LOGO VNBET
HỆ THỐNG TAM GIÁO
TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

 
THẠCH TRUNG GIẢ
 
Cách đây nửa thế kỷ, học giả Phạm Quỳnh có đưa ra một loạt bài nghiên cứu Đoạn Trường Tân Thanh trên báo Nam phong để đi đến kết luận coi Đoạn Trường Tân Thanh là tác phẩm dân tộc. Sau đó những nhà nho như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế đã phơi bày tính cách ai, dâm, sầu, oán không xứng đáng là tác phẩm dân tộc của Đoạn Trường Tân Thanh.
            Đến bây giờ, ta đặt lại vấn đề, định rõ tiêu chuẩn.
            Thế nào là một tác phẩm dân tộc ? Kiệt tác là một tiếng mơ hồ vì có nhiều thứ kiệt tác vậy nên nói :
            Một tác phẩm dân tộc phải kết tinh nếp sinh hoạt, cảm nghĩ cùng lý tưởng dân tộc suốt dòng lịch sử miên trường.
            Đoạn Trường Tân Thanh có thỏa mãn được điều kiện ấy không ?

* Trang 79 *
device

Chúng tôi bàn đến nó sau vì nó đã được người ta bàn đến nhiều từ nửa thế kỷ. Chúng tôi bắt đầu bằng tác phẩm đáng so sánh với nó mà người ta lại quên lãng. Khi độc giả đã có ý niệm rõ rệt về tác phẩm này rồi, chúng tôi sẽ đối chiếu những điều căn bản của đôi bên để giải quyết dứt khoát vấn đề tác phẩm dân tộc.
            TỔNG QUAN VỀ TÁC PHẨM VÀ  TÁC GIẢ
            Khó mà tìm thấy ở thời Lê Nguyễn những sáng tác độc đáo về tư tưởng như thời Trần phát đạt về mọi mặt triết học, đạo học cũng như kinh học, chính trị học. Tuy nhiên muốn tìm một tác phẩm vừa có giá trị nghệ thuật vừa ghi được ảnh hưởng sâu xa của Tam giáo vào dân tộc Việt nam, ta có thể lấy Truyền Kỳ Mạn Lục (Chép rộng các truyện lạ truyền lại) của Nguyễn Dữ. Tác phẩm ấy càng đáng quý, tác giả đó càng đáng phục khi ta nghĩ đến thời gian sáng tác chỉ mấy chục năm sau thời Lê Thánh Tông độc tôn Nho giáo, kìm hãm Phật giáo khiến hầu hết sĩ phu nhắc đến Phật giáo như điều cấm kỵ vì coi là điều hư vô huyễn hoặc. Đành rằng lúc sáng tác cuốn này thì triều đình nhà Lê đã loạn, hoặc Mạc Đăng Dung đã cướp ngôi nhưng ta phải nhận thấy sự thành thực của việc bài xích Phật giáo còn mạnh. Xem thân thế ta được biết thêm tinh thần cao thượng và dứt khoát của tiên sinh.
            Không rõ năm sinh năm mất nhưng căn cứ vào việc cha người là Nguyễn Tường Phiến đỗ tiến sĩ khoa Bính dần niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1946) thì có thể đoán được người sống vào thế kỷ thứ 16 từ đời Lê Hiến Tông (1498-1504) cho đến thời Nam Bắc Triều, đã chứng kiến cảnh suy loạn của nhà Lê và chế

* Trang 80 *
device

độ nhà Mạc cũng như cuộc xung đột giữa hai họ này với cựu thần nhà Lê.
            Tiên sinh thi đỗ hương tiến, tức cử nhân, và được bổ chức tri huyện Thanh toàn. Nhưng mới tới tại nhiệm được một năm, tiên sinh thấy chán nản xin từ chức về nhà nuôi mẹ cho toàn đạo hiếu, không đặt chân đến thành thị.
            Trong khi ở nhà tiên sinh chỉ ham vui với văn chương sách vở, người ta gọi là một nhà xử sĩ, nghĩa là một kẻ sĩ ẩn dật. Truyền Kỳ Mạn Lục gồm những truyện ngắn ghi những truyền thuyết từ thời Lý Trần đến thời Lê mà có lẽ cả những sự tích do ông tưởng tượng. Điều hiển nhiên chắc chắn là ông không kể lại đơn giản như những tác giả Việt điện U linh tập và Lĩnh nam chích quái mà ông làm sống lại bằng nghệ thuật toàn diện với những nét tả cảnh, tả tình, tả người, nghị luận như những bộ phận trong toàn bộ thuật sự uyển chuyển linh diệu, hấp dẫn, bất ngờ của bậc thầy cao tay ấn.
            PHÂN TÍCH TƯ TƯỞNG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
            Phân tích hai mươi truyện ngắn tạo thành tác phẩm ấy, ta thấy ba nguồn tư tưởng phản ảnh trung thực cho tinh thần sâu xa mọi tầng lớp dân tộc từ trên xuống dưới ở mấy mươi thế kỷ.
            Mười truyện nổi bật vết tích Nho giáo.
            Ba truyện nổi bật vết tích Phật giáo.
            Ba truyện nổi bật vết tích Lão Trang.
            Bốn truyện linh tinh vì hoặc là diễn cái lẽ không riêng gì của tôn giáo nào hoặc là vẽ một hình ảnh thịnh suy hoặc là thuộc loại tình hiệp.
            Tuy nhiên cũng nên minh định rằng ảnh hưởng một tôn giáo nông hay sâu, rộng hay hẹp không căn cứ vào số lượng đã ghi
__________________________
(1) Nguyên tác của Nguyễn Dữ bằng Hán văn. Chúng tôi đã sử dụng bản dịch của Trúc Khê Ngô văn Triện do nhà Tản việt tái bản sau nhà Tân dân.

* Trang 81 *
device

lại, và không hẳn là mỗi chuyện chỉ ghi một ảnh hưởng tôn giáo mà lý nhân quả của Phật giáo tìm ẩn ở nhiều chuyện cũng như tư tưởng Lão Trang len cả vàotruyện nói về phép trị nước của nho giáo như truyện ở bữa tiệc đêm ở Đà giang.
TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
I. Mở đầu sách, Câu chuyện ở đền Hạng Vương cho thấy quan thừa chỉ Hồ Tôn Thốc nhân đi sứ sang Tàu, đề thơ mỉa mai Hạng Vương ngay ở đền thờ. Đêm nằm chiêm bao biện luận với Hạng Vương, đã thắng lý nhưng rút cuộc phải xét lại vì một vị lão thần họ Phạm, có lẽ Phạm Tăng, tiến lên nói rằng :
            “ Tôi nghe làm người ta không ngoài trời đất để mà sống, làm chính trị không ngoài cương thường để dựng nước.”
            Sau đó lão thần kể lại những việc như bề tôi của Hạng Võ trung thành không chịu sống nhục, còn bề tôi của Lưu Bang đầu hàng và làm phản; Ngu Cơ tự sát để toàn tiết còn Lã Hậu tà dâm.
            Truyện này thực tiêu biểu cho Nho giáo chủ trương việc tu thân, tề gia bao giờ cũng làm gốc cho việc trí quốc, bình thiên hạ và cũng ám chỉ việc ruột thịt nhà Lê phải giết nhau để tranh ngôi và sự dâm loạn, điên cuồng của những vua như Uy Mục, Tương Dực.
            II. Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu kể việc Trọng Quỳ thua bạc mất vợ, Nhị Khanh giữ tiết thắt cổ tự tử, thành thiêng được hầu hạ Trưng Vương nên báo mộng cho chồng biết sẽ có cuộc khởi nghĩa của Bình Định Vương. Nên chàng nuôi hai con thành người, lập công kháng Minh và hiển đạt đến chức Nhập thị nội. Người nghĩa phụ đã cảm hóa được chồng để gây dựng cho con, giúp ích cho nước, chết vì chồng mà không oán hận.
            III. Truyện đối tụng ở Long Cung vừa gợi hồn thiêng sông

