LOGO VNBET
THUYẾT TỔNG HỢP
(STRUCTURALISME)
VỀ NGÔN NGỮ HỌC

(Tiếp theo và hết)                                                     □TRƯƠNG VĂN CHÌNH
 
 
 
 
Quan hệ nội dung và quan hệ ngữ pháp trong câu
21.Câu là đơn vị quan trọng nhất, đơn vị « điển hình » của ngôn ngữ. Cho nên ngữ pháp, phép cấu tạo ngôn ngữ, mới chia ra từ pháp, phép cấu tạo từ (từ là đơn vị nhỏ nhất của lời nói), và cú pháp, phép cấu tạo câu.
Chúng ta đã định nghĩa câu là một tổ hợp từ, dùng để diễn tả một việc hay diễn tả nhiều việc có liên hệ với nhau về nội dung và cú pháp ; tổ hợp ấy tương đối đầy đủ ý nghĩa, và không phụ thuộc về cú pháp vào một tổ hợp nào khác. Vậy câu là tổ hợp độc lập về cú pháp đối với câuđứng trước hay câu đứng sau trên ngữ tuyến. (Điều 17, chúng đã coi tính chất độc lập của câu như một định đề).
 

* Trang 59 *
device

Câu diễn tả một việc là câu đơn (phrase simple). Câu diễn tả từ hai việc trở lên, gọi là câu phức (phrase composée). Trong một câu phức, mỗi tổ hợp dùng để diễn tả một việc gọi là phân cú (proposition), Thí dụ câu « tôi xin lỗi anh // hôm qua trời mưa suốt ngày // tôi không lại thăm anh được » là câu phức có ba phân cú. Nói quan hệ nội dung và quan hệ ngữ pháp trong câu, là nói quan hệ các phân cú trong một câu phức. Ta hãy lấy thí dụ dưới đâyđể giải thích về hai thứ quan hệ ấy. Bacâu ;
  1. Hôm qua trời mưa // tôi không lại thăm anh được.
(B)            Vì        hôm qua trời  mưa // tôi không lại thăm anh được.
(C)                        Hôm qua trời mưa // khiến cho tôi không lại thămanh được.
Về nội dung không khác gì nhau. Trong cả ba câu, hai phân cú đều có quan hệ nhân quả. Quan hệ nhân quả là quan hệ chính phụ, nghĩa là trong hai việc, có một việc chính và một việc phụ. Nhưng trong hai việc ấy, việc « nhân » và việc « quả », việc nào là chính, việc nào là phụ ?
Lấy luận lí mà xét, thì muốn cho nguyên nhân là ý chính, kết quả là ý phụ, hay ngược lại, coi kết quả là chính, nguyên nhân là phụ, đều được cả. Theo chủ trương thứ nhất thì nguyên nhân sinh ra kết quả, nên coi nguyên nhân là chính, kết quả là phụ. Nhưng, bảo rằng kết quả là việc xảy ra gần ta hơn phải coi lả chính, mà nguyên nhân chỉ là điều dùng để giải thích hay chứng minh kết quả, vậy nguyên nhân là phụ, cũng có lí.
Về nội dung thì như vậy, nhưng về cách cấu tạo hay cú pháp thì ba câu trên khác hẳn nhau. Trong câu A không có tiếng nào diễn tả quan hệ của hai việc. Ta nhận ra quan hệ ấy là quan hệ nhân quả, chỉ nhờ ý nghĩa cả câu. Trái lại trong hai câu B và C có dùng tiếng quan hệ từ phụ thuộc để diễn tả quan
 
 
 

* Trang 60 *
device

hệ của hai việc, nhưng quan hệ từ lại khác nhau. Trong câu B, quan hệ từ vi đi vớiphân cú diễn tả việc nguyên nhân, mà trong câu C, quan hệ từ khiến cho đi với phân cú diễn tả việc kết quả. Vì thế mà cách cấu tạo ba câu khác nhau.
Về cú pháp, chúng ta phân biệt ba câu trên như sau. Trong câu A không dùng quan hệ từ phụ thuộc, nên hai phân cú ngang giá trị nghĩa là không có phân cú nào là chính, phân cú nào là phụ, ta gọi là hai phân cú đẳng lập (proposition indépendante), và câu phức là câu liên hợp (phrase coordonnée).
Hai câu B và C đều dùng quan hệ từ phụ thuộc, nên có một phân cú chính (proposition principale) và một phân cú phụ (pro-positon subordonnée), và câu phức gọi là câu chính phụ (phrase complexe). Nhưng trong câu B, quan hệ từ phụ thuộc vì là quan hệ từ nguyên nhân, đi với phân cú nguyên nhân, nên phân cú kết quả là phân cú chính mà phân cú nguyên nhân là phâncú phụ. Ngược lại, trong câuC, quan hệ từ phụ thuộc khiến cho là quan hệ từ kết quả, nên phân cú nguyên nhân lại là phân cú chính, mà phân cú kết quả là phân cú phụ.
Ba câu thí dụ trên, tuy rằng diễn tả cùng một tư tưởng, nhưng cấu tạo khác nhau, cho nên phân tích cũng không giống nhau. Ấy là vì, như đã nói ở cuối điều 17, phân tích câu nói là phân tích tư tưởng theo hình thức cấu tạo. Nếu phân tích câu A cũng như hai câu B và C, nghĩa là coi câu gồm có một phân cú chính và một phân cú phụ thì là theo con đường duy tâm vậy. Các loại ngữ pháp
22.Dùng trong lời nói, mỗi từ có hai giá trị : giá trị về từ nghĩa (valeur sémantique) và giá trị về ngữ pháp (valeur grammaticale). Giá trị về từ nghĩa, tức là ý nghĩa của từ. Thí dụ, trong câu Chim bay, từ chim diễn tả ý niệm « nhân » và có nghĩa
 
 
 

* Trang 61 *
device

là loài động vật có lông vũ, có cánh bay ; từ bay diễn tả ý niệm « bay », và có nghĩa là di động trên không gian. Đó là giá trị về từ nghĩa của hai từ chim và bay. Nghĩa của từ, ta thấy trong từ điển, và giá trị về từ nghĩa hay ý nghĩa của từ thuộc về từ nghĩa học (sémantique). Nghiên cứu ngữ pháp, ta chỉ cần xét đến giá trị của từ về ngữ pháp.
Xét về giá trị ngữ pháp của từ, có hai phương diện : phương diện về khái niệm cơ bản theo tư tưởng (aspect conceptuel), và phương diện về cách cấu tạo lời nói theo cú pháp (aspect structural). Phương diện khái niệm cho ta phân định từ tính (nature des mots) ; phương diện cấu tạo cho ta phân định từ vụ (fonction grammaticale).
Từ tính và từ vụ là hai loại ngữ pháp (catégories grammaticales). Ngữ pháp cổ điển Tây phương còn phân biệt một loại thứ ba nữa là từ thái (modalités). Từ thái thường gồm có :

  1. Số (nombre) : có đơn số (singulier) và phức số (pluriel) ;
  2. Tính (genre) : có dương tính (masculin), âm tính (féminin) ; trung tính (neutre) ;
  3. Ngôi (personne) : có ba ngôi là ngôi thứ nhất (tự xưng), ngôi thứ nhì (đối xưng) và ngôi thứ ba (tha xưng) ;
  4. Thời (temps) : có thời hiện tại, thời quá khứ, thời vị lai ;
  5. Thời đoạn (aspect) : có giai đoạn khởi thủy, giai đoạn tiến hành, giai đoạn hoàn thành... ;
  6. Cách (mode) : có bất định cách (infinitif), trực thuyết cách (indicatif), điều kiện cách (conditionnel), mệnh lệnh cách (impératif), giả thiết cách (subjonctif)... ;
  7. Thức (voix) : có tác dộng thức (voix active), thụ động

