hỏa, Thổ). Ngũ với Khẩu là Ngô là ta. Chữ Thu với chữ Tâm là chữ Sầu là buồn.
Tên Ngân sợ không dám hành động nữa. Ấy đại khái Sư có tài độn số như thế, xem điều đã qua biết điều sắp tới. Đấy là lòng tha thứ vô biên, không lấy hận thù để trả lại oán thù của Thiền Sư.
Thời ấy Vua Ngọa Triều bạo ngược, Trời và người đều chán ghét, Lý Thái Tổ còn làm quan Thân Vệ, chưa lên ngôi. Trong khoảng thời gian này các điềm gở, điềm lành đã hiện ra như ở viện Hàm Toại, Chùa Ứng Thiên Tâm, ở châu Cổ Pháp, có con chó trắng trên lưng lông kết thành hai chữ Thiên Tử là Vua. Sét đánh cây gạo in thành chữ. Ngôi mộ Hiển Khánh Đại vương, bốn phía đêm nghe có tiếng đọc thơ,
 
 
 
(1) Thổ mộc tương sinh ngân dữ kim. Vi hà mưu ngã uẩn linh khâm. Đương thời ngũ khẩu thu tâm nguyệt. Chân chí vị lai bất hận tâm. (Tòa soạn)
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 15 *
device

cây đa chùa Song Lâm sâu ăn vỏ lá có vết hiện ra chữ Quốc; ấy đại khái như thế rất nhiều. Sư đều tùy sự trông thấy, tai nghe mà phân tích ý nghĩa đúng với điều họ Lê tàn, họ Lý thịnh. Vì thế nên ngày Lý Thái Tổ lên thay nhà Lê. Sư ở tại chùa Lục Tổ đã biết trước mà bảo với hai ông anh em vua rằng :"Thiên Tử đã băng hà. Lý Thân Vệ hiện đang túc trực ở trong thành. Chỉ trong ngàn ngày nửa Thân Vệ tất được cả thiên hạ. Rồi yết bảng thông cáo ở đường cái rằng : (1)
Tật Lê trầm bể bắc
Hạt Lý mọc trời Nam
Bốn phương gươm giáo dẹp
Khắp cỏi hưởng bình an.
Hai ông chúa nghe nói rất sợ hãi, mới sai người đi hỏi tin tức, quả đúng như lời Sư nói trước.
Đến ngày 15 tháng 5 năm thứ 16 niên hiệu Thuận Thiên (1025) Sư vô bệnh thuyết bài kệ (2):
"Thân người chớp bóng có rồi không.
Cây cỏ xuân tươi, tàn thu đông.
Theo vận tuần hoàn đừng lo ngại.
Thịnh suy ngọn cỏ hạt sương trong".
Rồi chỉ cho đệ tử :"Các con đòi đi về đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ, không tựa vào trụ để trụ (3)". Nói xong một lát thì hóa. Vua quan làm lễ hỏa thiêu, lượm cốt đựng tháp để thờ.
 
 
 
 
(1) Tật Lê trầm bắc thủy. Lý tử thụ Nam thiên. Tứ phương can qua tĩnh. Bát biểu hạ bình an. (Tòa soạn)
(2) Thân như điện ảnh hữu hoàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. (Tòa soạn)
(3) Ta không ... trụ ; Hán văn :"Ngã bất dĩ sở trụ nhi trụ, bất ỷ vô trụ nhi trụ" (tòa soạn)
 
 
 
 