* Trang 82 *
device

Núi với cảnh đền thờ những giống thủy tộc hơn mười chỗ ở huyện Vĩnh lại, tỉnh Hải dương, vừa nói lẽ thịnh suy của chư thần do ở chính, tà qua truyện thần Thuồng Luồng cướp vợ người bị trừng phạt.
            IV. Truyện chức Phán sự đền Tản viên tả Ngô Tử Văn dám đốt cháy đền tà và lại còn có gan chấp nhận cái chết để thành Phán sự đền Tản viên.
            V. Truyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào cho thấy Phạm Tử Hư học giỏi lại có nghĩa với thầy là Dương Trạm nhưng phải tật kiêu căng nên đỗ muộn. Đươc thầy báo trước và được lên chơi thiên tào thăm các tòa Tích Đức Thuận Hạnh và Nho Thần mà những bậc như Tô Hiến Thành, Chu Văn An được hưởng sung sướng lâu dài. Đây là Nho giáo hòa hợp với Phật giáo nên mới có những câu như :
            “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Lưới trời thênh thang thưa  nhưng chẳng lọt. Chỉ có rằng thời gian chưa đến mà thôi. Nay ta bảo rõ cho anh nghe : “Trong khoảng trời đất báo ứng luân hồi chỉ có hai loài thiện ác. Người chăm làm thiện, tuy hãy còn sống, tên đã ghi ở Đế đình; người hay làm ác, không đợi đến chết, án đã thành ở Địa phủ. Cho nên Nhan Hồi (1) lúc sống ở trong ngõ hẻm mà chết được làm chức Tu văn; Vương Bàng ngày thường có nết kiêu ngoan mà chết phải máu rây mặt đất (2). Không thể như ở cõi đời có thể mượn thế
______________________
(1) Ông Nhan Hồi là học trò bậc cao của đức Thánh Khổng, nghèo khó ở trong ngõ hẹp mà vẫn vui vẻ, năm 32 tuổi mất sớm. Sau đến đời Tấn có Tô Thiền chết đi rồi lại hồi tỉnh. Người em là Tiết hỏi chuyện dưới đất thì Thiền nói : Hai ông Nhan Hồi và Bốc Thương hiện làm chức Tu văn lang dưới đất.
(2) Vương Bàng là con Kinh công Vương An Thạch, một lần Kinh công ở Kim lăng thấy một kẻ lại củ củ mình đã chết từ lâu hiện đến Kinh công hỏi có biết Vương Bàng đâu không. Kẻ lại dẫn ông đến một chổ, thấy Vương Bàng đang bị ngục tối kỉm kẹp, máu vấy ra đầy đất.

* Trang 83 *
device

Mà được làm quan, có thể nhờ tiền mà được khỏi vạ, hình phạt thì quá lạm, tước thưởng thì thiên tư, cúi đầu khom cật, dù hèn hạ cũng cất nhắc lên, đức hoạt thằng gian, nhờ đút lót mà được thoát khỏi. Anh nên cố gắng, đừng gieo cái nghiệp báo ở kiếp sau này.
            Những lời kể trên chẳng những là lẽ muôn đời nhưng cũng ám chỉ thời đại tác giả đầy dẫy sự bất công hà khắc, nhũng lạm thiên tư vì những hôn quân bạo chúa nhà Lê như Uy Mục Tương Dung là một kẻ võ biền tiếm ngôi không thể nào có những trung thần phò tá, phải dung dưỡng những kẻ tiểu nhân để lấy làm nanh vuốt.
            VI. Truyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang tả con vượn và con cáo hiện thành người là tú tài họ Viên xử sĩ họ Hồ ra mắt Trần Phế Đế và Hồ Quý Ly để đưa ý iến rằng nên bỏ việc săn bắn nhỏ mọn mà tiếp đón người hiền sửa sang việc chính trị để ban ân trạch cho sinh dân và đối phó với cái họa ở phương Bắc và Phương Nam và ở ngay trong nước.
            “Hiện nay thánh hóa chưa khắp, bờ cõi chưa yên : Bồng Nga (1) là con chó dại cắn càn ở Nam phương, Lý Anh (2) là con hổ đói, gầm thét ở Tây Bắc, Ngô Bệ (3) ngông cuồng trong xã tắc, Đường Lang (4) lấm lét vẫn còn kia, sao không giương cái
____________________
(1) Chiêm Thành
(2) Thuở ấy vua Minh sai chức xá nhân dân là Lý Anh xuống Vân nam đòi mượn đường sang Chiêm Thành, yêu sách những voi ngựa lương thảo bắt ta phải cung đốn.
(3) Đời Trần Dụ Tông Ngô Bệ họp đảng làm bậy.
(4) Đời Trần Phế Đế, người lộ Bắc giang là Nguyễn Bồ xưng là Đường lang tử y, dùng pháp thuật tiếm hiệu xưng vương làm loạn, rồi sau bị giết.

* Trang 84 *
device

Cung thánh nhân, tuốt lưỡi gươm thiên tử, lấy nhân làm yên khấu, lấy nghĩa làm chèo lái, lấy hào kiệt làm nanh vuốt, lấy trung tín làm giáp trụ, cẩn thận lòng cũi (?) để giá ngự những tướng khó trị, sửa chuốt cung tên để dọa nạt những nước bất  phục, tóm bắt giặc giã, đóng cũi giải về, khiến cho gần xa quang sạch. Cớ sao bỏ những việc ấy không làm, lại đi lẩn quẩn ở những việc săn  bắn , dù được chim muông như núi chúng tôi cũng lấy làm không phục”.
            VII. Truyện Người con gái Nam xương có thật về người tiết phụ bị oan nhưng lại thêm khúc Thần kỳ để đề cao và khuyến khích.
            VIII. Truyện Lệ Nương tả người đàn bà không chịu theo quân Minh bắt về Bắc, tự tử ở đất Nam; người đàn ông thủy chung suốt một đời không lấy vợ.
            IX. Truyện nói chuyên thơ ở Kim hoa vừa ghi hình ảnh tao nhã của thời xưa , vừa muốn răn những kẻ sĩ khinh bạc hay đặt điều mai mỉa.
            X. Nhưng có lẽ tinh thần Nho giáo thể hiện cao nhất ở Truyện Tướng Dạ Xoa, tả chàng kỳ sĩ Văn Dĩ Thành, tính tình hào hiệp không để ma quỷ hư hoặc, lại còn được chúng suy tôn làm thống lĩnh.
            Cũng vì thế được Diêm vương lựa chọn và chàng cũng can đảm chấp nhận cái chết sớm để làm một trong bốn viên tướng của bốn bộ Dạ Xoa được giao quyền hành sát phạt, được ủy cho những tính mệnh sinh lính. Truyện này phơi bày căn bản tâm hồn Nguyễn Dữ, một nho gia chính thống và cao đẳng. Ta hãy nghe chàng nói với lũ quỷ khi lựa chọn cái chết :
            “Chết tuy đáng ghét, danh cũng khôn mua. Phương chi ngọn dùi vì nhọn mà chóng cùn, cây thông vì cành mà bị đẵn, chim trỉ không vì lông đẹp, can chi rước vạ, con voi không vì