 

* Trang 62 *
device

thức (voix passive), trung thức (voix moyenne) Verbe ở trung thức diễn tả chủ ngữ tự mình làm lấy việc gì hay là chủ ngữ làm việc gì có lợi cho mình ;
  1. Chức (cas) : có chủ chức (cas sujet), bổ chức (cas régime... [Từ thái biểu thị chức nhiều hay ít tùy theo ngôn ngữ, như tiếng La tinh có sáu chức, có ngôn ngữ có đến hơn hai chục].
Ngôn ngữẤn Âu diễn tả từ thái bằng phương tiện từ pháp (xem điều trên). Ngôn ngữ của ta không có từ pháp như của Tây phương ; từ thái diễn tả trong Việt ngữ bằng phương tiện cú pháp (so sánh ils với chúng nó, chanta với đã hát, chantera với sẽ hát). Vậy chúng ta không quan tâm đến từ thái, mà chỉ cần xét xem ngữ pháp cổ điển phân chia từ theo từ tính và từ vụ ra sao, để rồi tìm cách sửa đổi cho hợp với ngôn ngữ của ta.
Cũng cần phải nói thêm rằng chúng ta dùng « loại ngữ pháp » để dịch catégories grammaticales, nhưng có người dịch catégorie ra phạm trù. Phạm trù là một danh từ của môn triết học, nên chúng ta không dùng phạm trù mà dùng loại cho đúng và gọn hơn. (Tiếng proposition cũng là một danh từ triết học dùng vào môn ngữ pháp, từ trước đến giờ dịch là mệnh đề ; chúng ta cũng trả lại mệnh đề cho môn triết, và dùng phân cú thay vào).
Giới ngữ học Tây phương không đồng ý nhau về ý nghĩa của catégories grammaticales, có người như Marouzeau và Guiraud hiểu theo nghĩa rộng, gồm cả từ tính, từ vụ và từ thái, như đã nói trên. Nhưng, có người như Vendryès và Galichet lại hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ gồm có từ thái mà thôi. Hiểu theo nghĩa hẹp thì grammatical tương đương với morphologique « thuộc về từ pháp ». Nhiều tác giả Pháp dùng như thế, vì trong môn ngữ pháp Tây phương từ pháp quan trọng hơn cú pháp

 

* Trang 63 *
device

nhiều, và đã có một thời kì, nói đến ngữ pháp, người ta chỉ nghĩ đến từ pháp. Mà thật thế, trong suốt thế kỉ 19 ngữ học Tây phương chỉ phát triển về ngữ âm và từ pháp. Cho nên có nhà đã viết rằng ngôn ngữ gồm có ba phần : một hệ thống ngữ âm, một hệ thống từ pháp và một hệ thống từ ngữ, và gọi hệ thống từ pháp là ngữ pháp (41).
Ngôn ngữ Tây phương càng phát triển thì từ pháp càng giản dị, bỏ bớt phép biến thể (désinences), thay bằng phương tiện cú pháp cho nên từ thái cũng có thể diễn tả bằng phương tiện cú pháp, như il vient de partir « anh ấy vừa mới đi », il est en train de manqer « anh ấy đang ăn », il viendra peut-être (=il viendrait) « có lẽ anh ấy sẽ lại ».Vì thế mà có hai chủ trương. Có nhà như Vendryès cho rằng chỉ có phương tiện từ pháp mới thuộc vào từ thái. Có nhà như Brunot hav Galichet chủ trương rộng rãi hơn : từ thái có thể diễn tả bằng từ pháp hay cú pháp. Cũng vì thế mà Saussure cho rằng khócóthể phân biệt từ pháp với cú pháp (42).
Từ nh
23.Phương pháp cổ điển phân định từ tính (nature des mots) ra chính loại, là :
1. article                     2. substantif (nom)               3. adjectif
4. pronom                  5. verbe                                  6. adverbe
7 préposition                         8. conjonction                       9. interjection
 

(41) « Une langue est définie par trois choses : un système phoné. tique, un système morphologique et un vocabulaire, c'est-à-dire par une manière de prononcer, par une grammaire et par certaines manières de désigner les notions ». (A. Meillet, sdt.)
(42) « Linguistiquement, la morphologie n'a pas d'objet réel et autonome ; elle ne peut constituer une discipline distincte de la syntaxe». — (C LG 187).
 
 
 

* Trang 64 *
device

Chín loại ấy gọi là parties du discours hay espèces de mots (43). Lối phân loại trên bị chỉ trích không ngớt từ năm sáu chục năm nay. Ấy là vì ngữ pháp cổđiển có từ thế kỉ 17, rập theo La tinh, mà ngữ pháp La tinh lại rập theo ngữ pháp cổ Hi lạp. Ngay đối với tiếng cổ Hi lạp, cách phân loại ấy cũng đã không đúng rồi, làm sao mà hợp được với ngôn ngữ Tây phương hiện đại. Cho nên Vendryès đã phàn nàn rằng : giá mà những nhà làm ra ngữ pháp của Pháp không phải là môn đồ Aristote (44) thì môn học ấy chắc chắn đã khác hẳn.
Ta không thể kể ra hết thảy những nhà phê bình phương pháp cổđiển, mà chỉ đơn cử Lucien Tesnière, tác giả Eléments de syntaxe structurale. Theo nhà này, đáng lẽ chỉ căn cứ vào một tiêu chuẩn nhất định thì phương pháp cổ điển đặt tên và
 

(43) Vì người Pháp gọi các loại từ tính là espèces de mots, nên người Việt dịch ra từ loại. Chúng ta dùng từ loại theo nghĩa rộng hơn, gồm các loại về từ tính lẫn các loại về từ vụ. Người Việt còn dịch chín loại kể trên ra : (1) quán từ hay mạo từ, (2) danh từ, (3) tĩnh từ hay tính từ, (4) đại danh từ, (5) động từ, (6) trạng từ, (7) giới từ, (8) liên từ, (9) tán thán từ.
Trước kia còn cómột loại nữa là participe. Participe vốn có nghĩa là dự vào. Loại participe « dự vào » loại verbe và loại adjectif, nghĩa là vừa dùng như verbe, vừa dùng như adjectif. Cho nên có người dịch ra tĩnh động từ, cũng có người dịch ra trạng-động-từ (participe présent) và tính động từ (participe passé): Nay thì participe chỉ là một cách (mode) của loại verbe.
(44) Aristote là một nhà triết học trứ danh cổ Hi lạp (384-322 tr.KT) Ông sáng tạo ra luận lí học, và cũng là ông tổ của môn ngữ pháp cổ Hi lạp.
Có điều đáng chú ý là tại Tây phương, nhiều nhà triết học chú ý tới ngôn ngữ. Như Arnauld và Lancelot, đồng tác giả cuốn ngữ pháp đầu tiên của Pháp, La Grammaire générale et raisonnée, xuất bản năm 1660, cũng là hai nhà luận lí học. Sau hai ông, còn rất nhiều nhà triết học tới ngôn ngữ.
 