* Trang 16 *
device

Về sau Vua Lý Nhân Tông có bài kệ truy tặng :
"Vạn Hạnh thông ba cõi.
Thật như lời sấm xưa.
Quê hương nơi cổ pháp.
Chống trượng trấn Kinh đô (4)"
(4) Đại Nam Thuyền Uyển Truyền Đăng Tập Lục
Những tài liệu lịch sử kể trên cho ta thấy được phần nào tinh thần thiền học đặc biệt của một nhà sư Phật Việt Nam đã quyết định chiều hướng tiến hóa của dân tộc. Cái tinh thần ấy trước hết là :
1) Quán tam học có nghĩa là Sư Vạn Hạnh cũng như các Thiền sư lúc bấy giờ đều học thông cả Phật học, Nho học và Lão học. Riêng Vạn Hạnh còn đặc biệt sở trường về Dịch học đem ứng dụng vào khoa tiên tri, độn giáp , để biết trước khi hành động. Ngoài ra, về Phật học Vạn Hạnh đã nghiên cứu sâu xa Bách Luận (Santasãtra) một trong Tam Luận của Trung Quán Luận (Mãdhyamika) gồm 100 bài thơ, mỗi bài 32 chữ, gán cho của Deva Bodhisattva, viết bằng tiếng Sanskrit mà Kumàrajiva (Cưu ma la thập) đã dịch ra Hán văn. Vậy có thể đoán biết rằng trong thời kỳ Vạn Hạnh theo học Thiền Tông thì khuynh hướng tư tưởng đã đi về Trung quán, phủ nhận sự có thật của thế giới hiện tượng và giới thuyết thế giới siêu hiện tượng hay là tự thể bằng lối phủ định nhưng không phải như thế là hư vô tịnh tính, mà chỉ tỏ rằng tự tính hay thực tại tuyệt đối thì bất khả tư nghị, vượt lên trên tất cả hình, danh, sắc, tướng, như Vạn Hạnh đã căn dặn lại đệ tử :"Ta không lấy chỗ trụ để mà trụ, cũng không dựa vào chỗ không trụ để mà trụ". Đấy là biện chứng thực hiện ý thức giác ngộ, không có, không không, vượt lên cả có và không của ý thức danh lý (conscienca rationnelle) đế cõi tâm linh thực nghiệm. Quả nhiên sau khi Thiền Ông tịch rồi, Vạn


 
(4) Đại Nam Thuyền Uyễn Truyền Đăng Tập Lục
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 17 *
device

Hạnh chuyên tập khoa Tam Ma Địa (Samadhi) tức là khoa thực hiện tâm linh vậy.
Samadhi là danh từ Sanskrit chỉ định cho một quá trình tâm lý thực nghiệm nhằm mục đích tập hợp năng lực tinh thần không cho phóng ra ngoài, vọng động. Nó gồm những trình tự như sau :
  1. Chính - Định : là khi tinh thần tập trung và không còn vọng động nữa.
  2. Chính Thụ : là giữ cho cảm giác được ngay thẳng vào đối tượng quan chiêm.
  3. Chính Tâm Hành Xứ : là điều kiện đạt tới khi nào giữ được cảm xúc tập trung và hòa hợp với đối tượng .
  4. Tức Lự Ngưng Tâm : khi nào hết đãng trí, hoàn toàn tập trung nguyên chất.
  5. Đẳng trì : khi nào tinh thần được quân bình.
  6. Samatha hay là Chỉ Tức ngưng thở.
Đây là trình tự tập trung tinh thần vào đối tượng, mục đích giải thoát sang bình diện không hệ lụy vào sự đời, vào dục vọng tái sinh. Tinh thần cứ siêu hóa mãi cho đến thuần hóa (extate mystique). Trạng thái thần hóa cao nhất của tâm linh học Phật giáo là Tam Ma Địa (Samadhi). Nhà Thiền học tin rằng với phương pháp "Tổng trì Tam Ma Địa" ấy, khi nào tinh thần đi đến "tứ chuyên" thì ý chí hết phân hóa, khi nào tư tưởng ngưng hoạt động "tưởng tịch" thì khí chất thăng hoa (sublimé) và tâm linh được khai phóng, "khí hư thần lãng" trong ấy khả năng hiểu biết phát triển vô cùng, không có điều thần bí gì mà không chứng nghiệm được nữa. (1)



 
(1) Theo W.E.Soothill, Hán Anh Phật Học đại từ điển.
(1) Trang Tử, Nam Hoa Kinh, bản dịch Nhượng Tống.

 
 
 
 

