LOGO VNBET
VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC
CĂN BẢN TRONG
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGHIỆP
 

NGUYỄN CHUNG TÚ
 
 
 
 
NĂM 1971 mở đầu đệ nhị thập niên về phát triển do Liên hiệp quốc khởi xướng. Nói đến phát triển là người ta nghĩ đến Kinh tế tài chánh, Canh nông điền địa, Y tế xã hội, Giao thông vận tải, ít ai để ý rằng nguồn gốc của mọi phát triển là Khoa học và phát triển cao quý nhất là phát triển Giáo dục.
Bất cứ công dân nào cũng xuất thân từ một trường học, cho nên giáo dục chi phối sự hưng vong của một quốc gia. Thế mà đa số các nhà giáo, nhất là ởÁđông, theo một truyền thống Khổng Mạnh, ít khi thổ lộ những vui buồn của nghề mình nên
 

(1) Diễn văn đọc trong dịp lễ phát bằng tốt nghiệp tại Nha Y khoa Đại hoc Saigon, ngày 31-7-71.

 

* Trang 16 *
device

những vấn đề giáo dục mấy khi được quảng đại quần chúng chú ý. Hơn nữa, những hậu quả tai hại về giáo dục không bộc phát tức thời như một bệnh dịch, mà lại âm ỷ,mươi mười lăm năm sau mới hiện ra, khi chính các lý do của sự suy đồi không còn nữa.
Ông Tổng Giám đốc Cơ quan Quốc tế Giáo dục, Khoa học, Văn hóa đã nói năm ngoái, là năm quốc tế giáo dục : « Ngày nay, không nên tiếp tục quan niệm giáo dục như là sự sửa soạn vào cuộc đời, mà nên quan niệm giáo dục như là một khía cạnh của cuộc đời, có đặc tính là thu thập liên tục những điều hiểu biết và xé đi xét lại tất cả các quan điểm ».
Theo Marcel Rioux, giáo sư tại Viện Đại học Montréal, giáo dục ngày nay là tìm tới những phương cách mới để cho các công dân ham muốn dự phần vào việc thiết lập những giá trị mới, là giúp đỡ dân chúng hiểu biết về môi trường xung quanh và cùng nhau cấu tạo một xã hội nhân đạo hơn.
Trong xã hội hiện đại, sự cần thiết chuyên môn càng ngày càng tăng nên sự chuyên biệt ở đại học là điều đương nhiên nhưng chính vì sự gắn bó giữa con người—dù con người đó là một chuyên viên—với xã hội xung quanh như đãnóiở trên, mà trước khi hấp thụ những kiến thức chuyên môn, một chuyên viên phải được huấn luyện rộng rãi hơn, tổng quát hơn. Nên học vấn này chính là Khoa học căn bản, hiểu theo nghĩa rộng.

 
*
* *
Nền học vấn căn bản này không thể hoàn toàn đặt ở bậc Trung học được, vì với đà tiến triển của văn minh nhân loại, những ứng dụng của Khoa học vào đời sống hằng ngày càng ngày càng nhiều và phức tạp. Cách đây một thế hệ, một thiếu niên học hết bậc Trung học đệ nhất cấp có thế hiểu được nguyên

 

* Trang 17 *
device

tắc của các vật dụng hay máy móc ở xung quanh như đèn điện, bàn ủi, máy chiếu bóng v.v . . . Ngày nay một thanh niên đậu tú tài chưa chắc đã hiểu thấu nguyên tắc đèn ống, tủ lạnh, vô tuyến truyền hình, v.v...
Chính nên học vấn căn bản này làm cho cơ cấu hiện nay của các đại học chia ra thành nhiều Phân khoa riêng biệt và cô lập trở nên lỗi thời.
Ai cũng biết Toán học cần thiết cho Kinh tế học, Lý Hóa Sinh cần thiết cho Y học và Nha khoa, Luận lý học và Lịch sử Khoa học cần thiết cho Khoa học, Địa chất học cần thiết cho Địa Lý học, và Sinh ngữ cần thiết cho tất cả mọi người.
Với những phương tiện giao thông và truyền tin càng ngày càng nhanh chóng, thế giới uhư thu hẹp lại, các liên lạc quốc tế trở nên mật thiết thành ra ngày nay khólòng mà phân biệt được vấn đề nào hoàn toàn quốc gia, vấn đề nào có tính cách quốc tế. Vì lẽ đó, ngay công dân những đại cường quốc có cái may mắn thấy tiếng mẹ đẻ vượt biên giới và được trọng dụng ở xứ người mà cũng còn cần học ngoại ngữ, huống chi những dân tộc mà tiếng nói không phải là những tiếng quốc tế !
Toán học ngày nay cũng quan trọng như vậy, đến nỗi người ta không coi nó là một môn trong Khoa học mà tách rời nó ra như là riêng biệt với Khoa học. Toán học ngày nay xâm nhập vào tất cả các môi trường hoạt động của một quốc gia và thành kiến cho rằng Toán học chỉ dành riêng cho một số người thiên phú đã hoàn toàn lỗi thời. Ở những nước mà Tân Toán học được giảng dạy xen kẽ với các trò chơi ngay từ các lớp mẫu giáo, nếu học sinh cứ được học đều đều mãi lên thì Toán học cũng dễ dàng như các môn khác. Vị trí độc đáo của Toán học
 