 
 

* Trang 65 *
device

định nghĩa các loại từ tính theo ba tiêu chuẩn khác nhau, là bản chất về ý nghĩa, chức vụ và vị trí.
Tên và định nghĩa bốn loại : article, substantif, verbe và participe, căn cứ vào bản chất. Tên và định nghĩa bốn loại : pronom, adjectif, adverbe và conjonction, thì căn cứ vào chức vụ, vì pronom thay cho nom, adjectif phụ với substantif, adverbe phụ với verbe, còn conjonction thì nối hai tiếng. Tên và định nghĩa hai loại : préposition và interjection, thì căn cứ vào vị trí, vì pré- potion là tiếng đặt trước substantif (pré = trước, position = vị trí), và interjection là tiếng «ném vào » (jeter entre) trong lời nói.
Cách phân loại theo phương pháp cổ điển hỏng từ căn bản, vì không dựa vào lí thuyết vững chắc nào. Cho nên đem thực dụng, không khỏi tạo ra những điều mâu thuẫn và vô lí. Ta hãy dẫn ra hai thí dụ sau. Nói Il viendra ce jour « anh ấy tới hôm nay » thì (ce) jour là substantif, nói Il viendra aujourd'hui, nghĩa cũng thế, mà aujourd'hui lại là adverbe. Nếu ta xét về phương diện khái niệm cũng như về phương diện cấu tạo thì trong hai câu trên không có lý do gì để xếp aujourd'hui và (ce) jour vào hai loại khác nhau.
Adverbe là loại tiếng thêm nghĩa cho verbe. Nhưng trong hai câu này : Aujourd'hui c'est dimanche « hôm nay chủ nhật », và Beaucoup d'explorateurs ne reviennent pas « nhiều nhà thám hiểm có đi mà không về » thì hai tiếng adverbe là aujourd'hui và beaucoup, phụ vào tiếng verbe nào ?
Những cái vô lí kể trên đã gây phản ứng trong con cháu tác

 

* Trang 66 *
device

giả Discours de la méthode « Phương pháp luận » (15). Nhưng cứ theo Vendryès thì phân loại từ tính khó đến nỗi cho đến nay chưa có cách nào gọi là có kết quả. (« La difficulté de classer les parties du discours est telle qu‘on n‘est pas arrivé à une classification satisfaisante. »— sdt).
Nỗi khó khăn ấy, theo chúng ta, có lẽ tại giới ngữ học Tây phương coi từ pháp quá trọng. (Ta đãnói ở trên rằng có một thời nói đến ngữ pháp, người ta chỉ nghĩ đến từ pháp). Pháp ngữ có từ biến thể (mot variable) và từ không biến thể (mot invariable). Những loại adverbe, conjonction, préposition, interjection không biến thể, còn loại khác cóbiến thể. Nếu định từ tính, chỉ xét phương diện khái niệm, đừng màn tới những phù hiệu biến thể thì rất dễ giải quyết trường hợp hai tiếng aujourd'hui và beaucoup dẫn trên.
Aujourd'hui tức là ce jour « hôm nay », beaucoup tức là un grand nombre « số nhiều, phần nhiều ». (Ce) jour và (un grand) nombre thuộc vào loại substantif, thì tại sao lại không có thể xếp aujourd'hui và beaucoup cũng vào loại substantif, và nếu cần thì phân biệt hai hạng substantif, một hạng có biến thể như jour, nombre, một hạng khôngbiến thể như aujourd'hui và beaucoup.
24.Chúng ta đã thấy khuyết điểm rất lớn về cách phân định từ tính theo phương pháp cổ điển, là lẫn từ tính với từ vụ. Đó là điểm chúng ta cần phải sửa lại. Chúng ta phải phân biệt thật rành rẽ từ tính với từ vụ, và phân định từ tính (nature
 
(45)  Réné Descartes (1596 – 1650) vừa là nhà khoa học nổi tiếng vào thế kỷ 17. Quyển Discours de la méthode xuất bản năm 1637 – Trong những tác phẩm của ông, Descartes đề cập rất nhiều đến ngôn ngữ. (Cũng xem lời chú 3).

 

* Trang 67 *
device

des mots) chúng ta chỉ căn cứ vào một tiêu chuẩn duy nhất là bản chất ý nghĩa của từ, nghĩa là căn cứ vào phương diện khái niệm cơ bản của tư tưởng.
Ngôn ngữ dùng đểbiểu đạt tư tưởng. Cấu thành tư tưởng có hai khái niệm cơ bản (concept fondamental) là sự vật (être) và sự trạng (procès). Hai khái niệm, sự vật và sự trạng, quan hệ mật thiết với nhau, vì nói sự vật, thường ta liên tưởng đến sự trạng, mà nói sự trạng thì phải nghĩ đến sự vật. Thế nào là khái niệm cơ bản ? Thế nào là sự vật và sự trạng ?
Mỗi từ diễn tả một ý niệm riêng. Nhưng, ta có thể xếp nhiều ý niệm, có chỗ giống nhau, thành một khái niệm rộng hơn. Thí dụ, những ý niệm : « cha », « mẹ », « thầy », « trò », « lính », « dân », « thợ »... xếp vào khái niệm « người » ; những ý niệm : « ngựa », « chó », « mèo », « voi ». « hổ »... xếp vào khái niệm « thú » ; những ý niệm : « vẹt », « sáo », « gà », « vịt »... xếp vào khái niệm « chim » ; những ý niệm : « mè », « chép », « rô », « trê »... xếp vào khái niệm « cá », vân vân.
Những khái niệm kể trên : « người », « thú », « chim », « cá ». có thể xếp chung vào một khái niệm rộng hơn là « động vật ». Khái niệm « động vật » lại cóthể gộp với khái niệm « thực vật » thành khái niệm rộng hơn nữa là khái niệm « sinh vật ». Ta còn hợp khái niệm « sinh vật » với khái niệm « vô sinh vật » thành khái niệm chung là « vật ». Ta cũng có thể hợp khái niệm « vật » là cái có hình thể rõ ràng với khái niệm « sự » là cái không có hình thể rõ ràng, nhưng ta cảm giác hay tưởng tượng ra mà biết được, thành khái niệm « sự vật ». Đến đây thì không
 
 
 

* Trang 68 *
device

còn khái niệm nào rộng hơn khái niệm « sự vật », nên ta gọi khái niệm « sự vật » là khái niệm cơ bản (46).
Nói đến một sự vật, thường ta nói sự vật ấy thế nào hay làm gì. Thí dụ, nói mẹ hiền, con thảo, trời xanh, mây trắng, là nói sự vật thế nào. Những ý niệm : « hiền », « thảo », « xanh », « trắng », diễn tả phẩm thái, tính chất của sự vật, ta hợp lại thành khái niệm « định trạng » (tức là trạng thái cố định, cố hữu).
Nói tôi học, nó viết, ngựa chạy, chim bay, là nói sự vật làm gì. Những ý niệm « học », « viết », « chạy », « bay » diễn tả sự vật động tác, ta gồm chung vào khái niệm « động trạng » (động tác cũng là một trạng thái). Ta hợp hai khái niệm « định trạng » và « động trạng » thành khái niệm cơ bản « sự trạng ». (Sự trạng tức là trạng thái của sự vật).
Tóm lại, hai khái niệm cơ bản của tư tưởng là sự vật và sự trạng. Ta định từ tính cho mỗi từ dùng trong câu theo hai khái niệm cơ bản ấy, và ta đặt tên cho những tiếng diễn tả sự vật là thể từ, những tiếng diễn tả sự trạng là trạng từ. Trong những thí dụ dẫn trên, những tiếng mẹ, con, trời, mây, tôi, nó, ngựa, chim là thể từ, những tiếng hiền, thảo, xanh, trắng, học, viết, chạy, bay là trạng từ.
 

(46) Thực ra từ vật có nghĩa rất rộng. Theo Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh), những cái có trong khoảng trời đấtđều gọi là vật. Theo Đại cương Triết học Trung quốc (Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê) thìDưong tử (440-380 tr. KT.) gọi là vật tất cả những cái gì ngoài cái thân của mình, nghĩa là cả vạn vật lẫn người khác, cả vũ trụ và xã hội. Vương Thuyền Sơn (1817-1862) thì cho rằng khắp vũ trụ cái gì cũng là vật : gió, chớp, mây, mưa là vật; gò, núi, sông, rạch là vật; âm, dương, ngũ hành là vật; cây cỏ, cầm thúnó nuôi ta là vật, tới sự đắc thất, thiện ác cùng là vật; cha, mẹ, anh, em cũng là vật; ngôn hạnh của thánh nhân cũng là vật ; đến nhân, nghĩa, lễ, nhạc cũng là vật.
 