* Trang 18 *
device

Đấy cũng ví như thực nghiệm tâm linh mà Trang Tử đã mô tả ở thái độ tọa vọng "ngồi mà quên" trong thiên "Đại tông sư" :
"Vương rớt chi thể ; truất bỏ thông minh ; lìa hình ; vất trí ; hợp cùng với đạo lớn ; thế gọi là ngồi mà nên". (2)
Hay là ghép "chay tịnh của lòng" "tâm trai" ở Thiên nhân gian thế :
"Hãy chuyên nhất chí mi! Không nghe nó bằng tai, mà nghe nó bằng lòng, không nghe nó bằng lòng mà nghe nó bằng khí. Nghe dừng ở tai, lòng dừng ở chỗ hợp. Khí là cái hủ không mà đợi vật. Chỉ có đạo là hợp được hư không, hư không là phép chay tịnh của lòng". (1)
Tóm lại "Samadhi" hay "Tam ma địa môn" là khoa luyện tâm để vượt lên ý thức tối cao, ý thức tâm linh hay thần thức vốn là trọng tâm của các nhà thần bí (mystic) học ở các tôn giáo tâm linh. Nhà nghiên cứu có phương pháp khoa học đầu tiên về ý thức tâm linh là William James có xác định trong "The Varieties of Religions Experience".
"Ý thức bình thường của chúng ta, ý thức danh lý (rational consciousness) như chúng ta đã nói, chỉ là một mẫu ý thức đặc biệt, còn tất cả các cái chi liên thuộc vào nó, phân cách với nó bằng bức màn mỏng còn cả những ý thức tiềm tàng của ý thức hoàn toàn khác với ý thức danh lý".
Nhận định trên rất thích hợp với ý thức tâm linh thần bí. Chúng ta biết rằng hàng ngày chúng ta ai cũng kinh nghiệm trải qua ba loại ý thức, hay đúng hơn ba bình diện của tinh thần, là thức, mộng và ngủ say khác nào như ba tầng của một ngôi nhà. Tầng dưới thuộc về xúc giác của cơ thể cùng thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Tầng thứ 2 gồm những hình ảnh mà chúng ta nghĩ như là phản chiếu cảm giác. Tầng thứ bà là bình


 
(1) op.cit.
 

 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 19 *
device

diện của lý trí tạo tác ra khái niệm hay danh lý (concept logique).Ở tầng này chúng ta thấy biểu diễn suy tưởng trừu tượng. Nhưng tất cả sự kiện trên đều thuộc về ý thức bình thường ở trạng thái thức hay mộng. Ở đấy xuất hiện các yếu tố nhận thức cơ bản chúng chi phối xúc động, dục vọng và ý muốn. Chúng ta có thể gọi tổng quát là ý thức cảm nghĩ (sensori-intellectual-consciousness). Ngoài ra còn lúc ngủ say hay "thụy miên" và bất tỉnh nhân sự hay "muội tuyệt". Ý thức tâm linh cũng ví như trạng thái ngủ say người ta tỉnh dậy còn nhớ phảng phất đã ngủ một giấc ngon lành. Bởi vì cái ý thức tâm linh thần bí kia không có cảm giác, ý niệm hay ý nghĩa chi hết, hoàn toàn khác với ý thức cảm nghĩ, ngoài kích thước với ý thức cảm nghĩ, cho nên các nhà tâm linh thực nghiệm luôn luôn bảo rằng những kinh nghiệm của mình không thể lấy danh từ ngôn ngữ hay khái niệm để mô tả được, vì thực nghiệm tâm linh với danh từ ngôn ngữ đều thuộc về hai bình diện khác nhau của ý thức. Một đàng là Đạo tâm, một đàng là Nhân tâm tuy vẫn chỉ là tâm. "Nhân tâm thì hẹp thòi thiên lệch, Đạo tâm thì vi diệu huyền nhiệm, chỉ tinh khiết thuần nhất giữ lấy bên trong ấy. (Nhân tâm duy nguy. Đạo tâm duy vi, duy tinh, duy nhất, doãn chấp quyết trung) (1).
2) Thực nghiệm Tâm linh Tam Muội. Chính đễ đạt tới chỗ tinh nhất ấy của tâm hay ý thức mà Vạn Hạnh đã tập khoa Tam Ma Địa (Samadhi), sau khi đã quán thông Tam học của Phật giáo nguyên thủy tìm giải thoát cho bản thân mình, ông đã tiến tới triết lý Trung quán của Đại thừa Phật giáo, tự giác giác tha và rồi tìm đem đạo vào đời bằng môn "Tổng trì Tam ma địa" của Mật giáo. Vì có tới đấy Vạn Hạnh mới thấy được cái tâm linh tinh nhất siêu lên trên các hệ thống tri thức đóng cửa để nhìn thấy cái Duy Nhất là bản thể đồng nhất bất phân của tất cả sự vật khác nhau thiên hình vạn tượng và là nguyên lý chung cho các hệ thống triết học nhân sinh và vũ trụ.
 