* Trang 85 *
device

ngà trắng , đâu phải đốt mình, chim hồng chim nhạn bị giết là bởi không kêu; cây hu cây lịch sống lâu chỉ vì vo dụng, tu văn dưới đất Nhạc Hồi tuổi mới hăm hai, viết ký lâu đời, Trường Cát trạc chừng hăm bảy, trượng phu sinh ở đời, không làm nên được lưng đeo vàng chân bước ngọc, thì cũng phải sao ch lưu danh muôn thuở, tội gì cứ cúi đầu ở trong cõi đời vẩn đục so kề cái tuổi sống lâu với chết non làm gì.
            Ta hãy nghe thêm lời chàng đối đáp với bạn sau khi lĩnh chức dưới Âm phủ. Người này còn sống và gặp chàng ở một nhà trọ trên dương thế. Rượu mấy tuần, người bạn tên là Lê Ngộ nói :
            “Tôi xưa nay ở đời, vẫn sống đi lấy âm công, không quên sự ích lợi riêng mình, không gieo sự nguy bách cho người, đang học thì tùy tài du lịch, tự học thì cực lực dùi mài, không ước sự vẩn vơ, không làm điều quá đáng. Vậy mà sao lại phải bốn phương kiếm miếng, chiếc bóng nhờ người, con khóc đói lòng, vợ than rát cật, về thì thiếu túp lều chắn gió, đi thi không chiếc nón che mưa, hết đông rồi tây, long đong chạy mãi. Thế mà bè bạn thì nhiều người đi làm quan cả ; so về tài nghệ vẫn chỉ như nhau mà thân danh khác nhau xa lắm ; kẻ sướng người khổ như thế là cớ làm sao ?”
            Dĩ Thành nói :
            “Phú quí không thể cầu, nghèo cũng do tự số. Cho nên núi đồng núi chết đói họ Đặng (1), thằng Xe (2) mà làm khốn chàng Chu, có duyên gió thổi tới Mã đương (3), không phận sét đáng bia Tấn phúc (4), nếu không như vậy thì đức hạnh như
___________________________
(1)Vua Hán Văn Đế yêu quí người bề tôi là Đặng Thông, thấy thầy tướng bảo Thông sẽ phải chết đói, bèn cho cả núi đồng ở đất Thục, cho được phép đúc tiền mà tiêu, sẽ không còn chết đói nữa. Nhưng sau Văn Đế mất, Cảnh Đế lên làm vua, ghét Thông, tịch cả gia sản Thông phải đi ở nhờ và quả nhiên chết đói.

* Trang 86 *
device

Khan như Mẫn (5), hẳn là lên đến mây xanh, từ chương như Lục như Lư (6), sao lại chỉ là chân trắng. Sự đó đều bởi cái gì không làm mà nên là bởi trời, không mời mà đến là bởi mệnh. Cái đáng quý của kẻ sĩ chỉ là nghèo mà không xiểm nịnh, cùng mà vẫn vững bền, làm việc theo địa vị của mình và thuận với cảnh ngộ mà thôi. Còn sự cùng thông, sắc nhụt thì ta có thể làm gì cưỡng với chúng nó được.
            Ở mọi truyện còn nói đến sự thưởng phạt để gây hy vọng cho người làm lành ở đây chỉ nhắc đến thiên mệnh. Đức Khổng
____________________________
  1. Chu Thù nhà nghèo, chiêm bao thấy Thượng đế thương mình. Ngài hỏi vị thần tư mệnh : Nó có giàu được không ? Tư mệnh nói : Số nó nghèo lắm. Nhưng hiện có số tiền của thằng Xe, có thể cho nó mượn được, rồi đến kỳ thằng Xe nó sinh thì lại phải trả. Sau Chu khá giàu đúng đến kỳ hạn, Chu xe tiền của chạy trốn. Buổi tối, Chu dừng xe nghỉ ở dọc đường gặp một người đàn bà chửa xin tạm nằm nhờ ở dưới xe, bèn đặt tên là thằng Xe. Từ đấy Chu làm gì cũng thất bại lại thành nghèo kiết.
  2. Vương Bột đời Đường theo cha đi làm quan, đậu thuyền dưới núi Mã đương, mộng thấy vua Thủy phủ giúp mình cho một trận gió. Hôm sau quả nhiên gió thuận ; thuyền đến Nam xương, làm bài tựa Đằng vương các.
  3. Phạm trọng Yêm đời Tống khi làm trấn thủ Nhiêu châu, có người học trò vào yết kiến, nói tình cảnh đói rét nghèo khổ. Bây giờ người ta đương mộ lối chữ đẹp của Âu Dương Xuất Canh viết khắc ở tấm bia chùa Tấn Phúc. Ông Phạm bèn mua giấy mực định cấp cho, người học trò ấy đến chùa rập lấy nghĩa bản rồi đến Kinh mà bán lấy tiền. Người học trò chưa kịp đến rập, bỗng một hôm mưa giớ, tấm bia bị sét đánh vỡ mất. Vì vậy có câu thơ : “Trời lại phong tống Đằng vương các. Vận khứ lôi oanh Tấn phúc bi”.
  4. Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên đều là học trò bậc cao của đức Khổng .
  5. Lư Chiếu Lân và Lạc Tân Vương là hai tay đang sĩ đời Đường Cao Tông kết cục chẳng ra sao đều chết bất đắc kỳ tử.

* Trang 87 *
device

Tử suốt một đời lận đận, đi các nước chư hầu mà không được dùng để hành đạo, lúc về già cũng chỉ biết ngậm ngùi tri thiên mệnh ; Mạnh Tử cũng từng như rằng :
      “Hiểu suốt cái tâm của mình, biết cái tính của mình là biết cái lý của trời. Giữ vẹn cái tâm, nuôi nấng cái tính là thờ trời vậy. Sống lâu hay chết non cũng không đổi chí, sửa mình mà đợi là để lập mệnh vậy.”
      Những nhà nho mấy trăm năm về sau này hiếm có người lại nói được như Nguyễn Dữ, đưa cái điểm cao nhất của luân lý, dội lại trung thành lời giảng dạy của Khổng Mạnh.
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
      Nhưng Phật giáo cũng đóng góp những yếu tố quan trọng đã bổ túc, tăng cường cho tư tưởng Nho giáo.
      II. Truyện gã trả đồng giáng sinh tả Dương Đức Công người phủ Thường tín, xứ Sơn nam, về triều vua Huệ Tôn nhà Lý, làm quan coi việc hình án ở trấn Tuyên quang, xét rõ mọi điều oan khuất, khiến các án vụ đều được xét công bằng nên đáng lẽ chết năm 50 tuổi mà được Thượng đế cho sống thêm hai kỷ và sinh quý tử. Thiên Tích chính là trà đồng giáng sinh. Về sau này, Thiên Tích lấy được vợ lại chính là người được Dương Đức Công cứu sống. Nhân truyện này mà tác giả nói về lẽ báo ứng và giải thích tại sao có hạnh mà nghèo.
      Dương Thiên Tích nói :
      “Tôi nghe đạo trời công minh như cái cân, cái gương, có thần minh để ghi dấu vết, có tạo hóa để giữ công bằng, gương tất coi suốt mà không riêng, lưới tuy thưa thớt mà không lọt.
“Phép thật chí nghiêm mà chí mật, người nên không oán cũng không hờn. Cớ sao những sự khuyên răn lại lắm điều lộn xộn. Làm sự lợi vật chưa nghe thấy được phúc, làm sự