 
 

* Trang 69 *
device

Chúng ta dùng thể từ để gọi tiếng chỉ sự vật, lấy ý rằng mỗi sự vật có mỗi thể riêng. Thế nào là thể ? Theo Nguyễn Giang; trong Cách đặt câu (1950) thì :
« Thể là bất cứ cái gì trí óc ta quan niệm được như một cái riêng biệt với mọi cái khác (. . .) Thể gồm cả những cái mà tay ta không chạm đến được, miễn rằng ta « thấy » được bởi một giác quan nào đó là đủ. Thấy được bởi một giác quan, âu cũng là một sự đụng chạm ở một tầng cao hơn thuộc về trí thức, thuộc về sự hiểu biết. Tay ta không sờ thấy, nhưng tai ta cóthể nghe thấy, mắt ta có thể trông thấy, mũi ta cóthể ngửi thấy, miệng ta cóthể nếm thấy, trí óc ta cóthể hiểu thấy, lòng ta có thể cảm thấy. Đều là có sự đụng chạm đến tai, mắt, mũi, miệng hay là trí óc và lòng vậy ».
Nguyễn Giang thêm rằng thể tức là đơn thể, Pháp ngữ gọi là entité. Pháp gọi tiếng chỉ sự vật là nom, mà cũng gọi là substantif. Substantif ổ substance mà ra, và theo Brunot thì xưa kia entité cũng gọi là substance (47).
Chúng ta dùng trạng từ mà không phân biệt động từ với tĩnh từ (hay tính từ) là vì có những tiếng chỉ trạng thái tâm lí và sinh lý như yêu, ghét, lo, sợ, mừng, giận, buồn, vui, đau, đói, rét.., ta thấy khó mà định rằng những trạng từ ấy chỉ động trạng hay định trạng. Vã lại, người Tây phương phân biệt verbe và adjectif không phải vì bản chất ý nghĩa mà vì phép biến thể nghĩa là về phương diện từ pháp. Chúng ta không cần bắt chước ngữ pháp Tây phương về điểm ấy.
 
(47) Ta quen dùng danh từ làm tiếng chỉ sự vật, là dịch nom. Nhưng trong hai tiếng nom và substantif, có nhiều nhà ngữ học Pháp, trong số ấy có Meillet, cho rằng substantif đúng hơn nom.
 
 
 

* Trang 70 *
device

Thể từ và trạng từ đều là tiếng có thực nghĩa (thực từ), ta gọi chung là danh từ (Danh = tên gọi ; danh từ = tiếng dùng để gọi một ý niệm). Ngoài thể từ và trạng từ, còn có một loại nữa gọi là trợ từ. Trợ từ không có thực nghĩa (hư từ), dùng trong câu chỉ giúp cho lời nói thêm mạnh mẽ, linh hoạt khỏi cụt cằn, cộc lốc, hay là thay chỗ ngừng trong khi nói. Thí dụ, trong câu Áo đẹp nhỉ ! áo là thể từ, đẹp là trạng từ, mà nhỉ là trợ từ. Tiếng nhỉ không chỉ sự vật mà cũng không chỉ sự trạng, chỉ giúp cho ngữ khi rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn. (Bốn tiếng thì, là, mà, rằng cũng là trợ từ.)
Nói tóm lại, chúng ta phân định có ba loại về từ tính :
  1. Thể từ
  2. Trạng từ               Danh từ (Thực từ)
  3. Trợ từ ………………..   (Hư từ)
Từ tính là một chức năng (fonction) của từ trong câu nói, chức năng theo bản chất của từ về ý nghĩa ; từ tính là một phần của giá trị ngữ pháp của từ. Một chức năng nữa của từ, hay là một phần nữa của giá trị ngữ pháp của từ, là từ vụ, chúng ta sẽ nói ở điều sau.
Từ vụ và quan hệ các từ trong câu
25.Tuy rằng từ tính và từ vụ là hai chức năng của từ nhưng so sánh thì từ vụ quan trọng hơn từ tính. Trong một câu mà chỉ xét về từ tính, không xét đến từ vụ thì ta không hiểu được cách cấu tạo. Như ba câu Chim bay, Mai tết, Giáp đánh Ất, mà chỉ nói rằng câu có một thể từ và một trạng từ hay là có hai thể từ hay nữa có hai thể từ và một trạng từ, thì chẳng giúp gì cho ta hiểu cách cấu tạo.Muốn biết cách cấu tạo,phải biết nhận
 
 
 

* Trang 71 *
device

định những mối quan hệ các từ với nhau thế nào, vì rằng tổ chức nếu câu nói, chính là những mối quan hệ ấy.
Từ có thể chất là âm thanh (hay chữ dùng để ghi âm thanh), mà mối quan hệ từ nọ với từ kia thường không có thể chất : nói ra ta không nghe thấy, viết ra, ta không nhìn thấy, nhưng trí óc ta nhận mà biết được. Không có thể chất mà lại rất cần thiết, vì chính những mối quan hệ ấy là nồng cốt của câu nói, chính nhờ mối quan hệ ấy mà câu mới có ý nghĩa. Ý nghĩa một câu không phải chỉ là tổng hợp ý nghĩa các từ trong câu, mà còn tùy thuộc mối quan hệ các từ với nhau thế nào.
Thí dụ, câu Chim bay tuy rằng có hai từ, nhưng có ba yếu tố cấu tạo nên, câu, là : 1. từ chim, - 2. từ bay, - 3. mối quan hệ từ chim với từ bay. Chính nhờ mối quan hệ ấy mà ta hiểu rằng sự vật chim làm động tác bay, nhờ có mối quan hệ ấy mà chim bay là một câu. Không có mối quan hệ ấy thì chim và bay chỉ là hai âm rời rạc diễn tả hai ý niệm rời rạc.
Câu Giáp đánh Ấtcó ba từ, và nhận ra hai mối quan hệ : một trong hai từ Giáp và đánh, một trong hai từ đánh và Ất. Nhờ thế ta hiểu rằng có một người tên là Giáp, người ấy làm động tác đánh, và có người thứ hai tên là Ất, người này chịu động tác đánh. Cũng vẫn ba từ ấy mà nói Ất đánh Giáp, thì ý nghĩa câu khác hẳn, là vì ta đã thay đổi quan hệ các từ với nhau. Ta cũng nhận thấy rằng tạo ra những mối quan hệ trong câu là vị trí các từ đối với nhau, và vị trí các từ định hình thức cấu tạo câu.
Cú pháp nghiên cứu cách cấu tạo câu, tức là nghiên cứu những mối quan hệ các từ trong câu, nghiêncứu những quy

 

* Trang 72 *
device

luật tổ chức từ thành câu. Nghiên cứu tổ chức câu nói, là phân định cho mỗi từ có nhiệm vụ gì trong câu, ta gọi là từ vụ. Phép tắc cấu tạo câu nói căn cứ vào các phân công thích đáng cho mỗi từ trong câu, và xếp đặt vị trí mỗi từ tùy theo chức vụ. Ta có thể ví hệ thống cú pháp như tổ chức một cơ quan hành chính chia ra nhiều phòng, sở, không cách biệt nhau, mà phải mật thiết quan hệ với nhau để cho công việc điều hòa. Nhân viên trong cơ quan, từ người chủ trì cho đến người thừa sai, mỗi người có chức vụ nhất định công việc phân chia tùy theo khả năng. Trong một câu nói cũng vậy, mỗi từ có chức vụ nhất định thì mới cấu tạo nên câu, mà chức vụ ấy (từ vụ) do quan hệ các từ với nhau định đoạt.
Tóm lại, cái vốn từ ngữ trong từ điển chỉ là vật liệu vô cơ. Nhờ có cú pháp, ta mới sử dụng được ngôn ngữ để tổ chức thành lời nói sinh động. Cú pháp là linh hồn của ngôn ngữ. Tạo ra cái linh hồn ấy là những quan hệ các từ trong câu. Tuy nhiên, những mối quan hệ ấy không phải là cùng một đẳng cấp, mà chia ra hai hạng, nếu chúng ta phân biệt quan hệ chính và quan hệ thứ, chúng ta sẽ giải thích dưới đây.
Câu Chim bay có hai từ. Mỗi từ có một chức vụ, mỗi chức vụ ứng vào một thành phần. Vậy câu Chim bay có hai thànhphần, mỗi thành phần là một từ. Phân định từ vụ cho hai từ, ta gọi chim là chủ ngữ, bay là thuật ngữ. Chủ ngữ chỉ sự vật làm chủ việc diễn tả trong câu : chim là là chủ việc « chim bay ». Thuật ngữ nói về chủ ngữ : bay nói về chim, nói chim làm gì ? — Chim bay.
 