(1) Thượng Thư.
 
 
 

* Trang 20 *
device

Nhìn quan bài kệ thị tịch của Vạn Hạnh chúng ta thấy cái tư tưởng vũ trụ quán Dịch rất rõ rệt. Câu đầu "Thân như điện ảnh hữu hoàn vô" có nghĩa là Thiền sư đã vượt lên trên sống chết, có không của thế giới hữu hình, với tinh thần lạc quan yêu đời chứ không chút yếm thế cho nên Thiền sư vội tiếp "Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô" nghĩa là thế giới hữu hình biến đổi không ngừng, không có vật nào, sự gì tự nó độc lập tồn tại trong một chóp mắt, tất cả đều hiện ra rồi biến đi như tuồng ảo hóa vậy. Tuy rằng xét riêng từng vật lẻ loi thì nó không có, không tồn tại, nhưng xét toàn thể hiện sinh vật nó liên đới với vật kia, thì tuy biến đổi nhưng vẫn nằm trong cái trào lưu sinh thành đại đồng vẫn là một nguồn sống "sinh sinh bất tức", tràn ngập vũ trụ "chủ lưu lục hư", Cái ấy là Dịch là nguồn sống vĩnh cữu "sinh sinh chi vị Dịch". Và Vạn Hạnh đã cảm thông đồng nhất hóa tâm mình với cái nguồn sống đại đồng ấy, cho nên mới có được cai tính ngưỡng mãnh liệt vào vận mệnh tuần hoàn bất diệt của dòng thời tiết bốn mùa "Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn".
Đã thế còn lo sợ điều chi nữa, chỉ cần làm sao sống theo nhịp điệu vận hành của vũ trụ, của nguồn sống hiển hiện ra thiên hình vạn trạng, đấy là cái ý thức " nhậm vận":
"Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô!"
Đã "nhậm vận" nghĩa là hợp nhất với vận hành của nguồn sống vĩnh cửu thì hết lo thịnh, suy, còn, mất, bởi vì cũng như "Như Lai, không từ đâu đến, không dừng ở đâu, cũng không đi về đâu", đây là triết lý nhậm vận "cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu".
Tinh thần của Khổng Tử đến tuổi bảy mươi (70) đã đạt được như nói ở sách luận ngữ:


 
(1) Thượng thư
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 21 *
device

"Ngô thập hữu ngũ chí ư học.
"Tam thập nhi lập.
"Tứ thập nhi bất hoại.
"Ngủ thập nhi tri thiên mệnh.
"Lục thập nhi nhĩ thuận.
"Thất thập nhi tòng lâm sở dục bất du cũ."
(Luận ngữ nhi)
Nghĩa là : "Ta năm 15 tuổi để chí vào học tập, 30 thì chí đã lập không đổi, 40 tuổi thì lòng hết ngờ, 50 tuổi thì biết được mệnh trời, 60 tuổi thì tai thuận đạo lý, 70 tuổi thì theo lòng mình muốn mà không ra ngoài điều lý vũ trụ".
Đấy là lịch trình tu học biến hóa thân tâm đến trình độ quân bình đồng điệu với nhịp điệu vũ trụ đạo lý vậy. Vậy tinh thần nhậm vận cũng tức là "Tòng tông sở dục bết du cũ".
Cái thái độ sống nhậm vận của Vạn Hạnh trên đây, sau khi đã tập luyện "Tam Ma Địa" hay là thực nghiệm tâm linh là một trình độ của ý thức khai triển phép tu thiền, định như trình bài tượng trưng ở mục "ngưu đồ" sau đây :
Tâm như mục đồng, thân như  trâu :"Tầm ngưu tu phòng tích, Học đạo quí vô tâm. Tích tại Ngưu hoàn tại. Vô tâm Đạo dị tầm".
(Hương Hải)
Tìm trâu tìm dấu chân Trâu,
Dấu còn trâu có mất đâu bao giờ.
Hỡi người học Đạo chớ ngờ.
Vô tâm thì Đạo có cơ dễ tìm" (Mật thể)
  1. Tâm với ý của nhà tập thiền ví như con trâu dại chạy lồng trong rừng, tức là giai đoạn "Vị mục".
  2.  Nhà tập thiền ví như mục đồng đã lừa bắt được trâu xỏ thừng vào mũi, trâu còn hung hăng, đây là giai đoạn hai gọi là "Sơ điều".
  3. Trâu đã chịu mục đồng nhưng mục đồng còn phải nằm giữ, ấy là giai đoạn "Thu chế".
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 22 *
device