* Trang 88 *
device

hại nhân chưa nghe thấy mắc nàn. Kẻ nghèo có chí cũng thành không, người có muốn gì cũng được nấy. Có người chăm học mãi suốt đời không áo, có người nhà xa hoa mà lũy thế vẫn già. Ai bảo rằng trao mận giả quỳnh, thế mà vẫn trồng dưa được đậu. Đó là những sự mà tôi rất nghi ngờ không hiểu.
      Đạo nhân nói :
      “Không phải như thế. Thiện ác tuy nhỏ cũng rõ rệt, báo ứng dù chậm nhưng lớn lao. Âm công khi rõ ràng ra, phải đợi quả thiện được tròn trặn, dương phúc khi tiêu tan mất, phải chờ mầm ác đã cao dài. Có khi sắp duỗi mà tạm co, có khi muốn đè mà tạm nống. Có hạnh mà nghèo hoặc bởi tội khiên kiếp trước, bất nhân mà khá, hẳn là phúc thiện đời xưa. Tuy rằng khó biết sâu xa nhưng thực không sai tơ tóc. Cho nên không nên lập luận một bề và xem đời một mặt”.
      Bàn lẽ nhân quả báo ứng như thế thực tinh vi sâu sắc, một nhà chuyên môn về Phật học cũng không thể nói hơn. Nguyễn Dữ quả đã nghiên cứu thấu đáo một giáo lý ngoài Khổng Mạnh.
      II. Truyện nghiệp oan của Đào Thị là một kiệt tác trong Truyền Kỳ Mạn Lục chứng tỏ sự thấm nhuần tinh thần Phật giáo vào tiềm thức dân tộc và nghệ thuật tuyệt diệu của tác giả làm sống động như một chuyện hiển nhiên trước mắt. Lẽ đầu thai chuyển kiếp được trình bày như một cuốn phim mạch lạc, lẽ tình là dây oan được trình bày với một sức thuyết phục tuyệt đối. Cuộc đời của Đào Thị ở kiếp trước từ lúc xướng họa với Trần Dụ Tông qua khi đi lại nhà quan hành khiển Ngụy Nhược Chân đến hồi luyến ái với Vô Kỷ - sang kiếp sau, được kể lại hết sức tự nhiên và gọn gẽ.Vị Du tăng khất sĩ bảo cho quan hành khiển Ngụy Nhược Chân cái họa gần kề vì hai đứa con là hậu thân của Đào Thị và Vô Kỷ đầu thai để báo oán; thiền sư Pháp Vân cao tay ấn uy nghi dũng mãnh là những hình ảnh vừa huyền ảo vừa vĩ đại của Phật giáo đã ăn sâu vào dân tộc.

* Trang 89 *
device

Đạo Phật đã truyền vào Việt nam cuối thế kỷ thứ hai và từ cuối thế kỷ thứ tư đến hết đời Trần được kể là có bốn phái thiền. Phái thứ nhất do Tì Ni Đa Lưu Chi sáng lập. Có lẽ là Mật tông chứ không phải Thiền tông vì những bậc tiêu biểu như Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Minh Không đều giỏi pháp thuật. Mà phái này lớn nhất với truyền thống lâu dài nhất vì tối thiểu cũng được bảy thế kỷ. Trước và sau khi phái này dứt, ảnh hưởng của nó lan ra đến những phái khác, sang đến cả những người không tu hành, chỉ là những thầy phù thủy. Và những đạo sĩ xuất hiện đây đó ở Truyền Kỳ Mạn Lục đều là những người dơ cao thiền trượng, diệt trừ ma quỷ để phất tay đi mất khi xong việc, chẳng nhận công lao. Tạo ra những hình ảnh như vậy, Nguyễn Dữ quả là sáng suốt, công bằng và can đảm, vì như ta đã biết, thời ấy những nhà nho đều coi Phật giáo là mê tín dị đoan dạy đạo hư không.
      III. Truyện Lý Tướng Quân cũng có những câu đề cao lý nhân quả báo ứng, mượn miệng ông thầy tướng số :
      “Điều thiện ác tích lâu sẽ rõ, sự báo ứng không sai chút nào. Chuyên luận số, trước phải luận lý, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay tướng quân có dữ mà không lành, khinh người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông tham dục để thỏa ngông cuồng, đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào mà trốn khỏi tai họa !”
      So sánh lối hiểu của Nguyễn Dữ với lối hiểu của Nguyễn Du ba thế kỷ sau về Nho học và Phật học thì ta thấy khác nhau một trời một vực. Nguyễn Du đã lẫn thiên mệnh sáng suốt công bình của nhà nho với định mệnh phi lý mù quáng của bình dân, và Nguyễn Du lại hỗn hợp cả định mệnh với nhân quả mà bản thể xung khắc như nước với lửa. Nguyễn Dữ nói : “Luận số trước phải luận lý” thực là vượt hẳn Nguyễn Du khi nói :

* Trang 90 *
device

“Bắt phong trần phải phong trần
                  Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”
      Nguyễn Dữ thừa hưởng được Nho học thời Thịnh Lê cùng Nguyễn Du được nuôi dưỡng với Nho học Lê Mạt nên sự phối hợp hai nguồn tư tưởng của Nguyễn Dữ phải cách bao nhiêu thì sự phối hợp của Nguyễn Du mâu thuẫn bấy nhiêu.
      Bốn truyện linh tinh.
      Trước khi sang đến những truyện Lão Trang ta hãy nói qua đến bốn truyện linh tinh vì hoặc là diễn cái lý không riêng tôn giáo nào hoặc là của một hình ảnh thịnh suy hoặc là thuộc loại tình hiệp.
      I. Truyện cây gạo tả chàng Trần Trung Ngộ ân ái với ma tên là Nhị Khanh rồi bị nó bắt hồn thành một cặp ma khỏa thân tác quái bị một đạo nhân dùng bùa yếm trừ khử.
      II. Truyện yêu quái ở Xương giang tả viên quan họ Hoàng vì bỏ hết cương cường, theo đường tà dục, giảm thọ một kỷ.
III. Truyện cái chàu hoang ở huyện Đông trào tả hình ảnh bi thương tàn tạ của Phật giáo trải thời cực thịnh đến thời cực suy là Hậu Trần. Những ông hộ pháp và thủy thần cũng mò đi ăn trộm để bị bắn và mất thiêng.
IV. Truyện nàng Túy Tiên cho thấy Nguyễn Trung Ngạn yêu tài nhường nàng hầu đẹp cho Dư Nhuận Chí ; quan Trụ Quốc cướp Túy Tiên ; rồi một đầy tớ cũ đóng vai hiệp sĩ Côn Lôn Nô trong tình sử xưa của Tàu, cướp lại Túy Tiên cho chủ.
TƯ TƯỞNG LÃO TRANG.
            Nguyễn Dữ là một nhà Nho chính thống đã thâm hiểu đạo mình, chẳng những thế, lại nắm vững những nguyên lý căn bản của Phật học nhưng cái tư tưởng đã quyết định thái độ của Nguyễn Dữ trước thời thế, cái tư tưởng đã khiến Nguyễn Dữ treo ấn từ quan để làm xử sĩ, chính là tư tưởng Lão Trang.

* Trang 91 *
device

Bởi thế cho nên những lời lẽ cảm khái nhất, những nét vẻ thần tiên nhất của Nguyễn Dư là ở đây.
            Nhưng ta hãy xét một điều tế nhị. Ảnh hưởng Lão Trang phơi bày hai hình thái. Một là thuần túy với lẽ vô vi thoát tục, hai là lòng yêu thiên nhiên hoa cỏ và niềm mơ tưởng thành tiên và cùng tiên tiêu lao ngoài cõi hồng trần. Điều này không nói trong Đạo Đức kinh của Lão Tử, Nam Hoa kinh của Trang Tử nhưng không phải ít những người theo đạo Lão Trang về sau này quan niệm.
            Ta hãy bắt đầu bằng hình thái thứ hai trước khi vào hình thái thuần túy, mà đó cũng là thứ tự do tác giả xếp đặt.
            I. Truyện kỳ ngộ ở trại Tây tả một chàng thư sinh là Hà Nhân hàng ngày đi học qua phường Khúc giang có cái trại gọi là trại Tây dinh cơ cũ của quan Thái sư triều Trần. Có hai thiếu nữ là Liễu Nhụ Nương vá Đào Hồng Nương đứng ở đàng sau bức tường đổ thường cười đùa và ném quả gòn bông đẹp cho chàng. Nên chàng cùng hai nàng làm thân rồi rủ rê họ về chỗ trọ của mình. Từ đó đến cuộc ái ân với cả hai nàng cùng chung một trường và ba người làm thơ xướng họa. Có đêm chàng lại đến trại Tây dự tiệc với hai nàng cùng những mỹ nhân họ Vi, họ Lý, họ Mai, họ Dương, họ Kim, họ Thạch. Trời gần sáng, mọi người giải tán, hai nàng cũng đưa Sinh ra đến ngoài tường. Sinh về đến thư phòng thì mặt trời đàng đôn đã rạng. Nhưng mùa đông tới, sau bao đêm trải mấy mùa ân ái, hai nàng xin vĩnh biệt :
            “Thân mệnh của chúng em lả lướt như tơ, mong manh tia lá. Sau khi thác hóa, đã có mây làm tán, có lốc làm xe, xương trắng làm ngọc đeo, cỏ xanh làm nệm rải, than khóc đã oanh già thỏ thẻ, viếng thăm đã bướm héo vật vờ, chôn vùi có lớp rêu phong, đưa tiễn có dòng nước chảy, khói tan gió bốc không phiền phải đắp điếm gì cả”.