 
 

* Trang 73 *
device

Câu Giáp đánh Ất có ba từ, nhưng cũng chỉ có hai thành phần như câu trên. Từ Giáp là chủ ngữ, và cả tổ hợp đánh Ất là thuật ngữ. Giáp tương đương với chim ở câu trên, và đánh Ất tương đương với bay. Cả tổ hợp đánh Ất mới đủ nghĩa để nói về Giáp vì hỏi : Giáp làm gì ? ta phải trả lời : Giáp đánh Ất, chứ nói Giáp đánh thì không đủ nghĩa.
Ta biết rằng trong câu Chim bay chỉ có một mối quan hệ mà trong câu Giáp đánh Ất có hai mối quan hệ. Hai mối quan hệ ấy tính chất khác nhau, nên giá trị không ngang nhau. Quan hệ của từ Giáp với từ kết đánh Ất giống quan hệ của từ chim với từ bay, là quan hệ hai thành phần câu với nhau, ta gọi là quan hệ chính. Còn quan hệ của từ đánh với Ất là quan hệ trong một thành phần câu, ta gọi là quan hệ thứ.
Mối quan hệ các từ trong câu định từ vụ, mà có hai hạng quan hệ thì cũng có hai hạng từ vụ. Quan hệ chính định từ vụ chính, quan hệ thư định từ vụ thứ. Muốn hiểu rõ hơn về từ vụ chính và từ vụ thứ, ta hãy dẫn thêm một thí dụ nữa. Đáng lẽ nói câu
(A) Chim bay
ta nói câu dài hơn là
(B) Hai con chim non đang bay là là
thì câu thứ nhì cũng có hai thành phần như câu thứ nhất,có khác là trong câu A mỗi thành phần chỉ là một từ, mà trong câu B mỗi thành phần là một tổ hợp. Trong câu A, từ chim là chủ ngữ, từ bay là thuật ngữ, mà trong câu B, tổ hợp hai con chim non là chủ ngữ, và tổ hợp đang bay là là là thuật ngữ. Quan hệ của từ
 
 
 

* Trang 74 *
device

chim với từ bay (câu A) giống quan hệ của tổ hợp hai con chim non với tổ hợp đang bay là là (câu B). Quan hệ ấy là quan hệ hai thành phần câu, nghĩa là quan hệ chính, vậy thì chủ ngữ và thuật ngữ là hai từ vụ chính. Hai tổ hợp hai con chim non và đang bay là là, ta gọi là từ kết.
So sánh hai câu A và B, ta nhận thấy trong mỗi từ kết dùng làm chủ ngữ hay thuật ngữ của câu B, có một từ diễn tả ý chính, còn các từ khác diễn tả ý phụ vào ý chính. Vậy thì trong mỗi từ kết có một từ chính (diễn tả ý chinh), và có một hay nhiều từ phụ (diễn tả ý phụ). Như trong từ kết hai con chim non, từ chim là tiếng chính, và ba từ hai, con, non là tiếng phụ trong từ kết đang bay là là, từ bay là tiếng chính, và hai từ đang, là là là tiếng phu (là là là từ kết). Quan hệ của tiếng chính với tiếng phụ trong từ kết là quan hệ thứ, vậy thì tiếng phụ giữ từ vụ thứ đối với tiếng chính : hai, con và non giữ từ vụ thứ đối với chim ; đang và là là giữ từ vụ thứ đối với bay.
26.Tóm lại, quan hệ chính là quan hệ các thành phần câu với nhau, quan hệ thứ là quan hệ của tiếng phụ đối với tiếng chính trong một từ kết. Từ vụ chính ứng vào thành phần câu, mà từ vụ thứ ứng vào tiếng phụ (ta gọi là bộ phận phụ) trong một từ kết.
Một câu chia ra nhiều thành phần. Ngoài chủ ngừ và thuật ngữ là hai thành phần cốt yếu, còn có những thành phần phụ gia diễn tả hoàn cảnh khách quan hay chủ quan. Một việc có thể xảy ra ở đâu (không gian), bao giờ hay bao lâu (thời gian), thế nào (tình trạng), vì sao (nguyên nhân), để làm gì (kết quả hay

 

* Trang 75 *
device

mụcđích), và theo điều kiện nào. Đó là hoàn cảnh khách quan diễn tả bằng bổ ngữ. Người nói cũng có thể xác nhận hay phủ nhận, xác tin hay hoài nghi một việc ; đó là hoàn cảnh chủ quan diễn tả bằng phó ngữ. Thí dụ, nói Mai Giáp về thì mai là bổ ngữ thời gian ; mà nói Có lẽ mai Giáp về thì có lẽ là phó ngữ hoài nghi.
Ngoài những thành phần kể trên, câu còn có thểcó một thành phần nữa là chủ đề. Chủ đề diễu tả đầu đề câu nói mà không phải là chủ ngữ. Thí dụ, trong câu Giáp, có lẽ mai nó về, thì nó là chủ ngữ mà Giáp là chủ đề ; trong câu Thư tôi gửi rồi, thì tôi là chủ ngữ mà thư là chủ đề. Tóm lại, một câu có thểcó những thành phần sau đây : 1. chủ đề, - 2. chủ ngữ, - 3. thuật ngữ, - 4. bổ ngữ (có nhiều hạng), - 5. phó ngữ (có nhiều hạng).
Chủ đề, chủ ngữ, thuật ngữ, bổ ngữ, và phó ngữ là thành phần câu, mà cũng là từ vụ chính. Chủ ngữ và thuật ngữ là thành phần cốt yếu, bổ ngữ và phó ngữ là thành phần phụ thuộc, chủ đề là thành phần riêng biệt, không phụ thuôc vào thành phần nào khác trong câu.
Từ vụ chính ứng vào thành phần câu, thì từ vụ thứ ứng vào bộ phận phụ trong từ kết. Có hai loại từ vụ thứ, là bổ từ và phó từ (48). Bổ từ và phó từ còn chia ra nhiều hạng. Nói về vị trí trong từ kết thì thông thường bổ từ đứng sau tiếng chính mà phó từ đứng trước. Lấy câu Hai con chim non đang bay là
 
(48) Còn một hạng từ vụ nữa là quan hệ từ, ta cũng coi là từ vụ thứ.
 