  1. Trâu đã thuần, không phải buộc mũi nữa nhưng mục đồng vẫn phải coi chừng, tức là "hồi thủ".
  2. Trâu đã thuần hẵn, mục đồng đi đâu trâu đi theo đấy, ấy là "Thuần phục".
  3. Trâu với mục đồng tin nhau được rồi. mục đồng mặc sức tiêu dao, trâu vẫn theo sát, tức là giai đoạn "vô ngại".
  4. Mục đồng đi đâu trâu theo đấy, hoàn toàn ăn ý với nhau tức là giai đoạn "Nhậm vận".
  5. Mục đồng với trâu là một, cho nên cả hai đều mất, đấy là giai đoạn "Tương vong".
  6. Chỉ còn lại một cái tâm sáng chiếu, giai đoạn "Độc chiếu".
  7. Tâm cảnh đều biến, còn lại Chân như, tức là giai đoạn "Song dẫn".
Căn cứ vào 10 giai đoạn tu luyện thiền định trên đây thì trình độ "nhậm vận" của Thiền sư Vạn Hạnh là ở giai đoạn thứ 7, ngoại cảnh còn nội tâm còn, hai đằng không trở ngại lẫn nhau, rất đồng điệu với nhau. Như thế là tinh thần của Vạn Hạnh đã thấy được cái nguyên lý duy nhất ở thế giới sự vật. Vậy, tức là thực hiện được cái "nhất biến ứng vạn biến" cái lý "đồng qui nhi thù đồ" nghĩa là trong cái biến đổi thấy cái không biến đổi, đường lối khác nhau vô kể mà đều qui tựu về một mối. Và Vạn Hạnh đã ứng dụng tinh thần ấy vào đời sống thực tế, để phụng sự dân tộc, giúp Vua giúp nước mà không chấp vào danh lợi, luôn vượt lên, siêu thoát hiện tượng thế gian "không trụ vào chỗ có trụ, không nương vào cái không trụ để trụ" vượt cả có không của ý thức cảm nghĩ (sensori-intellectual-consciousness). Đặc biệt là Vạn Hạnh đã vượt lên trên cái ý thức có không, nhập thế và xuất thế của Nho Lão bằng cái ý thức nhậm vận tức là tin vào cái ý thức đại đồng điều khiển trật tự vận hành vũ trụ. Cái ý thức ấy chính là cái Thần thức nói trong "Dịch hệ từ". "Thần dĩ trai lai, trí dĩ tàng vãng".
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 23 *
device

nghĩa là :"Thần thức thì biết việc sắp tới, lý trí để ghi nhớ việc đã qua". Bởi thế mà Vạn Hạnh đã có "Kiến thức cao siêu, thần toán, biết trước mọi việc" như lời sử gia Ngô Thời Sĩ đã xưng tụng.
Sử chép :"Vua Lý Thái Tổ từ khi còn bé đã thông minh, khí độ rộng rãi, du học ở Chùa Lục Tổ theo Sư Vạn Hạnh. Sư Vạn Hạnh trông thấy Vua, thấy làm lạ nói rằng :"Đây là một người phi thường! Sau này lớn lên tất có thể cứu đời, yên dân làm Chúa thiên hạ!".
Nhờ có cái thần thức tiên tri ấy, cho nên Vạn Hạnh đã tạo nên thời thế, dựng nên nhà Lý như lời Đào Cam Mộc nói với Lý Thái Tổ khi còn làm chức túc vệ cho Lê Ngọa Triều. Sử chép :"Vua lúc ấy (chỉ Lý Thái Tổ) 36 tuổi, đem 500 quân Tùy long vào làm túc vệ. Lúc bấy giờ ở trong nội có chức Chi hậu Đào Cam Mộc đoán biết Vua có ý lên ngôi, bèn dùng lời lẽ xa xôi nói khích Lý Thái Tổ rằng :"Chúa Thượng (Ngọa Triều) tối tăm ngoan ngạnh, làm nhiều việc bất nghĩa. Trời chán đức ấy nên không sống được lâu. Con nối ngôi còn nhỏ tuổi, không kham nổi đa nạn nhiều việc phiền nhiễu, bách thần không nơi nương tựa, hạ dân nhao nhao muốn tìm người Chúa. Thân Vệ (Lý Thái Tổ) sao chẵng nhân lúc này theo dấu Thang Võ ngày xưa, noi gương Đường, Lê mới rồi, thuận theo lòng trời dưới thỏa dân mong, mà còn khư khư giữ cái tiểu tiết hay sao?... Người trong nước đều nói Lý phải thay Lê, lời sấm đã xuất hiện không thể che dấu đi được! chuyển họa thành phúc là lúc này đây, Thân Vệ sao còn nghi ngờ chi nữa? Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn) nói "Ta xem chí ông cùng với Vạn Hạnh không khác nhau ; nếu thực như lời nói ấy phải làm thế nào? Cam Mộc nói :"Nay trăm họ mỏi mệt dân không chịu nổi mệnh lệnh. Nếu Thân Vệ lấy ân đức vỗ về, tất trăm họ sẽ vui vẻ mà theo cũng như nước chảy chỗ trũng ai mà ngăn được!" (Việt sử lược II2a)
Gây nên cả một tâm lý xã hội sâu rộng như thế là do những lời Sấm thi linh ứng phổ cập khắp dân gian. Đấy là cái
 