* Trang 92 *
device

Đoạn rồi mỗi người để đôi hài cườm lại tặng Sinh và nói :
“Mất người còn chút của tin, gọi có chút này để tặng nhau trong lúc sinh ly tử biệt. Sau này khi chàng ướm thử, sẽ như là chúng em còn ấp yêu ở dưới chân chàng”.
            Tối hôm ấy quả nhiên hai nàng không đến, khoảng gần nửa đêm, trời bỗng nổi cơn mua gió dữ dội, Sinh đứng tựa lan can buồn rầu ngơ ngẩn như kẻ mất hồn.
            Được ông già láng giềng cho biết cái dinh cơ từ khi quan Thái sư mất đi trải hơn hai mươi năm hoang phế, sáng hôm sau chàng cùng ông lão đến trại Tây. Chỉ thấy nếp nhà quạnh hiu, vài ba cây đào liễu xơ xác tơi bời, lá trút đầy vườn, tơ vương khắp giậu.
            Ông già trỏ bảo Sinh rằng :
            “Đây chẳng là nơi cậu đến chơi ư ? Chị ả họ Kim thì đây hoa Kim tiền. Cô nàng họ Thạch thì đây cây Thạch lựu. Đến như họ Lý, họ Vi, họ Dương, họ Mai, cũng đều nhận tên hoa mà làm họ cả. Không ngờ mấy cây hoa ấy lại biến chuyển như thế được”.
            Sinh bấy giờ mới giật mình tỉnh ngộ, tự nghĩ mình bấy lâu mê mải, chỉ là đánh bạn với hồn hoa. Về đến nhà, Sinh lấy những chiếc hài tặng ra xem, vừa cầm trên tay, mấy chiếc hài đã thành ra những cành hoa, bay vèo lên trên không mất.
            II. Truyện Từ Thức lấy vợ tiên tả chàng tri huyện Tiên du năm Quang Thái đời Trần đem áo cừu gấm trắng chuộc thiếu nữ bị bắt giữ vì làm gãy cành mẫu đơn quý giá của nhà chùa. Sau khi trao ấn từ quan vì tính tình phóng khoáng chàng đã ngao du. Phàm những nơi nước tú non kỳ như núi Chích tự, động Lục vân, sông Lãi, cửa Nga không đâu không từng có những thơ đề vịnh. Một hôm chàng ra một trái núi ở cửa bể Thần phù vào hang động không ngờ gặp một bà tiên bảo rằng :

* Trang 93 *
device

“Đây là núi Phù lai, một động tiên thứ sáu trong ba mươi sáu động, bồng bềnh ở ngoài bể cả, dưới không có vách núi, như hai núi La phù tan hợp theo bước gió mưa, như các ngọn Bồng lai, co duổi theo với nước sóng gợn, mà tôi tức là địa tiên ở Nam Nhạc là Ngụy Phu nhân. Vì thấy chàng là người cao nghĩa sẵn lòng cứu giúp sự nguy khốn cho người dân mới dám làm phiền mời chàng đến đây”.
            Thì ra bà tiên đó là mẹ của thiếu nữ đánh gãy hoa ngày trước, mà nàng chính là Giáng Hương. Đêm đó, chàng thành hôn với nàng và hôm sau được quần tiên mừng. Nhưng trải một năm, nhớ quê hương xin về hẹn ngày trở lại. Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân dân hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thuở nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói :
            “Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất, đến nay đã hơn 60 năm, nay đã là năm thứ 5 (1458) niên hiệu Diệu Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi”
            Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi, muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay đi mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu “ Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm hoa tiên ở trên bể, dịp khác còn đâu !” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng vào mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoàng sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
            Ta thấy lẽ nhân sinh mộng ảo cùng nỗi ngậm ngùi một thiên đường lỡ của con người đày đọa ở thế gian này. Âm hưởng xa xôi của truyện Trang Chu nằm mơ thấy mình hóa bướm và cũng âm hưởng những câu của Trang Chu như :

* Trang 94 *
device

“Kìa thế sự có vui đâu đó
            Nở rồi tàn hoa nọ khác chi”
            Những câu này thêm ảnh hưởng Phật giáo đã tạo thành những câu chuyện như chàng thư sinh nằm mơ thấy một đời vinh nhục trong thời gian chưa đủ để nấu chín một nồi kê.
            Cái bi kịch của truyện này là chàng Từ Thức từ cõi trần lên cõi tiên, sống cõi tiên mà lòng trần chưa đoạn lại trở về trần, từ cõi trần lại vào núi đi mất, lần này biến hẳn vì đã ý thức thấm thía chân ảnh của cuộc đời.
            III. Nhưng muốn thấy hình thức thuần túy của Lão Trang phải tìm ở Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na. Ở đây có những lời nghị luận thâm thiết nhất cũng như những dòng thơ tiêu sái nhất của Nguyễn Dữ, giải thích cho ta hay tại sao tác giả lại treo ấn từ quan.
            Na chi sơn hữu thạch toàn ngoan
            Thụ thương thương
            Yên mịch mịch
            Thủy sàn sàn
            Triêu hề ngô xuất
            Mộ hề ngô hoàn
            Hữu y hề chế kỹ
            Hữu bội hề nhận lan
            Thái bài thanh hề bình hiểu chứng
            Điền hộ lục hề chẩm tình than
            Nhậm tha triều thị
            Nhậm tha xa mã
            Tri thần bất đáo thử giang san.
            U thảo Tống triều cung kiếm
            Cổ khâu Tấn đại y quan.
            Vương Tạ phong lưu

* Trang 95 *
device

Triệu Táo sự nghiệp
            Toán vãng cổ lai kim khanh tướng
            Thạch triện đài man.
            Tranh như ngã trạo đầu nhất giác
            Hồng nhật tam can.
TRÚC KHÊ dịch
            Núi Na đá mọc chênh vênh
            Cây tùm um, nước long lanh khói mờ.
            Đi về hôm sớm thẩn thơ
            Mình dư áo lá, cổ thời chuỗi hoa.
            Hoa xanh bao bọc quanh nhà,
            Ruộng đem sắc biếc xa xa diễu ngoài.
            Ngựa xe võng lọng thấy ai,
            Nước hoa riêng chiếm, bụi đời khôn nương.
            Áo dài đời Tấn gò hoang
            Kiếm cung triều Tống dưới làn cỏ xanh
            Sự đời bao xiết mong manh
            Phong lưu Vương Tạ, công danh Triệu Tào.
            Từ xưa khanh tướng ngôi cao.
            Đá mờ rêu phủ đã bao nhiêu rồi.
            Sao bằng ta được thảnh thơi
            Giấc mơ bừng tỉnh mặt trời lưng không.
            Người tiều phu đã hát bài ấy lại trả lời sứ giả của Hồ Hán Thương tìm đến hang :
            “Ta là kẻ dật dân trốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm lính quan trong quán gió rìu trăng, ngày có lối vào láng say, cửa vắng vết chân khách tục, bạn cùng ta là hưu nai tôm cá, quân bên ta là tuyết nguyệt phong hoa, chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủ khói, múc khe mà uống. gối núi mà ăn, chứ có biết gì đâu ở ngoài là triều đại nào, là ma quan nào”.