 
 

* Trang 76 *
device

là, dẫn trên, ta phân định từ vụ chính và từ vụ thứ như sau :
tiếng chính : chim
Chủ ngữ :       Hai con chim non                 phó từ             hai
                                                                                                con
                                                                        bổ từ   :           non
                                                            tiếng chính : bay
Thuật ngữ : đang bay là là               phó từ : đang
                                                            bổ từ : là là
 
Vậy thì chúng ta phân biệt rõ ràng từ vụ chính với từ vụ thứ, phân biệt thành phần phụ thuộc trong câu và bộ phận phụ thuộc trong từ kết. Bổ ngữ và phó ngữ là thành phần phụ thuộc trong câu ; bổ từ và phó từ là thành phần phụ thuộc trong từ kết. Chúng ta dùng những quan niệm ấy để sửa lại cách phân định từ vụ theo phương pháp cổđiển, nói ở dưới.
27.Ngữ pháp cổđiển chia một câu ra những thành phần sau : sujet « chủ ngữ »,  complément d'objet « khách từ », complément circonstanciel « bổ ngữ hoàn cảnh », attribut « thuộc ngữ » và verbe « thuật ngữ ». Trừ verbe, bốn thành phần khác gồm cả tiếng chính và tiếng phụ. (« Le sujet, le complément d‘objet, le complément circonstanciel, 1‘attribut, accompagnés de leurs différents déterminatifs, sont, avec le verbe, les termes de la proposition ». — Crouzet, Grammaire française simple et complète).
Chúng ta dịch verbe ở đây ra thuật ngữ, vì rằng verbe dùng trong môn ngữ phảp có hai nghĩa. Nói rằng verbe là tiếng chỉ trạng thái hay động tác (« le verbe esjt un mot qui exprime l'état ou l'action »), thì verbe hiểu theo nghĩa về từ tính, nhiều người đã dịch ra động từ, và chúng ta dịch ra trạng từ. Nói rằng verbe
 
 
 

* Trang 77 *
device

là tiếng dùng trong câu để nói về chủ ngữ («le verbe est le mot de la proposition qui exprime ce qu'on dit du sujet »). thì verbe hiểu theo nghĩa về từ vụ, nên chúng ta dịch là thuật ngữ. Dùng cùng một danh từ để chỉ hai ý niệm, đó là khuyết điểm của ngữ pháp cổ điển. Nhưng sở dĩ dùng như vậy là vì từ vụ gọi là verbe, về từ tính bắt buộc phải là verbe. Nên có nhà đã viết một câu như sau : « Le verbe est destiné à remplir les fonctions de verbe » (verbe dùng để giữ chức vụ verbe) : tiếng verbe thứ nhất chỉ từ tính, tiếng verbe thứ nhì chỉ từ vụ.
Những tiếng dùng làm sujet, complément d'objet, complément circonstanciel và attribut, về từ tính là substantif, pronom hay bất định cách (infinitif) của từ loại verbe. Adjectif qualificatif cũng có thể dùng làm attribut.
Complément d'objet và complément circonstanciel đã là thành phần câu, lại còn coi là bổ từ của verbe. (« Le verbe est souvent complété par des compléments d'objet et des compléments circonstanciel ». — Crouzet, sdt). Đó là một khuyết điểm nữa, vì nếu là bổ từ của verbe thì phải hợp với verbe thành một đơn vị cú pháp, cũng như sujet và mấy thành phần khác, gồm cả tiếng chính và tiếng phụ.
So sánh với từ vụ chính và từ vụ thứ nói ở điều trêu, thì termes de la proposition « thành phần câu » là từ vụ chính, mà (les) différents déterminatifs « tất cả các tiếng phụ » là từ vụ thứ. Nhưng chúng ta chỉ có thể coi complément circonstanciel « bổ ngữ hoàn cảnh » là từ vụ chính, mà complément d'objet  «khách từ» phải coi lả từ vụ thứ, vì khách từ chỉ là một hạng bổ
 
 
 

* Trang 78 *
device

từ của trạng từ. Ta hãy xem câu Giáp đánh Ất : Ất là khách từ của đánh, cả tổ hợp hay từ kết đánh Ất mới đủ nghĩa làm thuật ngữ, cho nên Ất giữ từ vụ thứ trong từ kết dùng làm thuật ngữ, chứ không thể đứng riêng làm thành phần câu được
Những tiếng phụ (les différents déterminatifs) nói trên chia ra hai loại. Một loại gồm : complément déterminatif « bổ từ chỉ định », apposition « bổ từ giải thích » và épithète « hình dung từ ». Những tiếng dùng làm complément déterminatif và apposition, về từ tính, là substantif, còn những tiếng dùng làm épithète, về từ tính, là adjectif qualificatif.
Một loại tiếng phụ nữa gồm những từ loại về từ tính là article và adjectif déterminatif. Việt nam Văn phạm (Trần Trọng Kim) dịch adjectif qualificatif ra tĩnh từ và adjectif déterminatif ra chỉ định từ. Chỉ định từ gồm có : sở hữu chỉ định từ (ad jectif possessif), chỉ thị chỉ định từ (adjectif démonstratif), số mục chỉ định từ (adjectif numéral), phiếm chỉ chỉ định từ (adjectif indéfini), nghi vấn chỉ định từ (adjectif interrogatif).
Chúng ta đã thấy năm loại về từ tính, là : article, substantif, adjectif, pronom và verbe, có thể giữ từ vụ gì trong câu. Ba loại préposition, conjonction (hai loại này tương đương với quan hệ từ) và interjection (tương đương với trợ từ) là tiếng phụ trong câu. Còn loại adverbe, theo định nghĩa là phụ vào verbe, nhưng dùng trong câu, coi là giữ từ vụ chính hav từ vụ thứ, thì không thấy nói đến.
Phân tích câu
28. Theo ngữ pháp cổ điển thì phân tích câu đơn, dùng lối

 

* Trang 79 *
device

Trong tiếng Việt cũng có rất nhiều trường hợp nếu để nguyên cả câu thì dễ hiểu, mà phân tích theo kiểu trên [tách rời từng từ một] thì làm cho khó hiểu vì ý nghĩa vốn có sẽ vụn nát. Lấy đồ giải ra để minh họa thì điều này sẽ càng rõ. Ví dụ :
— Anh bao nhiêu tuổi ?
                                    Anh                 tuổi
bao nhiêu
 

— Cái ghế này ba chân :
Cái ghế                       chân
này                              ba
 
Người ta sẽ không hiểu quan hệ về ý nghĩa và nhất là về ngữ pháp giữa anh và tuổi, giữa cái ghế và chân là như thế nào, và tại sao tuổi và chân lại có thể làm [thuật ngữ] của câu được.
Trước đây, ta thường nói : phân tích ngữ pháp giúp cho tư duy chính xác. Nhưng nếu dùng phương pháp trên thì nhiều khi sẽ làm cho tư duy trở nên mơ hồ. Ví dụ, nếu ta phân tích câu : Học suông là vô ích theo đồ giải như sau :
Học                 là /  vô ích
suông /
 
Người mới học, thoạt nhìn sẽ thấy kỳ lạ : tại sao học mà lại vô ích. Chúng ta có thế thấy rất nhiều ví dụ như trên : nếu cứ cắt rời từng từ ra để phân tích ngữ pháp thì nhiều khi ý nghĩa sẽ trở nên tối tăm buồn cười (...)
 
 
 

* Trang 80 *
device

29. Chúng ta lấy phương pháp tổng hợp để phân tích câu, thay cả hai lối phân tích nói trên. Một câu, dù là câu đơn hay câu phức, chia ra thành phần (chủ ngữ, thuật ngữ, bổ ngữ, v.v.) trước đã, rồi có muốn phân tích mỗi thành phần thì cứ phân chia lần lần cho đến đơn vị nhỏ nhất là từ (đ.6). Điều 7, chúng ta đã phân tích một câu đơn là Chúng tôi đi máy bay bốn động Cơ của công ty hàng không Việt nam. Dưới đây là thí dụ phân tích câu phức.
a. Mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa tổ chức việc học chữ Nho // vì mấy triều ấy còn phải lo việc chống nhau với nước Tàu //để cho nền tự chủ được vững, (theo Dương Quảng Hàm )
Theo lối cũ thì câu có ba phân cú và phân tích như sau :
Phân cú chính : Mấy triều NgôĐinh, Tiền Lê chưa tổ chức việc học chữ Nho :
Phân cú phụ làm bổ ngữ nguyên nhân : vì mấy triều ấy còn phải lo việc chống nhau với nước Tàu ;
Phân cú phụ làm bổ ngữ mục đích : để cho nền tự chủ được vững.
Nhưng xét ý nghĩa cả câu thì « để cho nền tự chủ được vững » không phải mục đích của « mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa tổ chức việc học chữ Nho », mà là mục đích của « mấy triều ấy còn phải lo việc chống nhau với nước tàu », và phụ vào tổ hợp này. Cho nên ta sẽ phân tích câu trên ra ba thành phần là :
Chủ ngữ : mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê :
Thuật ngữ : chưa tổ chức việc học chữ Nho :
Bổ ngữ nguyên nhân : (vì) mấy triều ấy còn phải chống nhauvới nước Tàu để cho nền tự chủ được vững.