 
 

* Trang 18 *
device

là do trình độ rất cao của hầu hết các Khoa học, ngày nay đã tới giai đoạn định lượng, cần đến những con số, và có thể trình bày các loại cơ cấu kiến trúc căn bản, do đó Toán học có thể giúp ích để khảo sát các liên hệ giữa những cấu trúc ấy.
Ở những nước mà sự chuyên môn hóa đã được xúc tiến rất xa, ngày nay người ta lại thấy rằng có nhiều chuyên viên quá, mỗi chuyên viên biết rất sâu xa về một vấn đề rất hẹp, nhưng không có ai để phối hợp công việc làm của các chuyên viên đó và người ta thấy cần đào tạo, huấn luyện những nhân viên có lẽ biết nông cạn hơn về mỗi vấn đề nhưng biết nhiều vấn đề hơn : đó chính là những chuyên viên về Khoa học căn bản.
Vì Khoa học căn bản cũng có nhiều cấp, Khoa học ở bậc Trung học đệ nhất cấp là khoa học căn bản cần cho một Cán sự, Khoa học ở bậc Tú tài cũng là Khoa học căn bản cần để cho một Phó Kỹ sư, Khoa học ở bậc cử nhân cũng là Khoa học căn bản cần cho một Kỹ sư, và Thạc sĩ Khoa học cùng là một người đã hấp thụ được một nền Khoa học căn bản rất cao.
Trong phần chuyên nghiệp cũng có Khoa học căn bản gọi là Kỹ thuật học căn bản, như Sinh lý, Mô học, Phôi thai học, Di truyền học đối với Y học ; sức bền của vật liệu đối với Kỹ thuật Kiều lộ, Hải công, Viễn thông ; Cơ học Lưu thủy ứng dụng đối với Khí tượng học, Công chánh, Công nghệ, Không vận v.v . . .
*
*          *
Chính vì tầm quan trọng độc đáo của Khoa học căn bản ở mọi cấp mà các môn học này phải được phổ biến sâu rộng, sau bậc Tú tài, như một giáo dục thường xuyên. Cái lợi thứ nhất
 
 
 

* Trang 19 *
device

là tìm tòi và khuyến khích các thành phần ưu tú tiếp tục học lên trên, nếu không họ cóthể bỏ dở vì hoàn cảnh gia đình hay xã hội. Cái lợi thứ nhì là hướng dẫn được sinh viên vừa mới qua ngưỡng cửa Đại học, theo khả năng của họ và nhu cầu của đất nước. Ở đời, nếu không có ai hoàn toàn hay thì cũng khôngcó ai hoàn toàn dở. Thất bại là do không dùng khả năng đúng chỗ và hướng dẫn là một nhiệm vụ rất quan trọng của giáo dục. Nhu cầu của đất nước cũng là một yếu tố quan trọng. Thanh niên tri thức ngày nay phải là chuyên viên về ngành này hay ngành khác, từ Kỹ thuật cho tới Mỹ thuật, để phục vụ cho xứ sở chứ không thể là những cây cảnh bày cho đẹp mắt và Đại học không thể là một khu vườn hoang, mạnh cây nào cây ấy mọc.
Muốn tránh cảnh đó, thiết tưởng trong giai đoạn đầu, tổ chức giảng huấn và chương trình các môn căn bản ở nhiều Phân khoa phải tương đồng. Có như vậy, sinh viên mới cóthể dễ dàng chuyển hướng và đổi chỗ từ Phân khoa này sang Phân khoa khác. Về phần giáo sư cũng vậy : tổ chức giảng dạy và chương trình Khoa học căn bản ở mọi nơi có tương đồng thì một giáo sư mới dễ dàng từ Phân khoa này sang Phân khoa khác hay từ quốc gia này sang quốc gia khác giảng dạy.
Trong giai đoạn sau, sự hợp tác giữa các Phân khoa trong một nước hay trong nhiều nước cóthể mật thiếthơn nữa, thí dụ về phương diện dụng cụ giảng huấn ; dụng cụ khoa học ngày nay — dù là Khoa học căn bản đi nữa — cũng rất đắt tiền, cóthể một Phân khoa không sắm nỗi, mà nếu có, một năm chỉ dùng một lần thì thật là phao phí chi bằng các Phân khoa chung nhau mua một số dung cụ đắt tiền nhưng cần thiết và sử dụng chung.