* Trang 96 *
device

            Một đêm lưu lại trong hang chuyện trò với tiều phu, hôm sau sứ giả lại mời, thì tiều phu trả lời :
            “ Kẻ sĩ ai có chí nấy, hà tất phải vậy ! Cho nên Nghiêm Tử Lăng không đem chức Giám nghị ở Đông đô, đánh đổi khói sóng Đồng thủy, Khương Bá Hoài không đem bức tranh vẽ của Thiên tử, làm như non nước Bành thành. Tài ta tuy kém so với người xưa chẳng bằng được. Nhưng nay lại giàu hơn Kiều Lâu, thọ hơn Vệ Giới, no hơn Viên Tinh, đạt hơn Phụng Thiến, kể thì cũng được trời đất ban cho khá nhiều. Nếu còn tham cầu những cái ở ngoài phận mình, len lỏi vào đường sĩ tiến, chẳng những xấu hổ với các bậc tiên hiền, lại còn phụ bạc với vượn hạc ở trong núi nữa. Vậy xin ông đi đi, đừng nói lôi thôi nữa”.
            Sứ giả bèn ca tụng vua nhà Hồ, cố mời ra giúp rập thì người tiều phu vạch tính dối trá tham dục, hoang phí, giết người trung, thương kẻ nịnh ; còn bề tôi thì rặt lũ vô tài bất đức ; để đi đến kết luận :
            Xin ông vui lòng trở về làm ơn từ chối hộ kẻ cư sĩ này. Ta không thể đem hòn ngọc Côn sơn cho nó cùng cháy ở trong ngọn lửa Côn sơn được.
            Tâm sự của Nguyễn Dữ quả đã được ký thác trọn vẹn ở đây. Thực trạng triều đình suy loạn nhà Lê, mà cũng là thực trạng triều đình nhà Mạc sau khi cướp ngôi nhà Lê. Truyền Kỳ Mạn Lục đã được sáng tác trong thời kỳ này.
            NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
                        TÌM CHÂN TƯỚNG NGUYỄN DỮ
            Chung đúc mọi điều đã phân tích ở toàn tập, ta thấy rằng khó mà tìm thấy ở văn học Việt nam và có lẽ cả Trung hoa, một tác phẩm nào lại ghi được vết tích sâu xa linh diệu của Tam

* Trang 97 *
device

giáo trong một Đại Thái Hòa đến như vậy. Những sự tổng hợp thường hỗn tạp, chẳng hạn như Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du.
            Trong tác phẩm này, ta thấy Tư tưởng Phật giáo còn có những câu như :
                        “ Tu là cõi phúc, tình là dây oan”
                        “Đã mang lấy nghiệp vào thân
                        Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
                        Thiện căn ở tại lòng ta
                        Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
            Nguyễn Du không những cho những nhà tu như Giác Duyên Tam Hợp đạo cô đóng vai trò đáng kể trong truyện mà còn giải thích nguyên nhân sự trầm luân và giải thoát của đời Kiều với quan điểm Phật giáo.
            Tư tưởng định mệnh vì chính nó mở đầu quyển sách và len vào cuối quyển sách bên tư tưởng Phật giáo, mà hơn nữa chạy suốt quyển Kiều như một sợi dây nối những hạt thành chuỗi.
            Có người lẫn tư tưởng Định mệnh với tư tưởng Thiên mệnh Nho giáo. Sự thực hai tư tưởng tương khắc như nước với lửa.
            Thiên mệnh là mãnh lực sáng suốt hướng dẫn nhân loại và vũ trụ theo một trật tự tốt đẹp để đi về Chí thiện. Nhưng còn định mệnh là một mãnh lực mù quáng, vô lý, bắt con người hay được hay, dở được dở mà không vì lý do gì chính đáng cả, cái định mệnh đó từ đâu đến mà để làm gì không ai biết được
            “ Bắt phong trần phải phong trần.
            Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.
            Xét về một phương diện, quan niệm thiên mệnh có thể tương dung với tư tưởng Phật giáo vì thiên mệnh nâng kẻ hay

* Trang 98 *
device

trừ kẻ dở, bắt con người chịu kết quả của việc mình làm cũng như nghiệp lực trong thuyết nhân quả vậy.
            Phân tích quyển Kiều, ta nhận thấy rằng đây đó, ta phải cố đề lên sự chống chọi của con người trước số mệnh và nói đến trung hiếu, tiết nghĩa nhưng gấp sách lại ngẫm nghĩ, ta vẫn thấy niềm chán nản, nỗi sầu khổ mênh mang – Sự bất lực của con người.
            Bởi những đoạn, những lời cứng cỏi của một nho gia không mạnh, không sâu, không sống, không ghê rợn bằng những đoạn tả sự phát hiện của định mệnh. Cái bóng ma Đạm Tiên đã ám ảnh cả một đời nàng Kiều, lẩn quất khắp quyển Kiều. Khi nó chưa hiện, nó cũng vẫn khiến người ta cảm thấy nó rồi.
            Một tác giả sáng tác không những bằng ý thức mà bằng cả phần tiềm thức, và chính phần tiềm thức này mới thực là nội dung của tác phẩm, Nguyễn Du tưởng mình là nhà nho khi viết quyển Kiều nhưng tiềm thức của ông tố cáo ông chỉ là một con người chiến bại, hết tin tưởng, hết tin tưởng ở mình, ở trời ở Chí thiện.
            Sự hỗn hợp quan niệm nhân quả bao hàm sự chủ động của con người tạo ra cuộc đời mình với quan niệm Định Mệnh chủ trương sự bất lực của con người đã làm cho cái Nghiệp nhiễm tính cách tàn khốc của cái Mệnh.
            Về phương diện nghệ thuật, quyển Kiều là một tác phẩm giá trị nhưng về phương diện tư tưởng thì nó chỉ là một mớ hỗn tạp của một thời cực suy về đạo đức, chính trị cũng như triết lý là Lê Mạt mà Nguyễn Sơ còn dư ba.
            Nhưng suy mạt chỉ là một giai đoạn, và một giai đoạn không tiêu biểu cho tất cả, vậy cái ý tưởng coi quyển Kiều là tác phẩm dân tộc chỉ đúng ở một phương diện, ấy là phương diện nghệ thuật.
            Bây giờ ta hãy quay trở lại xét Truyền Kỳ Mạn Lục.

* Trang 99 *
device

Từ đầu đến cuối, sách là niềm tư tưởng vô biên ở đạo đức, đạo đức vạn năng, đạo đức chi phối tất cả, từ đế vương đến chúng nhân và cả Chư thần.
            Đầu tiên là tu thân tề gia, thứ mới đến trị quốc bình thiên hạ. Bởi thế cho nên, Hồ Tôn Thốc đã thắng lý Hạng Vương mà lại thua lý lão thần họ Phạm vì ông này phơi bày cái hỏng sâu xa căn bản của Hán Vương ở chỗ cương thường, mọi sự rực rỡ chỉ là lớp vàng son của pho tượng đất rỗng ruột. Xong tu thân tề gia đến trị quốc bình thiên hạ cũng phải lấy nhân nghĩa làm gốc như lời khuyên Trần Phế Đế và Hồ Quý Ly trong Truyện bữa tiệc đêm ở Đà giang.
            Vợ chồng đối với nhau như nàng Nhị Khanh đối với Trọng Quỳ, nàng họ Vũ đối với chàng Trương, nàng Lệ Nương đối với Phật Sinh, phải có tiết nghĩa thủy chung, dầu chết cũng không đổi.
            Nhưng có một điểm vinh dự nhất của Nho giáo là dám dứt khoát chủ trương rằng đạo đức là cái làm cho thánh thần được thiêng, mà mất thiêng là bởi vì đọa lạc đường tà như thần Thuồng Luồng hay những ông Hộ Pháp, Thủy thần. Với chính trực, phàm nhân như chàng Ngô Tử Văn dám đốt cháy một ngôi đền mà lại lên địa vị thánh thần, chàng Văn Dĩ Thành được tuyển làm tướng Dạ Xoa cầm tính mệnh sinh linh.
            Đem so với những dân tộc bán khai thờ những ác thần, hiển nhiên là hơn, nhưng so với một nước sớm văn minh là Hi lạp cũng hơn về phương diện này. Bởi vì tối thượng thần Jupiter cùng với vợ là nữ thần Junon có những tính xấu như hoang dâm, ghen tuông, ác độc, và một số không phải ít những thần khác cũng mang những thói tật. Ấy thế mà họ đã được toàn dân phụng thờ hàng mấy mươi thế kỷ. Còn có sự phi lý như thế tức là thiên lý chưa vạn năng phổ quát như ở Nho giáo