 

* Trang 81 *
device

b. Công thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm, không thua gì công vua Vũ tháo nước lụt, đuổi muông dữ để cho thiên hạ an cư lạc nghiệp. (Ngô Đức Kế)
Theo lối cũ thì câu phân tích như dưới :
Phân cú chính : Công không thua gì công ;
Phân cú phụ làm bổ từ cho tiếng công thứ nhất : thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm ;
Phân cú phụ làm bổ từ cho tiếng công thứ nhì : vua Vũ tháo nước lụt, đuổi muông dữ để cho thiên hạ an cư lạc nghiệp.
Phân tích như trên thì « công không thua vì công » chẳng cóý nghĩa gì cả, mà phải chia câu ra hai thành phần là :
Chủ ngữ : công thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm ;
Thuật ngữ : không thua gì công vua Vũ tháo nước lụt, đuổi muông dữ để cho thiên hạ an cư lạc nghiệp.
Tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc Sách tuy không đáng tin / nhưng [tài liệu ấy] cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung hoa thời Đông Chu // vì dù tác giả của bộ đó có tưởng tượng các mưu mô, các lời biện thuyết của bọn biện sĩ // thì ít nhất [họ] cũng phải dựa một phần nào vào sự thực // để [tài liệu ấy] không trái ngược với cảnh huống xã hội. (Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê),
Câu gồm có năm phân cú. Có nhiều ý bị lược, ta điền những tiếng lược và đặt trong dấu ngoặc. Mới nhìn thì tưởng rằng câu cấu tạo khá phức tạp, nhưng thực ra rất dễ nhận quan hệ các phân cú với nhau, nhờ có quan hệ từ liên hợp (tuy . . . nhưng) và quan hệ từ phụ thuộc (vì, dù, để).
Nếu theo lối « phân tích mệnh đề », chỉ kể ra các phân cú

 

* Trang 82 *
device

thì ta không hiểu được cơ cấu trong câu, mà cũng không bổích gì cho người học. Trái lại, dùng phương pháp tổng hợp thì rất giản dị.
Ta hãy ngắt câu đến Đông Chu : « Tài liệu . . . Đông Chu ». Tổ hợp gồm có hai phân cú đẳng lập, là : « Tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc Sách tuy không đáng tin » và « Nhưng [tài liệu ấy] cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung hoa thời Đông Chu ».
Phần còn lại, « (vì) dù tác giả . . . xã hội » gồm ba phân cú mật thiết với nhau thành một toàn bộ : ý « dù tác giả của bộ đó có tưởng tượng các mưu mô, các lời biện thuyết của bọn biện sĩ », và ý « để [tài liệu ấy] không trái ngược với cảnh huống xã hội », đều phụ vào ý « ít nhất [họ] cũng phải dự một phần nào vào sự thực ».
Mặt khác, cả tổ hợp gồm ba phân cú nói trên, lại phụ vào ý « [tài liệu ấy] cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung hoa thời Đông Chu». Tóm lại, ta phân chia câu trên ra hai phần : phần thứ nhất gồm một phân cú là phân cú thứ nhất ; phần thứ hai gồm bốn phân cú còn lại :
Phần I             Chủ ngữ ; tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc Sách ;
Thuật ngữ : không đáng tin
(Quan hệ từ : tuy . . . nhưng)
                        Chủ ngữ : [tài liệu ấy]
Phần II            Thuật ngữ : cũng cho ta hiểu tình trạng xã hội Trung Hoa thời Đông Chu
                        Bổ ngữ nguyên nhân : (vì) dù tác giả của bộ đó… cảnh huống xã hội.
 
 
 

* Trang 83 *
device

29. Chúng ta lấy phương pháp tổng hợp để phân tích câu, thay cả hai lối phân tích nói trên. Một câu, dù là câu đơn hay câu phức, chia ra thành phần (chủ ngữ, thuật ngữ, bổ ngữ, v.v.) trước đã, rồi có muốn phân tích mỗi thành phần thì cứ phân chia lần lần cho đến đơn vị nhỏ nhất là từ (đ.6). Điều 7, chúng ta đã phân tích một câu đơn là Chúng tôi đi máy bay bốn động Cơ của công ty hàng không Việt nam. Dưới đây là thí dụ phân tích câu phức.
a. Mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa tổ chức việc học chữ Nho // vì mấy triều ấy còn phải lo việc chống nhau với nước Tàu //để cho nền tự chủ được vững, (theo Dương Quảng Hàm )
Theo lối cũ thì câu có ba phân cú và phân tích như sau :
Phân cú chính : Mấy triều Ngô Đinh, Tiền Lê chưa tổ chức việc học chữ Nho :
Phân cú phụ làm bổ ngữ nguyên nhân : vì mấy triều ấy còn phải lo việc chống nhau với nước Tàu ;
Phân cú phụ làm bổ ngữ mục đích : để cho nền tự chủ được vững.
Nhưng xét ý nghĩa cả câu thì « để cho nền tự chủ được vững » không phải mục đích của « mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa tổ chức việc học chữ Nho », mà là mục đích của « mấy triều ấy còn phải lo việc chống nhau với nước tàu », và phụ vào tổ hợp này. Cho nên ta sẽ phân tích câu trên ra ba thành phần là :
Chủ ngữ : mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê :
Thuật ngữ : chưa tổ chức việc học chữ Nho :
Bổ ngữ nguyên nhân : (vì) mấy triều ấy còn phải chống nhauvới nước Tàu để cho nền tự chủ được vững.

 

* Trang 84 *
device

b. Công thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm, không thua gì công vua Vũ tháo nước lụt, đuổi muông dữ để cho thiên hạ an cư lạc nghiệp. (Ngô Đức Kế)
Theo lối cũ thì câu phân tích như dưới :
Phân cú chính : Công không thua gì công ;
Phân cú phụ làm bổ từ cho tiếng công thứ nhất : thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm ;
Phân cú phụ làm bổ từ cho tiếng công thứ nhì : vua Vũ tháo nước lụt, đuổi muông dữ để cho thiên hạ an cư lạc nghiệp.
Phân tích như trên thì « công không thua vì công » chẳng cóý nghĩa gì cả, mà phải chia câu ra hai thành phần là :
Chủ ngữ : công thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm ;
Thuật ngữ : không thua gì công vua Vũ tháo nước lụt, đuổi muông dữ để cho thiên hạ an cư lạc nghiệp.
Tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc Sách tuy không đáng tin / nhưng [tài liệu ấy] cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung hoa thời Đông Chu // vì dù tác giả của bộ đó có tưởng tượng các mưu mô, các lời biện thuyết của bọn biện sĩ // thì ít nhất [họ] cũng phải dựa một phần nào vào sự thực // để [tài liệu ấy] không trái ngược với cảnh huống xã hội. (Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê),
Câu gồm có năm phân cú. Có nhiều ý bị lược, ta điền những tiếng lược và đặt trong dấu ngoặc. Mới nhìn thì tưởng rằng câu cấu tạo khá phức tạp, nhưng thực ra rất dễ nhận quan hệ các phân cú với nhau, nhờ có quan hệ từ liên hợp (tuy . . . nhưng) và quan hệ từ phụ thuộc (vì, dù, để).
Nếu theo lối « phân tích mệnh đề », chỉ kể ra các phân cú