 
 

* Trang 24 *
device

tài tạo thời thế của Vạn Hạnh "trên thuận lòng trời, dưới thỏa dân mong". Đấy là tinh thần "Nhậm Vận" của Thiền Sư :
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý!
Nhậm vận là đã thực hiện được ở tâm hồn cái Vũ trụ đạo, không còn lo sợ quyền uy của ông trời đứng ở bên ngoài thế giới mà gia phúc giáng họa nữa. Đấy là tín ngưỡng tâm linh thực nghiệm của Thiền học, vượt lên trên bình diện của danh từ ngôn ngữ, của hệ thống lý thuyết đến tại nguyên lý chung của ba môn học là Linh tính tối cao mà nhà Phật gọi là "Kiến tính", Đạo gia thì "Nhậm tính" và Nho gia thì "Suất tính", chung qui chỉ là một bản thể đồng nhất bao hàm cả đạo lẫn đời, cả siêu xuất thế gian lẫn nhập thế gian như cùng một nước chẩy ra ba dòng, dòng khoa học tự nhiên, dòng tâm lý nghệ thuật, dòng luân lý xã hội, tức là Chân, Mỹ, Thiện vậy. Vì tính bản thể ấy tuyệt đối, không lệ thuộc vào thời gian và không gian, cho nên các nhà tâm linh học Đông Tây đã thực nghiệm nó như luôn luôn hiện tại, "l'Eternel présent" theo Eckhart ở nước Đức, và ở Việt Nam có Thiền Sư Thiền Lão (1051) đã đáp câu hỏi thăm của Lý Thái Tông :
- Hòa Thượng trụ ở Chùa này bao lâu?
Thiền Lão đáp :
- Sống ngày nay biết ngày nay
Còn xuân thu trước ai hay làm gì?
(Đãn tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu.)
Và Lý Nhân Tông đã thông cảm Vạn Hạnh mà xưng tụng Thiền Sư đã có tinh thần "Dung Tam tế" nghĩa là Vạn Hạnh đã thực nghiệm tới cái Tính siêu thời không, đến chỗ luôn luôn hiện tại nên đã có tài tiên tri, đến được chân tri và đem tài năng ấy bảo vệ quốc gia dân tộc.
 