* Trang 100 *
device

mà Nguyễn Dữ đã dùng sức hiểu sâu xa với nghệ thuật tuyệt vời để hiển dương.
            Nếu Nguyễn Dữ phối hợp và chứng minh gượng ép vụng về bao nhiêu thì Nguyễn Du tự nhiên khéo léo bấy nhiêu. Luân lý Nho giáo đi với lẽ nhân quả Phật giáo thành ra có một cơ sở triết lý vững vàng.
            Sách Trung Dung ghi rằng :
            “Cái đức của quỷ thần thật là thịnh lắm thay ! Trông không thấy, nghe không được. Nhưng ở đâu cũng có, khiến thiên hạ mọi người đều chay kính, ăn mặc trang nghiêm để tế tự, coi lồng lộng thay như đang ở trên, như ở bên tả và bên hữu.
            Kinh Thi nói : Quỷ thần soi xét, không thể lường được, chớ có xem thường.
            Ôi ! Quỷ thần mà hiểu rõ vậy thì hỏi cái thật ở trong con người làm sao che dấu được”.
            Nhưng việc quỷ thần thưởng phạt là mãnh lực đi bên ngoài chứ còn nhân quả là mãnh lực đi bên trong, mà chúng ta không ai có thể chạy trốn khỏi tim phổi của mình, Phật đã dạy rằng : “Dầu ngươi có chạy lên trời hay xuống biển cũng không thoát khỏi nghiệp”.
            Không có một đấng nào soi xét và ra tay thì nhân vẫn tự động sinh quả, thiện vẫn nẩy nở và ác vẫn tự hủy, mãnh lực của quỷ thần nếu có thờ cũng chỉ là trợ duyên chứ không phải nguyên động lực quyết định. Luật nhân quả chi phối cả quỷ thần. Nó chính là cái mà Nho giáo gọi là thiên lý và trong Truyền Kỳ Mạn Lục, ta thấy hai danh từ này đắp đổi cho nhau tự nhiên đến mực độ tuyệt vời để tác dụng vào tất cả mọi tầng lớp, trình độ.
            Nhưng làm sao giải thích được hiện tượng có hạnh mà nghèo, bất nhân mà khá nếu không có lẽ đầu thai chuyển kiếp.

* Trang 101 *
device

Thì chính Nguyễn Dữ đã nói trong Truyện gã trà đồng giáng sinh rằng : “Có hạnh mà nghèo, hoặc bởi tội khiên kiếp trước, bất nhân mà khá, hẳn là phúc thiện đời xưa”.
            Tuy khó biết sâu xa nhưng thực không sai tơ tóc. Cho nên không nên lập luận một bề và xem trời một mặt.
            Và truyện nghiệp oan của Đào Thị quả là một chứng minh linh động. Những cái gì đã kết giây oan ?
            Theo dõi nàng từ khi xuống học với Trần Dụ Tông, lời thơ tế nhị duyên dáng, qua lúc đi lại với quan hành khiển Ngụy Nhược Chân đến hồi luyến ái nói với nhà sư Vô Kỷ tuy nàng đã xuất gia đầu Phật, ta thấy một điều là sợi dây tình :
            “Lại mang lấy một chữ tình
            Khư khư mình buộc lấy mình vào trong
            Vậy nên những chốn thong dong,
            Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
            Ma đưa lối, quỷ đưa đường
            Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”.
Đ.T.T.T.
            Những lời này chỉ Đào Thị thực đúng nhưng không đúng với nàng Kiều vì tội nghiệp cho nàng, chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh. Bởi nàng yêu Kim Trọng là lẽ tự nhiên, yêu Thúc Sinh và yêu Từ Hải cũng hợp lý và có thế mới ra khỏi được hai chốn thanh lâu. Còn Đào Thị, tà dâm chồng chất lên tà dâm, tự mình đâm đầu vào cửa tử mấy lần, mới xứng đáng với những lời này.
            Từ ái dục đến sân hận, từ sân hận đến báo oán, nên vợ quan Hành khiển Ngụy Nhược Chân ngờ nàng tư thông với chồng, bắt nàng đánh một trận thật tàn nhẫn, và nàng đem những trâm thoa bằng vàng ngọc bán đi để thuê thích khách vào nhà Nhược Chân trả thù.

* Trang 102 *
device

Nhưng thích khách đến, bị người nhà Nhược Chân bắt được lúc đem tra khảo hắn xưng ra nàng, nàng phải trốn đi tu. Tuy nhiên lòng trần chưa đoạn nên còn gặp Văn nhân, và sau khi bị mỉa mai phải bỏ chùa ấy trốn đi chùa khác, lại luyến ái với nhà sư Vô Kỷ, và hai người sau khi chết lại đầu thai làm con Ngụy Nhược Chân để báo oán nhưng bị nhà sư Pháp Vân trừ khử.
            Xem Thập nhị Nhân duyên thì đầu mối là Vô minh, phân tách Vô minh ta thấy thực chất của nó là Ai dục, vậy Truyện nghiệp oan của Đào Thị vừa được lẽ đầu thai chuyển kiếp bổ túc cho lẽ nhân quả, vừa phơi bày nguyên động lực là ái dục. Kể ra thì mọi người chúng ta cũng như mọi chúng sanh đều vô minh, trường hợp Đào Thị là vô minh dưới hình thức nặng nề nhất, cụ thể nhất để ai nấy đều nhận rõ. Cái dư âm bao la thăm thẳm của Truyền Kỳ Mạn Lục chính là ở chỗ này. Nó triết lý mà không khô khan, nói ít mà khêu gợi rất nhiều.
CHÂN TƯỚNG NGUYỄN DỮ
            Nguyễn Dữ là nhà nho ở xương tủy nhưng phải chọn thái độ Lão Trang vì thời thế, hay Nguyễn Dữ tạm qua nơi cửa Khổng sân Trình để rồi sống với con người thực của mình ?
            Trước hết ta nên phân tích yếu tố Lão Trang ở trong mình, kể cả đức Khổng.
            Bởi thế cho nên khi nghe các đệ tử tỏ bày sở nguyện, kẻ muốn lập sự nghiệp lẫy lừng, kẻ cầu nhàn thoát tục, thì ngài ngỏ ý muốn như hạng người này. Nguyễn Công Trứ khi công thành danh toại là sống cảnh :
            “Dăm ba chú tiểu đồng lếch thếch
            Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn”.
Mà trước đó cũng đã :
            “Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc
            Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn”.