 

* Trang 85 *
device

thì ta không hiểu được cơ cấu trong câu, mà cũng không bổích gì cho người học. Trái lại, dùng phương pháp tổng hợp thì rất giản dị.
Ta hãy ngắt câu đến Đông Chu : « Tài liệu . . . Đông Chu ». Tổ hợp gồm có hai phân cú đẳng lập, là : « Tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc Sách tuy không đáng tin » và « Nhưng [tài liệu ấy] cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung hoa thời Đông Chu ».
Phần còn lại, « (vì) dù tác giả . . . xã hội » gồm ba phân cú mật thiết với nhau thành một toàn bộ : ý « dù tác giả của bộ đó có tưởng tượng các mưu mô, các lời biện thuyết của bọn biện sĩ », và ý « để [tài liệu ấy] không trái ngược với cảnh huống xã hội », đều phụ vào ý « ít nhất [họ] cũng phải dự một phần nào vào sự thực ».
Mặt khác, cả tổ hợp gồm ba phân cú nói trên, lại phụ vào ý « [tài liệu ấy] cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung hoa thời Đông Chu». Tóm lại, ta phân chia câu trên ra hai phần : phần thứ nhất gồm một phân cú là phân cú thứ nhất ; phần thứ hai gồm bốn phân cú còn lại :
Phần I             Chủ ngữ ; tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc Sách ;
Thuật ngữ : không đáng tin
(Quan hệ từ : tuy . . . nhưng)
                        Chủ ngữ : [tài liệu ấy]
Phần II            Thuật ngữ : cũng cho ta hiểu tình trạng xã hội Trung Hoa thời Đông Chu
                        Bổ ngữ nguyên nhân : (vì) dù tác giả của bộ đó… cảnh huống xã hội.
 
 
 

* Trang 86 *
device

Kết luận :      
30. Chúng ta đã giải thích học thuyết của F. de Saussure trong Cours de Linguistique générale, và chúng ta đã lấy những điểm sở đắc để sửa lại ngữ pháp cổ điển.
Phương pháp chúng ta nghiên cứu ngữ pháp Việt nam, dựa vào hai điểm chính : phân biệt dứt khoát từ tính với từ vụ và phân biệt từ vụ chính với từ vụ thứ. Về điểm thứ nhì, chúng ta đã giải thích đầy đủ ở mục « Từ vự và quan hệ các từ trong câu » (đ. 25-27).
Về điểm thứ nhất, như chúng ta đã nói ở điều 24, chúng ta tránh sự lầm lẫn trong phương pháp cổ điển, là phân định từ tính mà căn cứ vào hai, ba tiêu chuẩn khác nhau, không phân biệt dứt khoát từ tính với từ vụ. Chúng ta phân định từ tính chỉ theo có một tiêu chuẩn. Từ tính là một hệ thống, từ vụ là một hệ thống khác. Mỗi hệ thống chỉ có một căn cứ duy nhất.
Cũng về điểm thứ nhất, chúng ta không theo Saussure mà gạt từ tính ra ngoài ngữ pháp (đ.9). Tuy rằng từ vụ quan trọng hơn từ tính (đ.25), nhưng từ tính và từ vụ có liên quan với nhau để cấu tạo nên câu. Tùy theo từ tính mà một từ có khả năng giữ những từ vụ gì hay không thể giữ từ vụ gì. Thí dụ, cả hai loại, thể từ và trạng từ, đều có thể dùng làm thuật ngữ nhưng chỉcó thể từ có thể dùng làm chủ ngữ.
Hai điểm trên là phương châm mà người viết bài này đã theo khi soạn quyển Khảo luận về Ngữ pháp Việt nam (49) và
 
(49) Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, Khảo luận về Ngữ pháp Việt nam, Viện Đại học Huế xuất bản, 1963, khổ 15x23 cm, 718 trang
 
 
 

* Trang 87 *
device

quyển Structure de la Langue Vietnamienne (50). Đó cũng là phương châm để soạn quyển Sơ lược Ngữ pháp Việt nam theo phương pháp tổng hợp (cho bậc trung học) và Giáo trình Ngữ pháp Việt nam (cho bậc đại học).
TRƯƠNG VĂN CHÌNH
(28-6-1971)
 
 
 
TRIỂN LÃM TRANH
                        NỮ HỌA SĨ
BÉ KÝ
khai mạc ngày 9-12-1971
tại PHÁP VĂN ĐỒNG MINH HỘI
24, Gia Long – Saigon
 
Giờ mở cửa :
Sáng         9h – 12h
Chiều       16h – 19h30
(50) Trương Văn Chình, Structure de la Lan que vietnamienne, trong « Publications du Centre Universitaire des Langues Orient aies vivantes», Paris, 1970, khổ 15, 5x21 cm., XVI + 178 trang.
 
 
 

* Trang 88 *
device

đoạn trường vô thanh
□ PHẠM THIÊN THƯ


1.    giải cung nghiệp vận
I.          lòng như hoa ni mây xanh,
thân như sương tụ trên cành Đông mai.
 
cuộc đời chớp loé, mưa bay,
càng đi, càng kiếm, dặm dài nỗi không.
 
tham mê là lụy trn hng,
ngàn muôn mạch sui từ lòng dy lên.
 
giam trong giả dạng, giả tên,
trăm năm nào dễ một ln thoát ra.
 
đoạn trường ai chut dư ba,
I0.       năm cung nước chy lại sa phận mình.
 
mưi lăm năm ấy lênh đênh,
thế tình đã vượt giả, chân cõi ngoài.
 
sổ thiêng ty nước sông này,
Tiền đưng sóng cuộn, mây bay vật vờ.
 

* Trang 89 *
device

đền nhau tơ tóc duyên xưa,
ba năm—cuộc rượu canh c thế thôi.
 
ý người nào khác mây trôi
chốn xa tìm đến, đến ri lại đi,
 
dưới hoa ln lữa cm kỳ,
20.       chén quỳnh rượu lạnh, câu thi biếng vn.
 
trước còn nể nguyệt, ươm xuân,
lần hổi li cũ sương ngn hạt sa.
 
kể từ hương la một nhà,
bao năm bóng nhạt, đậm đà lại hơn.
 
2. như kẻ tìm mây
Kiu xưa như suixa nguồn,
đá hoa in dáng, trăng buồn ngùi theo.
 
bến sương, la phố, non chiều,
vó lang thang ngựa, tiêu điều bụi bay.
 
chàng Kim như tỉnh như say,
30.       mây xuôi nhớ tóc, hoa lay nhớ người.
 
            lời thề xuân đượm đào tươi,
            duyên bay bọt sóng chim trời gặp nhau.
 
 
 

* Trang 90 *
device

hoa xưa in đáy dòng su,
ngừ đâu sui đã nhạt mu thi gian.
 
trăng nao buông vng tơ đàn,
chừ nghe h hững như làn khói bay.
 
lò trm ai cha ngừng tay,
mà sao hơi lạnh như ngày chm thu.
 
sầu tình thoảng gic hương trưa,
40.       tỉnh thôi, thôi lại, ơ hờ lòng không
 
tưng đàn xưa nỗi tơ đổng,
ngỡ thuyền trăng đậu bến hồng cõi tiên.
 
giữ sao yên dưới, vẹn trên,
hai cành đào cúc, tỏ viển trăng soi.
 
PHẠM THIÊN THƯ
 
 
 

* Trang 91 *
device

 
Tư Tưởng Số 9 (Năm 1971)