 
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 25 *
device

Chính cái tinh thần "dung tam tế" ấy mới thật "quán tam học", "thông tam giáo", là tinh thần Quốc học Việt Nam kể từ Mâu Bác, Sĩ Nhiếp, cho đến Lý Trần thì trở nên chương trình cho các khoa thi Tam giáo để lấy nhân tài giúp nước. "Sử thần Ngô Sĩ Liên viết rằng :"Thi Tam giáo ấy là có thể thông hiểu Nho học, Đạo học, Thích học ba giáo lý, cho ra làm quan vậy. Ôi! Nho sĩ chân chính thời xưa cũng xem rộng đến cả sách của Bách gia Chư tử, ra vào ở cửa Lão cửa Phật".(1)
"Xét hai thời đại Lý Trần, đều tôn trọng Đạo giáo và Phật giáo. Cho nên một thời lấy học sĩ tất nhiên muốn gồm thông hai môn học ấy. Tuy đạo lý chính và khác mối đều tôn sùng không phân biệt, mà kẻ nào ứng thi các khoa ấy nếu không có kiến thức sâu rộng thì không có thể được chọn lấy đỗ" (2)
Từ Lý Trần về sau là thời đại Lê Nguyễn, tuy lệ thi Tam giáo không có nữa, triều đình lấy Nho giáo độc tôn nhưng tinh thần Ta, giáo cố hữu vẫn ảnh hưởng thâm sâu vào tính ngưỡng của dân tộc, cho nên trong Phật điển Việt Nam chữ nôm chúng ta còn thấy những đoạn văn thâm trầm của Như Nguyệt Hòa Thượng :
Trong nơi danh giáo có ba.
Nho hay giúp nước sửa nhà trị dân.
Đạo thời dưỡng khí an thần.
Thuốc trừ là bệnh chuyên cần luyện đan.
Thích độ nhân miễn tam đồ khổ.
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương.
Nho dùng tam cương ngũ thường.
Đạo gìn giữ khí, giữ giàng ba nguyên.
Thích giáo nhân tam qui ngũ giới.
Thể một đường xe phải dụng ba.
 
 
(1) Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Khoa Mục Chí.
(2) Ibid
 
 
 

* Trang 26 *
device

Luận chung Thánh tổ Nho gia.
Trong đời trị thế người là Nhân sư ;
Sao bằng Đâu Xuất vị cư.
Lão quân Thiên chủ đại trù dược phương.
Phật là vạn pháp trung vương.
Làm thầy ba giới, đạo trường Nhân Thiên.
Những Thánh Hiền nguồn nhân bể quả.
Xưa tu hành trí đã rộng cao.
Trong nơi ba giới ra vào.
Mười phương trí thức ai nào khả nghi? (1)
"Thể một đường xe phải dụng ba". Quan niệm thể dụng hợp nhất đòi phải "dung tam tế" để nhập vào thể tính tuyệt đối siêu thời không, chỉ có một để nhìn các giáo lý có hệ thống như là các cỗ xe có tác dụng đưa ta đến cứu cánh. Bởi vì tất cả giáo lý chỉ có tính cách tương đối, đều là phương tiện cả. Mê tính vào giáo lý lấy làm cứu cánh thì khác nào kẻ đi xe, mê cái xe của mình đẹp, tư hữu độc tôn cỗ xe. Khi xe đến bến còn khư khư ôm giữ lấy xe không chịu rời xe để xuống bến vậy. Lê Quí Đôn cho hạng đi học ấy là "Đa kỳ vong dương chi thất" nghĩa là "nhiều lối rẽ mà quên lạc mất dê". Trái với tinh thần Quốc học truyền thống xưa nay vốn như ông đã nhắc lại cho sĩ phu thời Lê Nguyễn "Thù đồ nhi đồng qui, bách lự nhi nhất trí".
Nghĩa là "đường khác mà cùng về một đích, tư tưởng trăm lối mà cùng đến một mối". Cái điểm "đồng qui nhất trí" ấy là cái tâm thành như danh Nho đất Thuận hóa Nguyễn Cư Trinh đã thực hiện :
"Thành ư trung vị đắt hòa bình.
Hình tại ngoại bất năng trúng triết"
 
(1) Việt Nam Phật Điển Tùng San Bắc Kỳ Phật Giáo Tổng hội phát hành
 
 
 

* Trang 27 *
device

nghĩa là :"Trong lòng chưa thành thật để có tâm hồn hòa bình.
Thì biểu hiện ra hành vi bên ngoài không thể trúng điều lý tiết độ được." (Sãi Vãi)
Đấy là tinh thần quốc học Việt Nam mà hai chữ Vạn Hạnh đã nhắc nhở chúng ta hiện đang thiếu như cái xác vô hồn, như cụ Phan Bội Châu đã than :
"Chứa chan máu quốc, nước vẫn vô hồn"
 
 
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
 
 
 
 
TƯ TƯỞNG
 
SỐ 3 ngày 15-5-1971
ĐẶC BIỆT PHẬT ĐÃN 2515
Chủ đề
ĐỨC PHẬT VÀ VẤN ĐỂ
CẢI TẠO XÃ HỘI
 
 
 
 
 
 
 

* Trang 28 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1971)