* Trang 103 *
device

Biết đủ tức là đủ; đợi đủ biết bao giờ đủ;
Biết nhàn tức là nhàn; đợi nhàn biết bao giờ nhàn.
Đại nho kinh bang tế thế đời Trần là Trương Hán Siêu cũng đề cao nhàn dật với những bài thơ mỹ lệ.
Chỉ có khác là ở thời Nguyễn Dữ hầu hết những danh sĩ như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hãng đều lấy nhàn làm lẽ sống một đời. Ta đã hiểu triều đình suy loạn nhà Lê, và triều đình bất chính nhà Mạc thì cũng nên thông cảm, và ta có thể nói được rằng Lão Trang chỉ là thái độ giữ mình cao khiết của nhà nho Nguyễn Dữ. Người Lão Trang thuần túy phải cực đoạn đến mực độ không thèm nhắc đến nhân, nghĩa, lễ, trí như Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh. Nhưng nhan nhản khắp Truyền Kỳ Mạn Lục là những lời răn dạy về cương thường với lửa chân thành và sự sâu sắc chứ không phải sơ sơ lấy lệ.
Tuy nhiên nhà nho chính thống này quả là con người toàn diện có sức cảm thông bao là linh diệu với những giáo lý khác như đạo Lão, đạo Phật để chung đúc thành một khối minh châu rực rỡ với nghệ thuật tuyệt vời xứng đáng với lời khen của Vũ Khâm Lân đời Lê là “Thiên cổ kỳ bút” – Áng văn lạ muôn đời.
THẠCH TRUNG GIẢ
 
CÁO LỖI
Vì lý do kỹ thuật, TƯ TƯỞNG số nầy ra quá trễ. Xin thành thật cáo lỗi cùng độc giả.
TƯ TƯỞNG số 4 tháng 6 sẽ phát hành trước ngày 30-6-72,
TƯ TƯỞNG

* Trang 104 *
device

LỜI KÊU GỌI
CÁC NHÀ HỌC GIẢ, ĐỒNG BÀO
PHẬT TƯ ĐÓNG GÓP TIỀN IN
QUYỂN TRƯỜNG BỘ KINH TẬP IV
của T.T THÍCH MINH CHÂU, VIỆN
TRƯỞNG VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
 
            Trường Bộ Kinh Tập III, gồm mười bản kinh dầy 820 trang, Pàli Việt đối chiếu,, đã được in xong 2000 quyển và phát hành ngày 8-6-72. Phí tổn in tập III vào khoảng 1.200.000$.
            Tập III in được phần lớn nhờ công đức hoằng pháp của Đại Đức Hộ Giác đã đứng ra giới thiệu, điều đình và bà Lưu Thị Quỳnh Hoa, chủ nhà in Quỳnh Hoa đã chịu in, chịu đóng bìa, hoàn toàn hồi hướng cho công đức dịch Kinh và in Kinh. Tập III cũng được một số các nhà Học giả, đồng bào Phật từ đóng góp thỉnh trước và góp vào một số tiền là 489.400$. Nhờ vậy nha Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh mới hoàn thành Trường Bộ Kinh tập III này.
            Sauk hi dịch xong tập III, tôi bắt đầu dịch tập IV trong những ngày tết Nhâm Tý (1972) và nay đã dịch xong tập IV, trước Phật Đản 2516 (tháng 5 năm 1972). Tập này gồm có 11 kinh như sau:
  1. P àtiasuttanta : Ba lợi kinh
  2. Udambarika Sìhanàdashuttanta :  Ưu đàm bà la sư tử hống kính

* Trang 105 *
device

3) Cakkavatti Sthan à dasuttanla : Chuyển luân thánh vương sư tử hống kinh. 
4) Aggnnasuttanta : Khởi thế nhân bổn kinh
5) Sampasàdikasuttanta Tự hoan hỷ kinh.
6) Pà sà dikasuttanta : Thanh tịnh kinh.
7) Lakkanasuttanta : Tam thập nhị tướng kinh
8) Sigàlovàdasuttanla : Giáo Thọ Thi ca la Việt kinh
9) Atànàlìyasuttanta : A shá nãng chi kinh
10)  Sangìtisuttanta : Đẳng tụng kinh
11)  Dasuttarasuttanta : Thập thượng kinh.
Kinh Pà tika nói đến thần thông và các bậc A La Hán. Kinh Udambarikasihanàda nói đến khổ hạnh. Kinh Cakkavattisìha-nàda đề cập đến chiến tranh, sự tàn ác của lòng người và tài sản. Kinh Aggannà giải thích sự hình thành vũ trụ thế giới. Kinh Sampasàdaniya nói lên sự hoan hỷ của con người khi được nghe đức Phật giảng dạy. Kinh Pàsàdika đề cập đến diệu dụng thuyết pháp của đức Phật làm mọi người sung sướng hạnh phúc. Kinh Lakkana phân biệt 32 tướng tốt của bậc Đại nhân. Kinh Sig àlovàda giải thích sự lễ bái sáu phương theo đức Phật. Kinh Àtànàtiya nói đến các bùa chú cầu nguyện. Hai kinh cuối San-gìti và Dasuttara là hai kinh tóm tắt giáo pháp của đức Phật trong tập Digha Nikàya và giới thiệu sự hình thành của Abhidh-amma (A Tỳ Đàm Tạng). Tập này, bản Pàli dày 323 trang, bản Việt dày khoảng 400 trang, tổng số lên đến hơn 700 trang. Giá tiền in cũng tương tự như tiền in tập III là vào khoảng 1.200.000$.
Tôi xin kêu gọi quý vị Phật tử, quý vị Học giả, các Giáo sư và Sinh viên, trong nước và ngoài nước hoặc phát tâm ấn tống hoặc đặt tiền mua trước 1000$ một quyển như quý vị đã làm

* Trang 106 *
device

đối với tập III để giúp chúng tôi in và phổ biến tập IV này. Chúng tôi xin kêu gọi Đại Đức Hộ Giác và bà chủ nhà in Quỳnh Hoa giúp đỡ chúng tôi in tập IV như đã giúp chúng tôi in tập III. Sự giúp đỡ của quý vị không những giúp chúng tôi hoàn tất bản dịch bộ Dìgha Nikàya (Trường Bộ Kinh), mà còn giúp chúng tôi bắt đầu dịch bộ Majjhimanikàya (Trung Bộ Kinh) gồm 152 kinh tất cả, nhân mùa an cư này.
            Quý vị có thể gởi ngân phiếu đề tên tôi và gởi về Viện Đại Học Vạn Hạnh 222 Trương Minh Giảng Saigon 3, hay trực tiếp đến nạp tiền cho Đạo hữu Hà Xuân Kỳ, Chánh Văn phòng Tòa Viện Trưởng. Nha Tu thư và Sưu Khảo Viện Đại Học Vạn Hạnh sẽ chịu trách nhiệm đứng ra in tập IV Trường Bộ Kinh này.
 
Vạn Hạnh, ngày 6-6-1972
T.T THÍCH MINH CHÂU
Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh
 
 
CẦU NGUYỆN GIÁC LINH
 
THẦY THANH VĂN
 
TÒA SOẠN TƯ TƯỞNG

* Trang 107 *
device

TƯ TƯỞNG
Năm thứ V Số 3 tháng 5 năm 1972.
 
 
MỤC LỤC
 
  1. ĐẠO PHẬT VỚI VĂN HỌC
            VÀ NGHỆ THUẬT                                                               Tư Tưởng        3
  1. GHI CHÚ SƠ BỘ VỀ TÌNH TRẠNG
           ĐIỂN TỊCH PHẬT GIÁO VIỆT NAM
           THẾ KỶ THỨ XIX.                                                   Lê Mạnh Thát             25
  1. NHỮNG DI TÍCH KIẾN TRÚC
             DANH TIẾNG TRIỀU LÝ                                       Nguyễn Bá Lăng         55
       4. THƠ                                                                             Hoài Khanh                 73
                                                                                                Herman Hesse
                                                                                                Hồ Ngạc Ngữ
                                                                                                Nam Chữ
                                                                                                Nguyễn Thanh Châu
                                                                                                Hoa Nhật Nguyệt
                                                                                                Lê Nghị
  1. HỆ THỐNG TAM GIÁO TRONG
           TRUYỀN KỲ MẠN LỤC                                         Thạch Trung Giả         83

 
Giấy phép số 521/BTT/NBC/HCBC cấp ngày 20 – 4 – 1970.
In tại Ấn quán Vạn Hạnh, 222 Trương Minh Giảng – Saigon.

* Trang 108 *
device

TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
 
 
Phát hành nhân mùa Phật Đản 2516
 
TRƯỜNG BỘ KINH
 
(DÌGHA-NIKÀYA)
 
TẬP III
của THƯỢNG TỌA THÍCH MINH CHÂU
 
 
 
   KIẾN TRÚC
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
 
Của Kiến Trúc Sư NGUYỄN BÁ LĂNG

* Trang 109 *
device

 
Tư Tưởng Số 3 (Năm 1972)