 

* Trang 20 *
device

Để thực hiện vấn đề phổbiến sâu rộng Khoa học căn bản, những biện pháp sau đây cóthể được áp dụng :
Nên phân biệt sinh viên thuần túy và những sinh viên, vì quá tuổi hay vì kế sinh nhai, vừa là sinh viên vừa là công tư chức, hay quân nhân ; ngoài ra lại còn có những sinh viên tráng niên có địa vị rồi, nhưng vì ham thích Khoa học hiện đại cũngghi danh nhưng không vội vã lấy văn bằng... Nếu loại sinh viên thứ nhất đi học đều đều ban ngày và có thể theo chương trình chia ra từng năm như ở các trường Cao đẳng hay một vài Phân khoa, loại sinh viên thứ nhì cóthể theo học các lớp tối, nhất là khi khí hậu lại thích hợp, và chế độ chứng chỉ nhỏ riêng biệt như hiện nay có thể tiếp tục được áp dụng. Đối với các sinh viên tráng niên nên thi hành chế độ tín chỉ hay học phần trong các lớp tối.
Hay là trong các khóa học hè. Ta cóthể chia một năm ra làm ba « học kỳ » (từ tháng 10 tới Tết, từ tháng 2 tới tháng 5 và từ tháng 6 đến tháng đến tháng 9) và một sinh viên sẽ theo hai trong ba học kỳ nói trên. Các khóa học hè ngày nay rất thịnh hành ở các Đại học trên thế giới : riêng đối với nước ta có hai điều lợi : trước hết những tháng hè không phải là những tháng nóng nhất trong năm ; sau nữa, các giáo sư ngoại quốc và các kiều bào thành tài ở xứ ngoài sẽ dễ dàng tới cộng tác với chúng ta trong một thời gian giới hạn.
Các thanh niên tật nguyền, các phế binh hiếu học có thể ghi tên theo học các lớp hàm thụ nhờ những máy móc tối tân phổ biến tài liệu rất nhanh chóng nhờ vô tuyến truyền thanh và truyền hình.
 
 
 

* Trang 21 *
device

Nền học căn bản nói trên không bắt buộc phải đặt ở một Viện Đại học có sẵn mà có thể giảng dạy ở các thành phố đã có các trường Trung học đệ nhị cấp, như ở các nước Âu mỹ đã làm từ lâu. Như vậy, các học sinh học hết bậc Trung học có thể tiếp tục học lên Đại học mà không bắt buộc phải về trú trọ tốn kém ở các thành phố lớn là nơi mà xa gia đình họ dễ bị sa ngã hơn. Các trường Trung học do Cơ quan Văn hóa bạn giao trả, các cơ sở quân sự do Đồng minh nhượng lại, đều có thể biến thành trung tâm địa phưong về Khoa học căn bản.

*
*          *

Tôi vừa trình bày sự quan trọng của Khoa học căn bản trong giáo dục chuyên nghiệp và sự cần thiết cũng là những biện pháp phổ biến sâu rộng nền học vấn căn bản đó.
Học vấn căn bản không những giúp cho chuyên viên cócó những kiến thức tổng quát cần thiết cho ngành chuyên môn của mình mà còn khiến cho chuyên viên theo kịp đà tiến triển toàn diện của văn minh hiện đại và nhưvậy chuyên viên sẽ hòa mình vào đời sống chung của cộng đồng dân tộc và thế giới. Nếu chính sách « bế môn tỏa cảng » đã hoàn toàn lỗi thời thì phương châm « tháp ngà » cũng không còn hợp thời nữa. Bỏ sách vở ra, xa máy móc, chuyên viên cũng chỉ là một công dân như hàng triệu công dân khảc, vui buồn những mối vui buồn chung của dân tộc và nhân loại.

 

* Trang 22 *
device

Được như vậy thì giáo dục mới đạt tới mục đích tối hậu, nghĩa là như nhà triết học số một của Ấn độ hiện đại, Sri Aurobindo, đã từng nói : « Giáo dục là giúp đỡ linh hồn đang nẩy nở phát huy những cái gì tốt đẹp nhất, là hoàn bị linh hồn hướng về những nhiệm vụ cao quý nhất ».

NGUYN CHUNG TÚ
 
 
 

* Trang 23 *
device

 
Tư Tưởng Số 9 (Năm 1971)